Đồ Án Môn Học: Kỹ Năng Giải Quyết Vấn Đề Của Sinh Viên Trong Học Tập TRƯỜNG ĐẠI HỌC CNTT & TRUYỀN THÔNG VIỆT HÀN KHOA KINH TẾ SỐ VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ĐỒ ÁN MÔN HỌC NHẬP MÔN NGÀNH VÀ KỸ NĂNG MỀM KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA SINH VIÊN TRONG HỌC TẬP Đồ Án Môn Học: Kỹ Năng Giải Quyết Vấn Đề Của Sinh Viên Trong Học Tập TRƯỜNG ĐẠI HỌC CNTT & TRUYỀN THÔNG VIỆT HÀN KHOA KINH TẾ SỐ VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ĐỒ ÁN MÔN HỌC NHẬP MÔN NGÀNH VÀ KỸ NĂNG MỀM KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA SINH VIÊN TRONG HỌC TẬP Đồ Án Môn Học: Kỹ Năng Giải Quyết Vấn Đề Của Sinh Viên Trong Học Tập TRƯỜNG ĐẠI HỌC CNTT & TRUYỀN THÔNG VIỆT HÀN KHOA KINH TẾ SỐ VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ĐỒ ÁN MÔN HỌC NHẬP MÔN NGÀNH VÀ KỸ NĂNG MỀM KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA SINH VIÊN TRONG HỌC TẬP
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CNTT & TRUYỀN THÔNG VIỆT HÀN
KHOA KINH TẾ SỐ VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
ĐỒ ÁN MÔN HỌC NHẬP MÔN NGÀNH VÀ KỸ NĂNG MỀM
KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA SINH VIÊN
TRONG HỌC TẬP
Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ MỸ DIỆU
TRẦN LÊ DIỆU HUYỀNHOÀNG NHẬT ANHDOÃN BÁ TÙNGLớp : 20EC
Giảng viên hướng dẫn : THS NGUYỄN THỊ KIM ÁNH
Đà Nẵng, Ngày 12 Tháng 12 năm 2021
Trang 2Xin gửi lời cảm ơn đến các Anh, Chị và các Bạn trong khóa đã quan tâm, nhiệt tình, động viên, giúp đỡ nhóm trong suốt kỳ học
Nhóm tác giả xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả Gia đình, Qúy Thầy Cô, các Anh, Chị và các bạn!
Xin kính chúc sức khỏe, niềm vui và hạnh phúc!
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Sinh viên thuộc tầng lớp trí thức của xã hội Họ là lớp người ưu tú của thế hệtrẻ, rất nhạy cảm với các xu hướng, trào lưu mới trong khoa học, kỹ thuật, văn hóa,…Sinh viên là một bộ phận tiềm năng, một nguồn bổ sung quan trọng của đội ngũ trithức Khi đất nước đang trên đà phát triển trong quá trình giao lưu hội nhập quốc tế, xãhội đang có sự chuyển biến về những yêu cầu khác nhau đối với công việc, cuộc sốngthì kỹ năng sống, kỹ năng mềm của sinh viên ngày này đang là một vấn đề mang tínhthời sự
Học tập là hoạt động của con người nhằm chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm xãhội – lịch sử của loại người đã được tích lũy qua nhiều thế hệ để hình thành giá trị choriêng mình Khác với những học tập ở trường phổ thông, hoạt động học tập của sinhviên ở Đại học – Cao đẳng đòi hỏi sinh viên phải có những phương pháp học tập,những kỹ năng cần thiết để chủ động, tích cực, sáng tạo tìm kiếm và lĩnh hội tri thức
Đà nẵng, ngày 12 tháng 12 năm 2021
Nhóm tiến lên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC HÌNH ẢNH 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Trên thế giới 7
1.1.2 Tại Việt Nam 10
1.2 Các khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: 11
1.2.1 Kỹ năng 11
1.2.1.1 Khái niệm kỹ năng 11
1.2.1.2 Đặc điểm của kỹ năng 15
1.2.1.3 Các mức độ của kỹ năng 15
1.2.2 Vấn đề 16
1.2.2.1 Khái niệm vấn đề 16
1.2.2.2 Đặc điểm của vấn đề 18
1.2.2.3 Kỹ năng giải quyết vấn đề 18
1.2.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết vấn đề: 19
1.2.2.5 Quy trình giải quyết vấn đề hiệu quả: 20
1.2.3 Phân tích nguyên nhân 20
1.2.3.1 Biểu đồ xương cá là gì? 20
1.2.3.2 Mục đích 21
1.2.3.3 Đưa tất cả quy về một mối: 21
1.2.3.3.1 Nguyên tắc Pareto 21
1.2.3.3.2 Sơ đồ tư duy là gì? 23
1.3 Đề xuất giải pháp 24
1.3.1 Định nghĩa của Brainstorm 24
1.3.2 Áp dụng Brainstorm trong các lĩnh vực nào? 24
1.3.4 Cách triển khai 24
1.3.5 Lựa chọn giải pháp 24
1.3.5.1 Check sheet là gì? 24
1.3.5.2 SWOT là gì? 25
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 27
2.1 Khái quát thực trạng giải quyết vấn đề 27
2.1.1 Những vấn đề của sinh viên trong học tập 27
Trang 52.1.1.1 Nội dung học tập 27
2.1.1.2 Quản lí thời gian từ việc xác định mục tiêu 27
2.1.1.3 Lập kế hoạc để quản lí thời gian hiệu quả 27
2.1.1.4 Bạn nên sắp xếp môn học tiếp theo thứ tự ưu tiên 27
2.1.1.5 Hãy luôn ưu tiên cho việc học 27
2.1.1.6 Hãy chọn thời gian học hiệu quả nhất 28
2.1.1.7 Luôn học tập trung – không để điện thoại, Facebook khi học 28
2.2 Thực trạng một số yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năng giải quyết tình huống có vấn đề trong hoạt động học tập của sinh viên 28
2.2.1 Ảnh hưởng các yếu tối chủ quan 28
