1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập đọc

30 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 279 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước đầu biết đọc thầm, biết dùng mục lục sách giáo khoakhi đọc và hiểu được ý chính của đoạn văn vừa đọc.Theo chuẩn kiến thức kĩ năng, tốc độ đọc cần đạt của học sinh lớp 2 ở mỗihọc kì

Trang 1

MỤC LỤC

I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 2

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 4

2.1 Nội dung chương trình Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 4

2.2 Việc giảng dạy của giáo viên 5

2.3 Việc đọc của học sinh 5

3 BIỆN PHÁP DẠY HỌC 6

3.1 Khảo sát và phân loại học sinh 6

3.2 Thực hiện tốt các công việc chuẩn bị của giáo viên và học sinh 6

3.3 Vận dụng linh hoạt, hợp lý các biện pháp luyện đọc 7

3.4 Luyện đọc thông qua bước luyện đọc lại 15

3.5 Luyện đọc thông qua nhóm học tập và hoạt động tập thể 16

3.6 Luyện đọc thông qua một số trò chơi 18

3.7 Hướng dẫn tìm hiểu bài 21

3.8 Vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học 23

4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 24

4.1 Giáo viên 24

4.2 Học sinh 24

III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 26

1 KẾT LUẬN 26

2 KHUYẾN NGHỊ 27

2.1 Đối với các cấp quản lí 27

2.2 Đối với nhà trường 27

2.3 Đối với phụ huynh 27

2.4 Đối với giáo viên 27

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạtđộng ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong 4dạng hoạt động tương ứng với 4 kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết Tập đọc là mộtphân môn của môn Tiếng Việt bậc Tiểu học Đây là một phân môn có vị trí đặc biệttrong chương trình vì nó đảm bảo nhiệm vụ việc hình thành và phát triển cho họcsinh kĩ năng đọc - một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc học đầu tiêntrong trường phổ thông Nếu không biết đọc thì học sinh không thể tiếp thu nền vănminh của loài người Con người không thể sống một cuộc sống bình thường, cóhạnh phúc trong xã hội hiện đại mà không biết đọc Hơn nữa, ở trường Tiểu học,phân môn Tập đọc có nhiệm vụ cung cấp kiến thức cho các em để học các phânmôn Tiếng Việt và là tiền đề cho học sinh học tốt các môn khác

Biết đọc con người đã nhân khả năng tiếp nhận thông tin lên nhiều lần Biếtđọc con người có khả năng chế ngự một phương tiện văn hoá cơ bản, giúp họ giaotiếp được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu tư tưởng, tình cảm củangười khác Đặc biệt, khi đọc các tác phẩm văn chương con người không chỉ đượcthức tỉnh về nhận thức mà còn rung động về tình cảm, nảy nở những ước mơ tươiđẹp Khơi dậy được năng lực hoạt động, sức mạnh sáng tạo cũng như được bồidưỡng tâm hồn Không biết đọc con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ sự giáodục mà xã hội dành cho họ Không thể hình thành một nhân cách toàn diện Đặcbiệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan trọng Nó sẽ giúpcho học sinh sử dụng các nguồn thông tin, đọc chính là học, đọc để tự học Mà

“con người” nên phải học cả đời, đọc để phục vụ bản thân cả đời Hơn thế nữa họcsinh lớp 2 hiện nay biết đọc còn để hiểu nội dung lời cô nhận xét trong bài

Mục tiêu của việc dạy và học Tập đọc ở Tiểu học là hình thành và phát triển

kĩ năng đọc đúng, đọc hiểu cho học sinh Phân môn Học vần cũng thực hiện nhiệm

vụ dạy đọc ở mức sơ bộ, nhằm giúp học sinh sử dụng bộ mã ghi âm, thông hiểu vănbản thấp chưa có hình thức chuyển thẳng từ chữ sang nghĩa (đọc thầm) Như vậy,tập đọc với tư cách là một phân môn Tiếng Việt tiếp tục những thành tựu dạy học

mà học vần đạt được nâng lên một mức đầy đủ, hoàn chỉnh hơn

Đọc đúng, hiểu văn bản là mục đích của dạy Tập đọc lớp 2 Yêu cầu đọc củahọc sinh lớp 2 trong phân môn Tập đọc là đọc đúng và rõ ràng, biết nghỉ hơi saucác dấu câu, giữa các dòng, các cụm từ, đọc trôi chảy một đoạn văn, đoạn đối thoại

Trang 3

hoặc một bài văn ngắn Bước đầu biết đọc thầm, biết dùng mục lục sách giáo khoakhi đọc và hiểu được ý chính của đoạn văn vừa đọc.