2.2.1.1 Ảnh hưởng của khả năng tư duy kỹ năng giải quyết tình huống có vấn đề trong học tập của sinh viên 29
2.2.1.3 Ảnh hưởng vốn tri thức, kinh nghiệm về hoạt động học tập tới kỹ năng giải quyết vấn đề trong học tập của sinh viên 30
2.2.1.4 Ảnh hưởng của thái độ học tập tới kỹ năng giải quyết tình huống có vấn đề trong học tập của sinh viên 31
2.2.1.5 Ảnh hưởng của khí chất tới kỹ năng giải quyết tình huống có vấn đề trong hoạt động học tập của sinh viên 32
2.2.2.1 Ảnh hưởng của nội dung học tập tới kĩ năng giải quyết tình huống có vấn đề trong hoạt động học tập của sinh viên 32
2.2.2.2 Ảnh hưởng từ phương pháp giảng dạy của giảng viên tới kỹ năng giải quyết tình huống có vấn đề trong hoạt động học tập của sinh viên 33
2.2.2.3 Ảnh hưởng của bầu không khí tâm lý trong lớp học tới kỹ năng giải quyết tình huống có vấn đề trong hoạt động học tập của sinh viên 33
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 35
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP 36
3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 36
3.1.1 Cơ sở lý luận 36
3.1.2 Cơ sở thực tiễn 36
3.2 Các biện pháp nhằm cải thiện kỹ năng giải quyết vấn đề trong hoạt động học tập của sinh viên 37
3.2.1 Nhóm biện pháp tác động của sinh viên 37
3.2.2 Những biện pháp tác động vào giáo viên và cán bộ các phòng ban 38
3.2.3 Nhóm biện pháp tác động vào nhà trường 39
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
1 Kết luận 41
2 Kiến nghị 42
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO 43 BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC TRONG NHÓM 45
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 Hình ảnh về kỹ năng 8
Hình 2 Hình ảnh vấn đề 13
Hình 3 Kỹ năng giải quyết vấn đề 15
Hình 4 Hình ảnh xương cá 17
Hình 5 Biểu đồ nguyên tắc Pareto ( Nguyên tắc 80/20) 18
Hình 6 Nguyên tắc Perato: 20% nỗ lực sẽ tạo ra đến 80% thành quả 19
Hình 7 Sơ đồ cây 20
Hình 8 Mô hình SWOT 22
Hình 9 Tư duy giải quyết tình huống 26
Hình 10 Ảnh hưởng hiểu biết về tình huống 27
Hình 11 Thái độ học tập 28
Hình 12 Phuương pháp giảng dạy 30
Hình 13 Bầu không khí khi làm việc 31
Trang 8CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Trên Thế giới, các nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề trên bình diện lý luận và thực tiễn Mỗinhà nghiên cứu tiếp cận kỹ năng giải quyết vấn đề dưới một góc độ khác nhau nhưng
đa phần các tác giả đều thống nhất kỹ năng giải quyết vấn đề được thể hiện thông quaviệc chủ thể giải quyết những vấn đề nảy sinh trong các tình huống khác nhau của đờisống (được gọi là tình huống có vấn đề) Và quá trình giải quyết vấn đề là một quátrình đòi hỏi chủ thể phải tích cực tư duy để tìm giải pháp và thực hiện giải pháp Từ
đó, các tác giả tập trung nghiên cứu về tình huống có vấn đề, các bước, các thao táccủa quá trình giải quyết vấn đề và đặc biệt là cấu trúc của kỹ năng giải quyết vấn đề,đồng thời ứng dụng kỹ năng giải quyết vấn đề trong đời sống con người trên các khíacạnh khác nhau
Tại Liên Xô, các tác giả tiêu biểu như X.L.Rubinstein, A.M.Machiuskin,V.Okon, I.Ia.Lecne, V.A.Cruchetxki, A.V.Petrovski… đã có những nghiên cứu lý luận
về tình huống có vấn đề làm cơ sở để xây dựng những lý luận về kỹ năng giải quyếtvấn đề
Năm 1958, một đại diện tiêu biểu của tâm lý học Macxit là X.L.Rubinstein, trongnghiên cứu của mình ông đã cho rằng tác dụng của tình huống có vấn đề là “lôi cuốn
cá nhân vào quá trình tư duy”( B.Ph.Lomov, 2000) bởi vì “quá trình tư duy bắt đầu từviệc phân tích tình huống có vấn đề” Quan điểm này rất gần với A.V.Petrovski (1982)
vì theo Petrovski: “Tình huống có vấn đề là tình huống đặc trưng bởi một trạng tháitâm lý xác định của con người, nó kích thích tư duy trước khi con người nảy sinhnhững mục đích và những điều kiện hoạt động mới trong đó những phương tiện vàphương thức hoạt động trước đây mặc dù là cần nhưng chưa đủ để đạt được mục tiêumới này”
Trong khi đó, A.M.Machiuskin (1972) đã coi tình huống có vấn đề là một dạngđặc biệt của sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể được đặc trưng bởi mộttrạng thái tâm lý khiến chủ thể phải tìm kiếm những tri thức, phương thức hành độngnhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức của mình V.Okon (1976) cũng cho rằng đặc trưng
cơ bản của tình huống có vấn đề là trạng thái lúng túng về lý thuyết và thực hành trong
Trang 9quá trình nhận thức, sự mâu thuẫn của kinh nghiệm đã có của chủ thể với những trithức mới Nhờ đó người học phải huy động năng lực của mình để giải quyết mâuthuẫn.
Đặc biệt, I.Ia.Lecne đã phân tích sâu hơn về tình huống có vấn đề và ông đã trìnhbày thêm về “trạng thái tâm lý” hay “trạng thái lúng túng” mà A.M.Machiuskin vàV.Okon đã nói đến chính là “thái độ của chủ thể với trở ngại nảy ra trong lĩnh vực hoạtđộng thực hành hay trí óc Nhưng đó là thái độ mà trong đó chủ thể chưa biết cáchkhắc phục trở ngại và phải tìm tòi khắc phục Nếu không ý thức được khó khăn thìkhông nảy ra nhu cầu tìm tòi và không có nhu cầu tìm tòi thì không có tư duy sángtạo” Có thể nói theo quan niệm của I.Ia.Lecne cũng như các tác giả trên thì chỉ khinào chủ thể nhận thức được vấn đề thì tình huống có vấn đề mới là tác nhân để khởinguồn cho sự tìm tòi, tư duy và sáng tạo để đáp ứng nhu cầu nhận thức của mình Bêncạnh đó, V.A.Cruchetxki (1981) cũng nghiên cứu về tình huống có vấn đề và kết luậntình huống có vấn đề xuất hiện khi có “mâu thuẫn giữa kinh nghiệm đã có của học sinh(tri thức, kỹ năng, kỹ xảo) và những vấn đề nảy sinh trước các em khi giải quyếtnhững nhiệm vụ nhận thức trong học tập Mâu thuẫn này tạo nên hoạt động tư duy tíchcực”
Như vậy, theo quan điểm của các nhà Tâm lý học Xô Viết thì đặc trưng cơ bảncủa tình huống có vấn đề là sự mâu thuẫn giữa kinh nghiệm đã có của chủ thể với trithức mới Từ đó, chủ thể nảy sinh nhu cầu giải quyết tình huống có vấn đề, kích thích
tư duy và đi đến giải quyết vấn đề
Từ những nghiên cứu lý luận đã nêu trên các tác giả đã ứng dụng rất thành công
kỹ năng giải quyết vấn đề vào dạy học với một phương pháp dạy học gọi là dạy họcgiải quyết vấn đề hay còn gọi là dạy học nêu vấn đề và được các nhà sư phạm ứngdụng trong giảng dạy như là một phương pháp tích cực Tuy nhiên vì chú trọng đếnviệc nghiên cứu cách thức tổ chức lớp học, sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề
mà các tác giả chưa quan tâm nghiên cứu các bước hình thành kỹ năng giải quyết vấn
đề trong quá trình dạy học
Trong khi các nhà Tâm lý học Liên Xô tập trung nghiên cứu kỹ năng giải quyếtvấn đề ở khía cạnh kỹ năng giải quyết trong các tình huống có vấn đề thì tại Mỹ cácnhà nghiên cứu quan tâm đến việc tìm hiểu cấu trúc, các bước của kỹ năng giải quyếtvấn đề Cụ thể, năm 1982 hai tác giả Jefferey R.Bedoll và Shelley S.Lennox đã xácđịnh kỹ năng giải quyết vấn đề là một kỹ năng quan trọng Hai tác giả đã xếp kỹ nănggiải quyết vấn đề là kỹ năng xã hội (social skill) thứ 7 trong 10 kỹ năng xã hội khôngthể thiếu trong cuộc sống Từ đó, Bedoll và Lennox đã nghiên cứu và đưa ra 7 bước để
Trang 10giải quyết vấn đề (Nhận thức về vấn đề, định nghĩa vấn đề, liên hệ những phương án,đánh giá những giải pháp, ra quyết định, thực hiện giải pháp, kiểm tra hiệu quả củaphương án) Trong khi đó, R.J.Sternberg (1986), J.R.Hayes (1989), A.J.Naples (2005)cho rằng mỗi người cần tiến hành giải quyết vấn đề theo quy trình các bước: Nhận biếtvấn đề, định nghĩa và biểu đạt vấn đề trong óc, đề ra các chiến lược giải quyết, sắp xếpcác kiến thức của mình về vấn đề, huy động các nguồn lực trí tuệ và thể chất để giảiquyết vấn đề, giám sát các kết quả đạt được hướng tới mục tiêu và đánh giá tính đúngđắn của phương án giải quyết
Nhà nghiên cứu J.D.Bransford chỉ ra thêm các bước giải quyết vấn đề là quátrình trí tuệ diễn ra trong đầu (mental process), một người giải quyết vấn đề thành công
là một người biết tiến hành linh hoạt từng giai đoạn trong tình huống cụ thể
Đồng ý với quan điểm của J.D.Bransford, Sharon L.Foster và Marcelle Crain(2002) (Đại học quốc tế Alliant – San Diego) khẳng định kỹ năng giải quyết vấn đềbao gồm: Nhận dạng tình huống có vấn đề, phát hiện tình huống có vấn đề, xác địnhbản chất của vấn đề, tập trung các ý tưởng để giải quyết vấn đề, đánh giá các ý tưởng
và chọn ra ý tưởng tối ưu, lập kế hoạch và thực hiện ý tưởng đó bằng hành vi cụ thể.Như vậy, các nhà nghiên cứu ở Mỹ trong phần trình bày trên đã cho chúng ta biết
kỹ năng giải quyết vấn đề gồm có các bước: Nhận dạng vấn đề, phân tích thông tin, raquyết định, biểu đạt vấn đề… Nhưng không dừng ở đó, nhiều nhà nghiên cứu đi sâutìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết vấn đề, đặc biệt là các yếu tốtâm lý Cụ thể, Dorit Wenke đã nghiên cứu về ảnh hưởng của khả năng trí tuệ đến việcgiải quyết những vấn đề phức tạp của mỗi người Theo ông, khả năng trí tuệ của mỗingười là những khả năng, những quá trình và những cơ chế nhận thức làm cho ngườinày khác với người kia, ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vấn đề của mỗi người Haitác giả Shozo Hibino và Gerad Nadler (2009) khẳng định nếu biết vận dụng tư duysáng tạo vào giải quyết vấn đề thì các vấn đề không chỉ được giải quyết mà còn đượcgiải quyết một cách tốt nhất Từ đó, hai ông đã đưa ra 7 nguyên tắc vàng để giải quyếtvấn đề một cách sáng tạo và tối ưu