Theo chuẩn kiến thức kĩ năng, tốc độ đọc cần đạt của học sinh lớp 2 ở mỗihọc kì một khác nhau:

- Giữa học kì I: khoảng 35 tiếng / phút

- Cuối học kì I: khoảng 40 tiếng / phút

- Giữa học kì II: khoảng 45 tiếng / phút

- Cuối học kì II: khoảng 50 tiếng / phút

Việc dạy Tiếng Việt nói chung và dạy tập đọc nói riêng là góp phần quantrọng để đạt được mục tiêu giáo dục tiểu học

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

Trong thực tế cuộc sống, con người đọc rất nhiều Mỗi lĩnh vực học tập,công tác khác nhau thì mức độ đọc nhiều ít cũng khác nhau Tuy nhiên khả năngđọc và đọc hiểu cũng ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của họ Học sinh lớp 2: các

em đọc bài học, đọc bài ghi, đọc sách giáo khoa, đọc bài tập, đọc lời nhận xét, đọcthông báo, phiếu thu, đọc lịch, đọc truyện, đọc thuyết minh phim, … Các hình thứcđọc là đọc thầm, đọc thành tiếng, các em đọc để hiểu, đọc để học, …

Đầu năm lớp 2 nhiều em đọc còn đánh vần chứ chưa nói đến đọc đúng, đọchay Vì đọc chưa thông nên không thể hiểu hoặc không hiểu hết nội dung đọc Từ

đó ảnh hưởng đến nhiều vấn đề, nhất là dẫn đến kết quả học tập chưa tốt ở tất cảcác môn, vì môn nào cũng phải đọc: đọc để hiểu, đọc để làm bài, …

Yếu kém đó của học sinh không thể được khắc phục bởi những giáo viên hạnchế trong vai trò giảng dạy Hiện nay, nhiều giáo viên vẫn bị thiếu hụt kĩ năng nên

chưa làm chủ được các nội dung dạy Tập đọc: (Ví dụ: Đọc không đúng chính âm,

đọc không hay, hiểu không đúng những điều đọc được, kể cả từ, câu, đoạn và nộidung nên không thể biết được đích thông báo của văn bản) Kĩ năng cảm thụ củagiáo viên còn hạn chế, không làm chủ được các phương pháp dạy học tập đọc ởkhối lớp mình dạy Nhiều giáo viên không biết chữa lỗi phát âm cho học sinh cũngnhư không có biện pháp rèn đọc cụ thể cho từng đối tượng Cách thức tổ chức chohọc sinh tìm hiểu bài đọc và văn bản khác cũng chung chung, chưa linh hoạt

Nhận thức đúng tầm quan trọng của việc dạy Tập đọc và xuất phát từ thực tế,

bên cạnh việc dạy các môn học khác tôi luôn quan tâm suy nghĩ tìm “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập đọc” để góp phần làm trong sáng

Tiếng Việt, lành mạnh ngôn ngữ đọc

Trang 4

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tư duy con người không thể phát triển nếu thiếu ngôn ngữ Việc chiếm lĩnhngôn ngữ nhằm tạo ra những tiền đề phát triển tư duy “Ngôn ngữ là thực hiện trựctiếp tư tưởng” (Các Mác) Vì vậy phải thường xuyên luyện tập cho học sinh khảnăng diễn đạt tư tưởng của mình bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau “Ngônngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” (Lê - nin) Mục đíchnghiên cứu ngôn ngữ trong nhà trường phải giúp học sinh có thể sử dụng ngôn ngữlàm phương tiện sắc bén để giao tiếp - ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp vạn năng

Nhiệm vụ đầu tiên của nhà trường trong dạy tiếng là phát triển ngôn ngữ,khả năng nhận thức cảm tính của trẻ em Dạy tiếng phải dựa trên kinh nghiệm sống,vốn ngôn ngữ lời nói và đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi

Ngôn ngữ tiếng Việt tạo nền tảng cho môn học Tiếng Việt Phương pháp dạyhọc môn Tiếng Việt phải phát hiện được những quy định riêng, đặc thù của dạy họcTiếng Việt, chính khoa học ngôn ngữ quy định đặc thù này Những hiểu biết về bảnchất của ngôn ngữ, của Tiếng Việt có vai trò quan trọng trong việc định ra cácnguyên tắc nội dung và các phương pháp dạy học phân môn Tập đọc

Để tổ chức dạy tập đọc cho học sinh, chúng ta cần hiểu rõ về quá trình đọc,tìm hiểu bài, nắm bản chất của kĩ năng đọc, kĩ năng tìm hiểu bài, đặc điểm tâm sinh

lí của học sinh khi đọc bài và tìm hiểu bài Đọc được xem như là một hoạt động cóhai mặt mật thiết với nhau, là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện Mộtmặt đó là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cáchtrung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh Mặt khác, đó là sự vậnđộng của tư tưởng, tình cảm sử dụng bộ mã chữ - nghĩa Kỹ năng đọc là một kỹnăng phức tạp đòi hỏi có quá trình luyện tập lâu dài Phương pháp dạy tập đọc phảidựa trên những cơ sở ngôn ngữ học, liên quan mật thiết với một số vấn đề của ngônngữ học như: chính âm, chính tả, chữ viết, ngữ điệu (thuộc ngữ âm học) dấu câu,các kiểu câu (thuộc ngữ pháp học) Dạy tập đọc phải dựa trên những kết quả nghiêncứu của ngôn ngữ học, việt ngữ học để xây dựng xác lập nội dung và phương phápdạy học Không coi trọng đúng mức những cơ sở này, việc dạy học sẽ mang tínhtuỳ tiện và không đảm bảo hiệu quả