Đặc biệt Shannon White (2005) khi nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến
kỹ năng giải quyết vấn đề đã cho thấy khả năng biểu đạt vấn đề là một yếu tố quantrọng ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết vấn đề Do vậy, muốn giải quyết tốt vấn đề,mỗi người phải biểu đạt vấn đề thật rõ ràng và đầy đủ
Như vậy, thông qua những nghiên cứu lý luận của mình các tác giả đã góp phầnlàm rõ thêm những lý luận về kỹ năng giải quyết vấn đề, các bước, các thao tác của kỹ
Trang 11năng giải quyết vấn đề và những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết vấn đề nhưkhả năng tư duy sáng tạo, khả năng biểu đạt vấn đề, trí nhớ…
Tóm lại, mỗi nhà nghiên cứu tiếp cận kỹ năng giải quyết vấn đề đề dưới một góc
độ khác nhau nhưng có thể nhận thấy các tác giả đều thống nhất kỹ năng giải quyếtvấn đề được thể hiện thông qua việc chủ thể giải quyết những vấn đề nảy sinh trongcác tình huống khác nhau của đời sống (được gọi là tình huống có vấn đề) Quá trìnhgiải quyết vấn đề là một quá trình đòi hỏi chủ thể phải tích cực tư duy để tìm giải pháp
và thực hiện giải pháp Từ đó, các tác giả tập trung nghiên cứu về tình huống có vấn
đề, cấu trúc của kỹ năng giải quyết vấn đề, các bước, các thao tác của kỹ năng giảiquyết vấn đề, ứng dụng kỹ năng giải quyết vấn đề trên các khía cạnh khác nhau củađời sống
1.1.2 Tại Việt Nam
Cũng như các nhà khoa học trên thế giới, tại Việt Nam, khi nghiên cứu lý luận về
kỹ năng giải quyết vấn đề, các tác giả cũng quan tâm nghiên cứu về tình huống có vấn
đề như Triệu Xuân Quýnh (1993), Nguyễn Quang Uẩn (1995), Bùi Văn Huệ (1996),Phạm Minh Hạc (1998), Trần Trọng Thuỷ (1998),… đều có cùng quan điểm khi chorằng: Tư duy được kích thích bởi tình huống (hoàn cảnh) có vấn đề Tình huống cóvấn đề được cá nhân nhận thức đầy đủ, được chuyển thành nhiệm vụ của cá nhân, cánhân xác định được cái gì đã biết và cái gì còn chưa biết phải tìm, đồng thời cũng phải
có nhu cầu (động cơ) tìm kiếm nó
Nguyễn Xuân Thức (2007) cũng đã nêu: Tình huống có vấn đề là bài toán đặt ramâu thuẫn với vốn hiểu biết cũ của chúng ta Khi chúng ta có nhu cầu giải quyết chúngthì quá trình tư duy bắt đầu Các tác giả khác như Nguyễn Đình Chỉnh (1995), NguyễnNgọc Bảo (1995) cũng có quan điểm như trên về tính khách quan và chủ quan trongtình huống có vấn đề khi nghiên cứu về kiểu dạy học nêu vấn đề
Bên cạnh những nghiên cứu về động cơ thúc đẩy quá trình giải quyết tình huống
có vấn đề như trên, Nguyễn Ngọc Quang (1994) đã phân chia thành các loại tìnhhuống khác nhau cũng là tình huống chứa đựng vấn đề trong cuộc sống như tìnhhuống nghịch lý, tình huống bế tắc, tình huống lựa chọn, tình huống “tại sao” hay
Trang 12việc xây dựng những tình huống có vấn đề trong quá trình giảng dạy trên lớp Có thể
kể đến các tác giả Lê Trung Thành (2004) nghiên cứu việc “Vận dụng dạy học nêu vấn
đề vào dạy học tác phẩm văn chương ở bậc trung học” trong luận án Tiến sĩ Giáo dụchọc của mình Tác giả Nguyễn Anh Tuấn, quan tâm nghiên cứu việc rèn luyện nănglực giải quyết vấn đề cho học sinh trong từng giờ lên lớp với đề tài: “Bồi dưỡng nănglực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh Trung học cơ sở trong dạy học kháiniệm toán học” (2003) Tác giả Cao Đình Trung Hậu nghiên cứu đề tài Thạc sĩ “Hìnhthành năng lực giải quyết vấn đề qua dạy học phần cơ học lớp 10” (2003) Thông quanhững nghiên cứu này, các tác giả đều cho thấy giáo viên hoàn toàn có thể nâng caonăng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua việc giảng dạy các môn học tronggiờ học tại lớp Tuy nhiên, các đề tài chưa đo lường được chính xác mức độ kỹ nănggiải quyết vấn đề cho học sinh mà chỉ dừng lại ở việc xây dựng giáo án với các tìnhhuống có vấn đề để kích thích học sinh tìm cách giải quyết