Mặt khác, hiện nay những kết quả nghiên cứu của Việt ngữ học - Trung tâmphổ biến và giảng dạy ngôn ngữ còn hạn chế, chưa đáp ứng được những đòi hỏi củaphương pháp, làm cho phương pháp dạy tập đọc không tránh khỏi những lúng túngkhi giải quyết những vấn đề về đọc đúng, đọc hiểu, đọc hay

Trang 5

Ví dụ: Chưa thống nhất được một chuẩn chính âm, không giải quyết vấn đề

phát âm địa phương một cách có nguyên tắc Không có được những chỉ dẫn cụ thểcho học sinh đọc mà đành lòng với cách nói chung chung, hời hợt như là thơ đượcđọc với giọng thiết tha, sôi nổi Điều này gây nên những khó khăn nhất định trongviệc xác lập nội dung và phương pháp dạy tập đọc

Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị tiếngViệt, đọc đúng các phụ âm đầu, đọc đúng các âm chính, đọc các âm thanh điệu, thể hiện đúng ngữ điệu: lên giọng, xuống giọng, nhấn giọng ngắt hơi, đúng nộidung ý nghĩa của từ, câu, đúng chức năng của văn bản, như vậy đọc đúng đã baogồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm, bởi đọc diễn cảm là sử dụng sự ngữ điệu

để phô diễn cảm xúc của bài tập đọc Hoà nhập với bài văn, bài thơ có cảm xúc sẽtìm thấy ngữ điệu thích hợp, vì thế đọc giúp các em chiếm lĩnh được một ngôn ngữ

để dùng trong giao tiếp và tạo ra hứng thú, động cơ học tập

Đối với học sinh lớp 2 đọc đúng là một yêu cầu cơ bản và cần thiết Đọc tốt

sẽ giúp các em có khả năng cảm thụ văn học tốt, nhận thức được tác phẩm mộtcách phong phú và sâu sắc hơn Mỗi bài tập đọc là một tác phẩm nghệ thuật màthông qua mỗi bài học, học sinh cảm nhận được cái hay cái đẹp, từ đó có thái độhành vi đúng đắn, bồi dưỡng cho các em những tư tưởng tình cảm trong sáng, tìnhyêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên, con người Đọc tốt giúp các em có kĩnăng phân tích tổng hợp kiến thức về tự nhiên xã hội một cách đầy đủ, chính xáchơn Như vậy dạy đọc có một ý nghĩa to lớn vì nó có cả nhiệm vụ giáo dưỡng, giáodục và phát triển, góp phần vào việc hình thành nhân cách của các em

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1 Nội dung chương trình Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2

Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 được xây dựng theo 2 trục: chủ điểm và kĩ năng.Trong đó chủ điểm được lấy làm khung cho cả cuốn sách, còn kĩ năng được lấy làmkhung cho từng tuần, từng đơn vị học Chương trình gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vịhọc gắn với một chủ điểm Cụ thể sách giáo khoa Tiếng Việt 2 gồm 2 tập với 15chủ điểm:

* Tập 1 gồm 8 chủ điểm, học trong 18 tuần:

- Tuần 1; 2: Em là học sinh

- Tuần 3; 4: Bạn bè

- Tuần 5; 6: Trường học

- Tuần 7; 8: Thầy cô

- Tuần 9: Ôn tập giữa học kì I

Trang 6

- Tuần 10; 11: Ông bà

- Tuần 12; 13: Cha mẹ

- Tuần 14; 15: Anh em

- Tuần 16; 17: Bạn trong nhà

- Tuần 18: Ôn tập cuối học kì I

* Tập 2 gồm 7 chủ điểm, học trong 17 tuần

- Tuần 19; 20: Bốn mùa

- Tuần 21; 22: Chim chóc

- Tuần 23, 24: Muông thú

- Tuần 25; 26: Sông biển

- Tuần 27: Ôn tập giữa học kì II

- Tuần 28; 29: Cây cối

- Tuần 30; 31: Bác Hồ

- Tuần 32; 33; 34: Nhân dân

- Tuần 35: Ôn tập cuối học kì II

Trong 35 tuần học, mỗi tuần học có 9 tiết Tiếng Việt Trong các tuần học,mỗi tuần có 3 tiết tập đọc (không kể các tuần 9; 18; 27 và 35 - ôn tập) Như vậyviệc dạy học sinh học tốt phân môn Tập đọc là vô cùng quan trọng Hơn thế nữakhông giờ học nào mà không cần học sinh đọc và hiểu văn bản

2.2 Việc giảng dạy của giáo viên

Nhìn chung, mỗi giáo viên đã nhận thức được vị trí vai trò của phân môn Tậpđọc, đặc biệt là việc trang bị kiến thức ngôn ngữ để các em có điều kiện thuận lợivận dụng thực tế và giao tiếp góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Song thực tế giảng dạy phân môn này còn có những bất cập cần phải quantâm khắc phục Nhiều giáo viên chỉ chú ý trong giờ tập đọc có bao nhiêu em đượcđọc (càng nhiều càng tốt) mà chưa quan tâm đến chất lượng đọc Bên cạnh đó cầnnhắc đến sự hạn chế trong việc nắm kiến thức bài, kĩ năng đọc của giáo viên dẫnđến tình trạng rèn đọc gây cản trở đến việc nhận thức của học sinh Việc sử dụng

trực quan trong quá trình luyện đọc còn hạn chế, ít tường minh (Ví dụ: Việc đưa

các kí hiệu hướng dẫn đọc trong đoạn luyện đọc không phải bất cứ giáo viên nào,không phải giờ nào cũng thực hiện được tốt) Đối với lớp 2 giáo viên dạy thườngchú ý nhiều đến việc đọc bài của học sinh mà phần tìm hiểu bài có khi bị xem nhẹ