Hiện nay, các tác giả cũng đã nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề của sinhviên ở bậc Đại học – Cao đẳng nhưng chủ yếu chỉ tập trung nghiên cứu kỹ năng giảiquyết vấn đề trong từng tình huống sư phạm trong thực tế giảng dạy cũng như nhữngtình huống sinh viên gặp phải trong quá trình thực tập như các tác giả: Ngô CôngHoàn, Bùi Văn Huệ, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Đình Chỉnh, HuỳnhVăn Sơn, Phan Trịnh Hoàng Dạ Thy
Tác giả Phan Trịnh Hoàng Dạ Thy với đề tài nghiên cứu “Kỹ năng giải quyết vấn
đề trong quá trình thực tập nhận thức của sinh viên trường Đại học Hoa Sen” cho thấysinh viên còn gặp nhiều vấn đề khác nhau trong quá trình thực tập nhận thức Kết quảphân tích khẳng định kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên trường Đại học Hoa Sentrong quá trình thực tập nhận thức chỉ ở mức trung bình, trong đó nhận thức của sinhviên về kỹ năng giải quyết vấn đề ở mức trung bình, còn kết quả giải quyết vấn đề củasinh viên trong các tình huống giả định ở mức thấp
Những nghiên cứu lý luận và thực tiễn chúng tôi đã trình bày trên cho thấy mỗinhà nghiên cứu, mỗi tác giả của Việt Nam có một quan điểm của riêng mình, song cóthể tóm tắt quan niệm của các tác giả thành những điểm cơ bản như sau:
Vấn đề là một tình trạng, một bài toán, một nhiệm vụ mà con người chưa biết làmcách nào để giải quyết nó và đạt được mục đích mình mong đợi
Mọi vấn đề đều chứ đựng tình huống có vấn đề
Tình huống có vấn đề chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, mànhững phương thức cũ, những cái đã biết đó là cần thiết nhưng chưa đủ để giải quyết
Trang 13được tình huống có vấn đề, điều đó đòi hỏi con người phải suy nghĩ để tìm ra cáchthức giải quyết vấn đề, giải quyết tình huống nhằm đạt được mục dích của mình.
Từ vấn đề ròi đến tình huống có vấn đề là nguồn kích thích tư duy và hoạt động nhậnthức
Nếu như tại ngước ngoài các nhà nghiên cứu ưu tiên nghiên cứu về kỹ năng giảiquyết vấn đề của sinh viên thì tại Việt Nam khía cạnh này vẫn còn được nhiều nhàkhoa học nghiên cứu Đặc biệt là những nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề tronghoạt động học tập của sinh viên Trong khi đó, các nhà nghiên cứu nước ngoài đã chia
ra, sinh viên là đối tượng thường xuyên gặp phải nhiều vấn đề khác nhau Nếu họkhông có kỹ năng để giải quyết vấn đề này thì sẽ ảnh hưởng đển hiệu quả học tập củasinh viên
1.2 Các khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu:
1.2.1 Kỹ năng
1.2.1.1 Khái niệm kỹ năng
Hình 1 Hình ảnh về kỹ năng
Theo Việt Nam Tự điển thì “kỹ” có nghĩa là “nghề” trong từ “kỹ nghệ”, có nghĩa
là “khéo đến nơi đến chốn, mất nhiều công phu” trong từ “kỹ càng, kỹ lưỡng”, “năng”
có nghĩa là “tài giỏi” trong từ “năng thần: Bề tôi tài giỏi”, có nghĩa là “có thể làmđược” trong từ “năng lực” [16, tr.269]
Trang 14Theo từ điển Tiếng Việt ( Nguyễn Thị Thúy Dung, 2000), “kỹ năng là thói quen
áp dụng vào thực tiễn những kiến thức đã học hoặc là những kết quả của quá trìnhluyện tập”
Trong tiếng Anh ( Corsini, R, 1999), kỹ năng được dịch thành “skill” Từ điểnOxford định nghĩa “skiil” là khả năng tìm ra giải pháp cho một vấn đề nào đó và cóđược nhờ rèn luyện
Theo từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng biên soạn, kỹ năng là “năng lực vậndụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội đểthực hiện những nhiệm vụ tương ứng Ở mức độ kỹ năng, công việc hoàn thành trongđiều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục, vàcòn phải tập trung chú ý căng thẳng Kỹ năng được hình thành qua luyện tập”
Trong từ điển Tâm lý học của A.M.Colman, “kỹ năng là sự thông thạo, hiểu biếtchuyên môn sâu, là khả năng đạt dược thành tích cao trong một lĩnh vực nhất định; cụthể là một cách thức thực hiện hành vi có sự phối họp, có tổ chức, đạt được thông quahuấn luyện và thực hành”
Như vậy, có thể thấy kỹ năng được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau Việclàm rõ những điểm chung và những điểm khác biệt trong từng khái niệm nhằm đi đếnmột khái niệm nhất quán về kỹ năng được sử dụng trong đề tài này Trong Tâm lý học,
có hai quan điểm khác nhau về kỹ năng:
Quan niệm thứ nhất coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác, hành động và hoạt động
V.A.Krutretxki (1980) cho rằng “kỹ năng là phương thức thực hiện hoạt động,cái mà con người lĩnh hội được” Trong quá trình luyện tập, trong hoạt động thực hành
kỹ năng dần được hoàn thiện và trong mối quan hệ đó hoạt động của con người cũngtrở nên được hoàn hảo hơn trước