2.3 Việc đọc của học sinh

Do thực tế giảng dạy như đã nêu ở trên nên việc học tập đọc của học sinhchưa đạt kết quả mong muốn Đa số ở mức độ đọc trơn (không kể đến một số em

Trang 7

còn đọc ngọng, đọc ê a) hoặc chỉ đọc đúng, đọc đều đều, đọc không có ý thức, hiểubài chưa sâu.

Khi đọc một đoạn văn (bài văn) hay một đoạn thơ (bài thơ), đa số học sinhthường đọc một mạch cho xong bài, đọc cho hết hơi thì nghỉ lấy hơi, ít quan tâmđến việc nghỉ hơi và ngắt nhịp đúng Đồng thời, khi đọc, các em ít chú ý đến giọngđọc, nên các em thường đọc với giọng đều đều, ít hoặc không có ngữ điệu Nhưvậy, có thể thấy rằng thực tế hiện nay, đa số học sinh chỉ mới dừng lại ở mức đọcđúng, đọc trôi, rất ít học sinh đạt đến mức đọc hay Càng ít những học sinh quantâm đến việc hiểu bài tập đọc cũng vì thế nên các em làm bài đọc hiểu chưa tốt

Chất lượng đọc chưa cao còn bởi lí do sau:

- Bản thân các em chưa chăm đọc sách, đọc báo và không chịu khó rèn đọc

- Phụ huynh học sinh chưa quan tâm đến việc rèn đọc, việc hiểu bài đọc củacác em, chỉ chú trọng vào việc đọc đúng, đọc nhanh là được

3 BIỆN PHÁP DẠY HỌC

3.1 Khảo sát và phân loại học sinh

Để nắm được khả năng đọc của từng học sinh ngay từ khi bắt đầu nhận lớptôi tiến hành tìm hiểu, phân loại học sinh bằng cách kiểm tra kĩ năng đọc tiếng vàđọc hiểu của lớp

Tôi trao đổi với giáo viên chủ nhiệm cũ của các em để nắm bắt tình hình,hiểu thêm đặc điểm và trình độ từng đối tượng Từ những kết quả và chứng cứ tôilập kế hoạch dạy tập đọc, xây dựng nhóm học tập, phân công học sinh khá giúp đỡhọc sinh yếu

3.2 Thực hiện tốt các công việc chuẩn bị của giáo viên và học sinh

Việc chuẩn bị của giáo viên có vai trò quyết định tới sự thành công của tiếtdạy Để dạy tập đọc tốt giáo viên cần:

- Nắm chắc mục tiêu môn Tiếng Việt và mục tiêu phân môn Tập đọc

- Xác định được vị trí của bài tập đọc sẽ dạy trong hệ thống chương trình

- Đọc kĩ bài và có thể đọc cho thuộc bài tập đọc đó

- Lựa chọn phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với bài và đối tượnghọc sinh cũng như điều kiện thực tế

- Tự trả lời các câu hỏi tìm hiểu bài

- Dự kiến những tình huống có thể xảy ra trong tiết dạy và cách xử lý tìnhhuống đó

- Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với mục tiêu và đối tượng học sinh,soạn bài, chuẩn bị đồ dùng và phương tiện dạy học

Trang 8

- Thiết kế trò chơi, câu đố gây hứng thú cho học sinh khi học.

- Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài trước giờ học

Để các em tiếp thu bài giảng, nắm bắt bài học một cách tốt nhất, phát huytính tích cực sáng tạo của học sinh trước mỗi bài tập đọc tôi đều yêu cầu các emphải chuẩn bị kỹ ở nhà hoặc trong tiết hướng dẫn học Cụ thể như sau:

+ Đọc kĩ bài từ 5 đến 7 lần

+ Tìm hiểu nội dung giải nghĩa từ ở cuối bài

+ Tập trả lời câu hỏi cuối bài và rút ra nội dung chính của bài

+ Chia đoạn và tìm cách đọc phù hợp cho đoạn, hoặc khổ thơ, cho bài

+ Đối với bài thơ các em cần tìm cách ngắt nhịp phù hợp

3.3 Vận dụng linh hoạt, hợp lý các biện pháp luyện đọc

“sắc”, hoặc sai phụ âm đầu l/n,

Khi học sinh đọc, tôi yêu cầu cả lớp cùng theo dõi, đọc thầm theo bạn để các

em luyện đọc thầm và phát hiện ra lỗi sai của bạn, để nhận xét bạn đọc và sửa lỗicho bạn, tự sửa lỗi cho mình Tôi yêu cầu học sinh đọc sai tự sửa hoặc sửa lỗi trựctiếp cho từng em Với lỗi phát âm, tôi sửa cho học sinh bằng cách luyện đọc theomẫu hoặc có thể dựa vào cách phát âm để sửa cho các em

Ví dụ: Khi dạy bài “Trên chiếc bè” - (Sách Tiếng Việt 2 tập 1- trang 34) học

sinh phát âm sai phụ âm đầu (l thành n; n thành l) ở các từ: lá, lại, làm, dòng nước, nước, nằm, làng, luôn luôn, bãi lầy, mắt lồi, lăng xăng

Đây là lỗi sai khi nói lẫn lộn phụ âm đầu l/n do cách phát âm của địa phương

mà nhiều học sinh trong lớp mắc phải Tôi thường cho một hoặc hai học sinh đọcchuẩn đọc lại hoặc giáo viên đọc mẫu lại từ học sinh đọc sai và yêu cầu em nào đọcsai phát âm lại Trường hợp học sinh sửa 2 - 3 lần không được, tôi đã dùng trựcquan mô tả âm vị và hướng dẫn học sinh quan sát, xác định xem mình đang đọc âm

vị nào (Ví dụ: Vì âm “n” là âm mũi, khi phát âm sờ tay vào mũi thấy rung Ngược lại, khi bịt mũi không thể đọc được các từ: dòng nước, nước, nằm) (Ví dụ: giáo

viên đọc mẫu âm “l”, các em quan sát mẫu xong mô tả lại phần làm mẫu của giáoviên Khi đọc lưỡi cong lên, đặt đầu lưỡi lên trên vòm miệng nhưng khi kết thúc thì

Trang 9

hơi đẩy lưỡi ra ngoài Còn khi đọc âm “n” lưỡi cong lên và rụt lại để phát ra âm).

Với cách luyện như vậy sẽ giúp học sinh đọc các tiếng có phụ âm đầu l/n

Ví dụ: Cho học sinh luyện đọc các câu (có nhiều tiếng chứa phụ âm l/n):

- “Anh ta leo lên lưng chim, chim đập cánh ba lần mới lên nổi.”

- “Anh nuôi làm lụng bên bếp lửa

Vừa nấu vừa nếm hết nửa nồi”

Đối với học sinh đọc sai dấu thanh: thanh “hỏi” thành thanh “nặng”, thanh

“ngã” thành thanh “sắc”

Ví dụ: “trở nên” thành “trợ nên”, “than thở” thành “than thợ”, “sững sờ”

thành “sứng sờ”, “trả lời” thành “trạ lời”, “nghĩ sao” thành “nghí sao”

Tôi đã hướng dẫn học sinh cách đặt vị trí của đầu lưỡi khi phát âm lên cáctiếng “trở”, “thở”: đầu lưỡi đặt lên vị trí hàm trên, hai môi khép kín, khi đọc lưỡibật xuống và phát âm Còn đối với các tiếng “trợ”, “thợ” nếu khép môi như trên thìkhông thể phát âm được

Đối với lỗi này học sinh mắc ít hơn lỗi phụ âm đầu l/n nhưng cách sửa khókhăn hơn nhiều Đòi hỏi giáo viên phải kiên trì và có lòng quyết tâm cao cùng với

nỗ lực của học sinh và sự phối kết hợp của phụ huynh Vì ngoài việc dạy học sinh ởtrên lớp thì cách nói năng hàng ngày cũng cần phải đúng Không những thế tôi traođổi và hướng phụ huynh cách luyện cho các em tập nói đúng, đọc đúng ở nhà

Đọc đúng bao gồm cả đúng tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điệu câu Việcngắt nghỉ hơi rất quan trọng trong quá trình luyện đọc và đọc đúng Vì không ai cóthể đọc cả một đoạn, một bài mà không ngắt nghỉ hơi Nếu không ngắt nghỉ hơiđúng đọc sẽ không hay mà còn khó nghe, sai nghĩa Vì thế không thể thiếu phầnluyện đọc câu dài trong giờ tập đọc lớp 2

Ví dụ: Bài “Sáng kiến của bé Hà” cần hướng dẫn học sinh ngắt, nghỉ hơi

câu dài như sau:

“Hai bố con bàn nhau// lấy ngày lập đông hằng năm/ làm “ngày ông bà”/vìkhi trời bắt đầu rét,/ mọi người cần chăm lo cho sức khoẻ/ cho các cụ già.//

Món quà ông thích nhất hôm nay/ là chùm điểm mười của cháu đấy.//

Cần phải dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơicho đúng, khi đọc không được tách một từ ra làm hai

Ví dụ: Không đọc: Mỗi khi cầm/quyển sách, cậu chỉ đọc/vài dòng đã

ngáp/ngắn ngáp dài rồi bỏ dở/

Đọc: Mỗi khi cầm quyển sách,/cậu chỉ đọc vài dòng đã ngáp ngắn/ngáp

dài,/rồi bỏ dở//

Trang 10

Nhà em/ vẫn tiếng ạ ời//

Kẽo cà tiếng võng/ mẹ ngồi mẹ ru//

Không tách từ chỉ loại với danh từ, cụm danh từ, cụm danh từ mà nó đi kèm

Ví dụ: Cái/ đồng hồ tích tắc báo phút, báo giờ.