Tác giả Trần Trọng Thủy (1978) trong “Tâm lý học lao động” cũng cho rằng kỹnăng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹthuật của hành động, có kỹ năng
Các tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh, Bùi Ngọc Oánh cho rằng:
“Kỹ năng là những hành động được hình thành do sự bắt chước trên cơ sở của tri thức
mà có, chúng đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của tri thức, sự tập trung chú ý, cầntiêu tốn nhiều năng lượng của cơ thể” Các tác giả cũng viết: Kỹ năng cũng có nhữngđặc điểm khác nữa là “hành động chưa được khái quát, do thao tác chưa chính xác nênvai trò kiểm soát của thị giác là quan trọng”
Trang 15Thế nhưng, cách hiểu kỹ năng như trên có hai vấn đề cần xem xét Thứ nhất, đây
là sự mô tả chính xác đối với những kỹ năng đơn giản mà thao tác có thể quan sátđược Riêng các kỹ năng phức tạp như kỹ năng giải quyết vấn đề trong những tìnhhuống mới và đa đạng đòi hỏi phải có sự nỗ lực trí tuệ căng thẳng và khó có thể tựđộng hóa được Thứ hai, nếu quan niệm kỹ năng chỉ là các kỹ năng đơn giản thì khigiải quyết mối quan hệ giữa kỹ năng và năng lực sẽ đưa đến sự không lý giải được vấn
đề cấu trúc năng lực và sự hình thành năng lực Rõ ràng, kỹ năng đơn giản chưa thểđược xem là năng lực, khi đó kỹ năng chỉ là một điều kiện cần chứ chưa phải là điềukiện đủ của năng lực
Quan niệm thứ hai là xem kỹ năng là biểu hiện của năng lực con người
Từ điển Tiếng Nga (1968) định nghĩa: Kỹ năng là khả năng làm một cái gì đó,khả năng này được hình thành bởi tri thức, kinh nghiệm Theo K.K.Platonov thì kỹnăng là khả năng của con người thực hiện một hành động bất kỳ nào đó hay các hànhđộng trên cơ sở của kinh nghiệm đã lĩnh hội trước đó Hay nói cách khác, kỹ năngđược hình thành trên cơ sở của tri thức và các kỹ xảo Đồng thời, “kỹ năng luôn đượcnhận thức Cơ sở tâm lý của các kỹ năng là sự hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữamục đích hành động, các điều kiện và phương thức thực hiện hành động”
N.Đ.Lêvitôv cho rằng, “kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đóhay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúngđắn có chiếu cố đến những điều kiện nhất định”
A.V.Ptrovxki cho rằng “kỹ năng là cách thức thức cơ bản để chủ thể thực hiệnhành động, thể hiện bởi những kiến thức đã được thu lượm, những thói quen và kinhnghiệm” Cụ thể hơn, Ptrovxki đã viết: “Năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức haykinh nghiệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chấtcủa các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xácđịnh, được coi là kỹ năng”
Từ điển Tâm lý học của Liên Xô cũ (1983) cũng định nghĩa: “Kỹ năng là giaiđoạn giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới – cái dựa theo một quytắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng vớitri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo”
Ở Việt Nam, các tác giả như Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Lê Văn Hồng,Nguyễn Quang Uẩn cũng có quan niệm như các tác giả nói trên Như tác giả Lê VănHồng có viết: “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phươngpháp…) để giải quyết một nhiệm vụ mới”
Trang 16Như vậy, theo những quan điểm trên, kỹ năng đã được nhìn nhận ở cả những kỹnăng mang tính phức tạp Kỹ năng cũng được khẳng định là năng lực vận dụng tri thứcthì kỹ năng là một mức độ của năng lực Nói một cách khác, một người có kỹ năng thìngười đó đang hình thành một năng lực tương ứng với kỹ năng đó Chính vì vậy tácgiả Đặng Thành Hưng (2004) cho rằng kỹ năng là một thành phần quan trọng trongcấu trúc năng lực Còn tác giả Huỳnh Văn Sơn, trong một nghiên cứu đã cho rằng kỹnăng có nhiều dạng, có những kỹ năng khá đơn giản, nhưng cũng có những kỹ năngrất phức tạp Và “những kỹ năng có thể chia thành những kỹ năng chung và những kỹnăng chuyên biệt Ví dụ: Trong công việc, những kỹ năng chung có thể kể đến là: Kỹnăng quản lý thời gian, kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng tự thúcđẩy bản thân và những kỹ năng khác, trong khi những kỹ năng chuyên biệt có thể hữudụng chỉ trong một nghề nhất định Kỹ năng thường yêu cầu một hoàn cảnh và nhữngtác động ngoại cảnh nhất định để đánh giá mức độ kỹ năng được thể hiện và được sửdụng” Tác giả Huỳnh Văn Sơn cũng khẳng định: “Một kỹ năng không bao giờ đứngriêng lẻ mà luôn có sự “tham gia” của các kỹ năng khác có liên quan”.