Trên/ quảng trường Ba Đình lịch sử, lăng Bác uy nghi mà gần gũi

Không tách động từ - hệ từ “là” với danh từ đi sau nó

Không đọc: - Đây/ là phần thưởng/ cả lớp đề nghị tặng/ bạn Na.//

Đọc: - Đây là phần thưởng/ cả lớp đề nghị tặng bạn Na.//

Bên cạnh việc nghỉ hơi cần đọc đúng ngữ điệu: lên giọng ở cuối câu hỏi, hạgiọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trongcâu cảm Với câu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến.Ngoài ra cần phải đọc hạ giọng khi đọc bộ phận giải thích trong câu, học sinh cũngcần biết đọc phân biệt giọng của lời kể chuyện và lời các nhân vật Như vậy đọcđúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm

Ví dụ: Bài “Sáng kiến của bé Hà” học sinh biết phân biệt được:

Lời người dẫn chuyện: Đọc giọng vui

Lời ông bà: Đọc giọng phấn khởi

Trang 11

Lời bé Hà: Đọc giọng hồn nhiên

b Luyện đọc lưu loát, trôi chảy

Đọc lưu loát, trôi chảy là nói đến đọc về mặt tốc độ, là việc đọc không ê a,ngắc ngứ Tốc độ đọc phải đi song song với việc tiếp nhận có ý thức bài đọc Đọcnhanh chỉ thực sự có ích khi nó không tách rời việc hiểu rõ điều được đọc Khi đọcthầm thì tốc độ đọc sẽ nhanh hơn

Tôi dự kiến trước thời gian cho đoạn, bài rồi hướng dẫn học sinh làm chủ tốc

độ đọc bằng cách đọc mẫu để học sinh học tập hoặc sửa cho những học sinh đọcnhanh, đọc chậm, đọc kéo dài Tôi điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp đọc.Ngoài ra còn có biện pháp đọc nối tiếp, đọc thầm, nhẩm có sự kiểm tra của thầy,của bạn để điều chỉnh tốc độ Tốc độ cũng còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc

3.3.2 Luyện cách ngắt nghỉ

Ngay từ những tuần đầu, tôi cho học sinh làm quen với các kí hiệu đọc:

- Dấu nghỉ hơi:// (ghi sau từ cần nghỉ)

- Dấu ngắt hơi:/ (ghi sau từ cần ngắt)

- Dấu nhấn mạnh: - (gạch dưới từ cần nhấn)

- Dấu kéo dài: (ghi dưới từ cần đọc chậm lại, kéo dài giọng)

- Dấu lên cao giọng:  (ghi bên phải từ cần lên cao giọng)

- Dấu hạ thấp giọng:  (ghi bên phải từ cần hạ giọng)

a Ngắt giọng logic

Để giúp học sinh có kĩ năng đọc hay ngoài việc đọc đúng thì việc ngắt, nghỉhơi cũng rất quan trọng Tôi hướng dẫn học sinh ngắt hơi sau dấu phẩy, nghỉ hơisau dấu chấm, dấu chấm xuống dòng nghỉ hơi lâu hơn dấu chấm câu Với nhữngcâu có tính liệt kê hoặc câu ngắn thì ngắt hơi ngắn, nhẹ là đủ, nếu không sẽ tạo cảmgiác đọc nhấn từng tiếng, nghe không tự nhiên

- Đối với các bài văn xuôi

Tôi hướng dẫn học sinh phân biệt từng thể loại: văn tả, văn kể chuyện, vănđối thoại, từ đó có biện pháp cụ thể với từng thể loại

Khi đọc thể loại văn tả, tôi gợi ý để các em phát hiện ra những từ ngữ gợi tảhình ảnh, âm thanh, nhấn giọng ở những từ ngữ đó để thể hiện nội dung, tình cảm.Khi đọc thể loại văn kể chuyện, giọng đọc cần phù hợp với tình tiết diễn biến củacâu chuyện, thể hiện những cử chỉ, hành động của nhân vật trong truyện qua nétmặt, ánh mắt, động tác để diễn tả nội dung bài cho sinh động hấp dẫn người nghe

Đối với những bài văn xuôi giàu kịch tính có lời thoại, tôi thường tổ chứccho các em đọc theo kiểu phân vai để thể hiện nội dung bài đọc

Trang 12

Với những câu có dấu chấm lửng, học sinh cũng thường lúng túng, tôi hướngdẫn các em đọc kéo dài chỗ có dấu chấm lửng.

Ví dụ: Nhiều lần em làm trực nhật giúp các bạn bị mệt… Na chỉ buồn vì em

học chưa giỏi

(Phần thưởng- Sách Tiếng Việt 2 tập 1- trang 13)

Con gà trống gáy vang ò… ó… o…, báo cho mọi người biết trời sắp sáng,mau mau thức dậy.”

(Làm việc thật là vui- Sách Tiếng Việt 2 tập 1- trang 16)

Câu sử dụng dấu chấm lửng chỉ lời nói ngập ngừng thì nghỉ hơi bằng thờigian phát âm một tiếng

“- À Khánh Thầy nhớ ra rồi Nhưng… hình như hôm ấy thầy có phạt emđâu!”

(Người thầy cũ- Sách Tiếng Việt 2 tập 1- trang 56)

Khi hướng dẫn học sinh đọc, tôi còn chú ý khai thác cách đọc, nêu câu hỏi đểhọc sinh tìm ra những từ ngữ gợi tả tâm trạng, cảm xúc của tác giả, những từ ngữgợi tả hình ảnh, âm thanh, từ đó tìm ra cách đọc phù hợp

Ví dụ: Học bài “Chiếc bút mực”- (Sách Tiếng Việt 2 tập 1- trang 40)

+ Khi tìm hiểu cách đọc câu dài: “Thế là trong lớp chỉ còn mình em viết bút chì.” Tôi đã yêu cầu một học sinh đọc tốt đọc cho lớp theo dõi Sau đó tôi yêu cầu

học sinh nhận xét xem bạn đã ngắt nghỉ hơi ở đâu, bạn nhấn giọng ở từ nào Sau

khi học sinh nhận xét tôi sẽ nhận xét và chốt cách đọc đúng “Thế là trong lớp/ chỉ

còn mình em/ viết bút chì.//”

+ Khi luyện đọc lại đoạn 3 của bài này tôi hỏi: Khi đọc đoạn này cần đọc

như thế nào? Vì sao phải đọc như vậy? Sau khi học sinh nêu, tôi chốt cách đọc

“Khi đọc đoạn 3 các con cần chú ý đọc ngắt nghỉ hơi hợp lí, nhấn giọng ở một số từgợi tả, gợi cảm Đọc bài với giọng rõ ràng, rành mạch, thể hiện đúng giọng nhânvật, đọc cao giọng ở câu hỏi.”

Có những bài tôi để cho các em tự tìm hiểu cách đọc để phát huy khả năngchủ động sáng tạo ở các em

Ví dụ: + Bài “Mục lục sách” - (Sách Tiếng Việt 2 tập 1- trang 43) là một văn

bản khoa học thường thức có bảng thống kê, không phải là bài khó, chỉ cần đọc vớigiọng đọc rõ ràng, rành mạch, tuần tự từng mục, còn cách đọc bảng thống kê cáccon đã được làm quen ở môn Toán chẳng hạn

Trang 13

- Đối với thể loại thơ: Muốn đọc thơ hay trước hết phải đọc đúng nhịp điệu

bài thơ, ngắt nghỉ hơi phù hợp với âm điệu, vần, nhịp của từng câu Giọng đọc phùhợp với nột dung từng bài

Đặc trưng cơ bản để phân biệt văn xuôi với thể loại thơ chính là nhịp thơ Đó

là sự tổ chức của ngôn ngữ thơ ca tạo nên nhạc điệu riêng cho mỗi bài Vì vậy, đểđọc diễn cảm tốt các bài thơ, học sinh phải biết ngắt nhịp thơ sao cho đúng Thơ cónhịp ngắt 2/2/2 thể hiện sự dồn dập, nhịp ngắt dài 4/4 thể hiện sự sâu lắng, trầmtĩnh Song ở mỗi bài thơ, mỗi thể loại thơ lại có cách ngắt nhịp khác nhau

Với thơ 4 chữ thì phổ biến ngắt theo nhịp 2/2, thơ 5 chữ ngắt hơi theo nhịp2/3 hoặc 3/2

Ví dụ: Em cầm tờ lịch cũ://

- Ngày hôm qua đâu rồi?//

Ra ngoài sân/ hỏi bố/

Xoa đầu em,/ bố cười//

(Ngày hôm qua đâu rồi? - Sách Tiếng Việt 2 tập 1- trang 10)

Ví dụ: Bê Vàng đi tìm cỏ/

Lang thang/ quên đường về/

Dê Trắng thương bạn qúaChạy khắp nẻo/ tìm Bê/

Đến bây giờ Dê Trắng/

Vẫn gọi hoài:/ “Bê!//Bê!”//

(Gọi bạn - Sách Tiếng Việt 2 tập 1- trang 18)

Với thể thơ lục bát, cách ngắt nhịp phổ biến là 2/4, 2/4/2, ( 2/2/4 ) đôi khi lại

là nhịp 3/3, 4/4, 3/5 hoặc 3/3/2 Tùy theo từng bài, từng khổ thơ cụ thể mà hướngdẫn học sinh ngắt nghỉ cho phù hợp để thể hiện đúng nội dung bài thơ

Ôm hôn ảnh Bác/ mà ngờ Bác hôn.//

(Cháu nhớ Bác Hồ - Sách Tiếng Việt 2 tập 2- trang 105)

Ngoài việc hướng dẫn học sinh ngắt nghỉ đúng nhịp điệu của bài thơ tôi cònchú ý hướng dẫn học sinh đọc đúng vần thơ

Trang 14

Ôm hôn ảnh Bác/ mà ngờ Bác hôn.//

(Cháu nhớ Bác Hồ - Sách Tiếng Việt 2 tập 2- trang 105)

Có những dòng thơ cần hướng dẫn học sinh đọc vắt dòng mới thể hiện đượcnội dung và giá trị nghệ thuật của bài thơ Ở lớp 2 mới yêu cầu các em bước đầubiết đọc vắt dòng để phân biệt dòng thơ và ý thơ nên tôi đã hướng dẫn kĩ và yêucầu học sinh luyện đọc nhiều lần, khuyến khích học sinh đọc vắt dòng tốt để gâyhứng thú trong các em