Từ những quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy, kỹ năng không chỉ là thao tác màcòn là biểu hiện của năng lực Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đóhay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thứcđúng đắn có tính đến những điều kiện nhất định Vì vậy, chúng tôi đồng ý với kháiniệm về kỹ năng của tác giả Vũ Dũng trình bày trong từ điển Tâm lý học vì đã có sựkết hợp của hai quan điểm trên
Trong luân văn này, chúng tôi cho rằng: “Kỹ năng là khả năng vận dụng có hiệuquả những tri thức, kinh nghiệm về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội
để thực hiện những hành vi tương ứng một cách hiệu quả”
1.2.1.2 Đặc điểm của kỹ năng
Khi nhắc đến kỹ năng, người ta thường đề cập đến kỹ xảo Nhưng nếu kỹ xảo cómức độ tham gia của ý thức ít, thậm chí trong nhiều trường hợp có khi thông cảm thấy
có sự tham gia của ý thức và đôi khi có sự kiểm tra bằng cảm giác vận động, tầm trigiác được mở rộng thì kỹ năng có những đằng điểm sau đây:
Trong kỹ năng, nhận thức đóng vai trò tích cực và thường trực Trong quá trình chủthể thực hiện một hành động, một kỹ năng nào đó thì chính chủ thể phải nhận biếtđược những nội dung, nhiệm vụ, các thao tác và những hành động cụ thể để thực hiện
kỹ năng đó
Trang 17 Cùng với nhận thức đúng đắn thì thái độ tích cực, tâm thế sẵn hàng sẽ giúp chủ thểvượt qua các trở ngại và khó khăn để thực hiện kỹ năng một cách dễ dàng.
Có nhận thức đầy đủ, thái độ tích cực nhưng nếu không hanhd động để thực hiện kỹnăng thì kỹ năng cũng không được hình thành Kỹ năng được hình thành thông quahoạt động Để có thể hoạt động hiệu quả, con người phải có kỹ năng và kỹ năng chỉ cóthể phát triển thông qua thực tiễn hoạt động Muốn tăng mức độ kỹ năng, con ngườiphải thường xuyên rèn luyện Khi thực hiện kỹ năng, chủ thế phải thực hiện các loại trigiác khác nhau để kiểm tra các thao tác thực hiện Trong quá trình thực hiện kỹ năng,tùy vào từng năng lực, kỹ năng của mỗi chủ thể mà các thao tác được thực hiện đầy
đủ, chính các đến mức độ nào Tuy nhiên, khi thực hiện kỹ năng, thường những độngtác thừa, động tác phụ chưa được loại trừ
Trong kỹ năng có sự thống nhất giữa tính ổn định và tính linh hoạt: Có nghĩa là kỹnăng không nhất thiết gắn liền với một đối tượng nhất định, mà trong trường hợp kỹnăng ở mức độ cao thì chủ thế có khả năng di chuyển linh hoạt và dễ dàng sang nhữngđối tượng mới,
1.2.1.3 Các mức độ của kỹ năng
Mỗi nhà nghiên cứu có một cách phân chia khác nhau về mực độ kỹ năng.Nhưng đa phần các tác giả đều phân chia kỹ năng thành năm mức độ từ những kỹ năngban đầu đến kỹ năng đạt ở mức độ hoàn hảo
Theo quan điểm của V.P.Bexpalko, có năm mức độ kỹ năng sau:
Mức độ 1: Kỹ năng ban đầu
Người học đã có kiến thức về nội dung một dạng kỹ năng nào đó và trong nhữngtình huống cụ thể khi cần thiết, người học sẽ có thể tái hiện những thao tác, hành độngnhất định nào đó Tuy nhiên, ở mức độ kỹ năng ban đầu này thì người học thường chỉthực hiện được yêu cầu của kỹ năng này dưới sự hướng dẫn của người dạy
Trang 18Một sự khác biệt thể hiện ở mức độ kỹ năng cao là người học đã tự lựa chọn hệthống các thao tác, các hành động cần thiết trong các tình huống khác nhau Bên cạnh
đó, người học đã biết di chuyển kỹ năng trong phạm vi nhất định
Mức độ 5: Kỹ năng hoàn hảo
Đây là mức độ cao nhất của kỹ năng Người học nắm được đầy đủ hệ thống cácthao tác, hành động khác nhau, biết lựa chọn những thao tác, hành động cần thiết vàứng dụng chúng một cách thành thạo trong các tình huống khác nhau mà không gặpkhó khăn gì
Trong từ điển rút gọn các khái niệm Tâm lý học của Nga và cũng là quan niệmcủa tác giả K.K.Platonov và G.G.Glubev, đưa ra năm mức độ hình thành kỹ năng nhưsau:
Mức độ 1: Có khả năng sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai, dựatrên vốn hiểu biết và kinh nghiệm
Mức độ 2: Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ
Mức độ 3: Có những kỹ năng chung nhưng còn mang tính rời rạc và riêng lẻ
Mức độ 4: Có những kỹ năng chuyên biệt để hành động
Mức độ 5: Vận dụng sáng tạo những kỹ năng trong các tình huống khác nhau
1.2.2 Vấn đề
1.2.2.1 Khái niệm vấn đề
Hình 2 Hình ảnh vấn đề
Trang 19Trong từ điển Tiếng Việt, vấn đề được hiểu là “những điều cần phải được nghiêncứu để giải quyết”