(Tiếng chổi tre - Sách Tiếng Việt 2 tập 2- trang 129)

Như vậy, để rèn luyện cho học sinh cách ngắt nhịp thơ đúng nhất, hay nhất,người giáo viên cần phải giúp các em hiểu rõ nội dung và dụng ý nghệ thuật mà tácgiả sử dụng cũng như tình cảm mà tác giả gửi gắm trong từng từ, từng dòng thơ,khổ thơ để thể hiện giọng đọc phù hợp, truyền cảm xúc tới người nghe

b Ngắt giọng biểu cảm là phương tiện tác động đến người nghe Ngắt giọng

lôgic thiên về trí tuệ, ngắt giọng biểu cảm thiên về cảm xúc Ngắt giọng biểu cảm lànhững chỗ lắng, sự im lặng có tác dụng truyền cảm, góp phần tạo nên hiệu quảnghệ thuật cao Đó là sự ngắt giọng có ý đồ nghệ thuật

Ví dụ: Bài “Mẹ” - Sách Tiếng Việt 2 tập 1- trang 101

- Khi đọc câu thơ cuối của bài Mẹ “Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.” tạo

chỗ ngắt giọng sau từ “Mẹ” thì sẽ có hiệu quả nghệ thuật cao hơn so với không ngắtgiọng Vì ngắt giọng như vậy sẽ tăng âm lượng của bài thơ cho hai tiếng cuối “suốtđời” Và ngắt giọng như thế còn làm toát lên được sự ân cần của mẹ, tình cảm và

Trang 15

tầm quan trọng của người mẹ - vị trí của người mẹ trong lòng tác giả, tình cảm củatác giả đối với người mẹ của mình - lắng lại trong lòng người đọc…

- Khi đọc: “Đêm nay/ con ngủ giấc tròn/

Mẹ là ngọn gió/ của con suốt đời.//

Ngắt sau từ “nay” đã làm cho người nghe cảm nhận được cảm giác gần gũi

về thời gian, về tình cảm của hai mẹ con Hơn thế nữa nhấn giọng cụm từ “ngủ giấc tròn”, “của con suốt đời” làm cho người nghe cảm nhận được sự thanh thản

của người con khi có mẹ chăm lo, được mẹ chăm sóc và khẳng định “mẹ là” “củacon”, không ai có thể thay thế được mẹ trong suốt cuộc đời con

Tốc độ đọc ảnh hưởng đến sự diễn cảm, khả năng biểu đạt nội dung bài thơ,đặc biệt là chỗ có thay đổi tốc độ gây sự chú ý, có giá trị biểu cảm tốt

Ví dụ: Khi đọc bài “Mẹ”, nếu câu cuối “Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.”

đọc chậm lại, nhịp dãn ra thì câu thơ nhiều âm lượng này của bài sẽ đọng lại tronglòng người đọc hơn là đọc với tốc độ bình thường như những câu khác

Ví dụ: Khi đọc câu cuối bài “Cháu nhớ Bác Hồ”:

Càng nhìn/ càng lại ngẩn ngơ,/

Ôm hôn ảnh Bác/ mà ngờ Bác hôn.//

Ta đọc chậm lại và dãn nhịp thì sẽ gây được chú ý cho đoạn, nơi mà các ýcủa đoạn thơ dồn lại, người nghe cảm nhận được tình cảm sâu nặng của bạn nhỏvới Bác Hẳn là tác giả phải yêu Bác lắm, thương nhớ Bác vô cùng thì khi ngắmảnh Bác, ôm hôn ảnh Bác mới ngỡ ngàng là Bác đang ôm hôn mình,…

3.3.3 Đọc thể hiện ngữ điệu

Ngữ điệu được hiểu theo nghĩa hẹp là sự lên cao hay hạ thấp giọng Mỗi kiểu

câu chia theo mục đích nói đều có ngữ điệu riêng (Ví dụ: sự hạ giọng cuối câu kể,

lên giọng ở câu hỏi.) Đặc biệt là những chỗ lên giọng, xuống giọng có dụng ý nghệthuật

Ví dụ: Câu cuối trong bài “Một trí khôn hơn trăm trí khôn”: “Một trí khôn

của cậu còn hơn trăm trí khôn của mình.” tôi hướng dẫn học sinh đọc hạ giọng, kéo

dài giọng và nhấn giọng ở từ, cụm từ “Một trí khôn, hơn, trăm trí khôn” để thể

hiện ngụ ý của tác giả Nghệ thuật hạ giọng ở câu này nhằm hướng người nghe vào

ý nghĩa sâu xa của lời nói hay chính là thể hiện ý nghĩa của bài học

Ví dụ: Câu nói của Sói trong bài “Bác sĩ Sói”: “Chà! Chà! Chữa làm phúc,

tiền với nong gì.” cần hướng dẫn học sinh đọc thể hiện giọng Sói giả bộ hiền lành

ẩn chứa sự gian ngoa, mưu kế của Sói

Ngày đăng: 28/03/2022, 09:58

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w