Trong tiếng Anh, vấn đề được dịch thành “problem” Từ điển Oxford đưa ra kháiniệm về “problem” như sau:
Những điều bắt nguồn từ một sự khó khăn
Một câu hỏi được nảy sinh cần được xem xét và tìm ra giải pháp
Một tình trạng khó khăn cần được giải quyết
Theo các nhà tâm lý học thì “vấn đề” là sự phản ánh mâu thuẫn trong quá trìnhnhận thức khách thể bởi chủ thể Đây là mâu thuẫn giữa “cái đã biết” và “cái chưabiết” “Cái chưa biết” đó chỉ trở thành vấn đề đối với nhận thức của con người khi conngười có nhu cầu và có khả năng tìm ra “cái chưa biết” đó Do đó, vấn đề không phải
là yếu tố khách quan mà thực sự là yếu tố chủ quan tức là chủ thể nhận thức được, cónhu cầu, có điều kiện và khả năng giải quyết mâu thuẫn Chính vì vậy chúng ta thườngnhìn thấy rất nhiều trường hợp, tình huống này có thể rất bình thường với người nàynhưng lại trở thành một vấn đề và một tình huống có vấn đề thực sự đối với ngườikhác
Trên cơ sở tham khảo, phân tích, tổng hợp những quan điểm khác nhau về “vấnđề”, chúng tôi xây dựng khái niệm “vấn đề” trong nghiên cứu này như sau: “Vấn đề là
sự phản ánh mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết trong quá trình nhận thứckhách thể của chủ thể được thể hiện trong những tình huống cụ thể”
đề khác nhau sẽ có một phạm vi hẹp hay rộng lớn khác nhau Phạm vi của vấn đề cóảnh hưởng đến việc vận dụng nguồn nhân lực như thế nào để GQVĐ
Tính phức hợp của vấn đề
Số lượng các biến số: Tính phức hợp của vấn đề thể hiện đầu tiên ở số lượng cácbiến số hay là những thông tin chưa biết cần tìm hiểu khi GQVĐ Thông thường, một
Trang 20vấn đề thường bao gồm trong đó rất nhiều những biến số khác nhau đòi hỏi ngườiGQVĐ phải nhận dạng được các biến số này để làm cho vấn đề được rõ ràng hơn Sốlượng các biến số càng ít thì vấn đề càng dễ giải quyết, số lượng biến số càng nhiều thìvấn đề càng phức tạp và càng khó giải quyết.
Sự phân nhánh: Khi một vấn đề xảy ra, xuất phát điểm chỉ từ một nguyên nhânnhất định Tuy nhiên, nếu như vấn đề không được giải quyết nó sẽ kéo theo rất nhiềunhững tình huống khác và làm cho vấn đề trở nên phức tạp hơn Khi đó, việc GQVĐtrở nên khó khăn khi nguyên nhân chính đã bị một chuỗi những sự kiện khác che lấp đi
và chủ thể không xác định được mấu chốt vấn đề
1.2.2.3 Kỹ năng giải quyết vấn đề
Hình 3 Kỹ năng giải quyết vấn đề
Khái niệm kỹ năng giải quyết vấn đề: Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng giải
quyết tình huống khó khăn và bất ngờ khi tương tác với các đối tác doanh nghiệp Kỹnăng giải quyết vấn đề liên quan đến kỹ năng lắng nghe tích cực, phân tích, nghiên
cứu, sáng tạo, giao tiếp, khả năng đáng tin cậy và làm việc teamwork.
Kỹ năng giải quyết vấn đề liên quan đến 2 khả năng: khả năng sắp xếp trật tự, phântích và sáng tạo như so sánh, tương phản và chọn lọc Tư duy phân tích là phạm trùtrực tiếp ảnh hưởng đến khả năng giải quyết vấn đề bởi quá trình phân tích sẽ giúpphát hiện ra các vấn đề và định hướng ra các giải pháp
Theo những nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu và nhiều tổ chức phi chính phủtrên thế giới thì kỹ năng GQVĐ là một kỹ năng sống
Trang 21Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), kỹ năng sống có 3 nhóm:
Nhóm một – kỹ năng nhận thức, bao gồm những kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng tự nhậnthức bản thân, tự đặt mục tiêu và xác định giá trị, kỹ năng sáng tạo, kỹ năng ra quyếtđịnh và giải quyết vấn đề
Nhóm hai – nhóm kỹ năng liên quan đến cảm xúc, bao gồm những kỹ năng như: Kỹnăng nhận biết và chịu trách nhiệm về cảm xúc của mình, kỹ năng tự giám sát, tự điềukhiển, điều chỉnh cảm xúc của bản thân
Nhóm ba – nhóm kỹ năng xã hội, bao gồm các kỹ năng như: Kỹ năng hợp tác, kỹ nănggây thiện cảm, kỹ năng giao tiếp – truyền thông, kỹ năng thích ứng với cảm xúc củangười khác
Trong đó, kỹ năng giải quyết vấn đề thuộc nhóm kỹ năng nhận thức
1.2.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết vấn đề:
Có nhiều nhân tố gây ảnh hưởng đến kỹ năng xử lý vấn đề Trong đó, kỹ năng phân tích, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định và tư duy phản biện là những nhân
tố bạn cần lưu ý
Kỹ năng phân tích: Muốn giải quyết tận gốc bạn phải có khả năng phân tích Bạn phải phân tích nguyên nhân của vấn đề từ đó mới có thể đưa ra cách xử lý
Kỹ năng ra quyết định: Rất nhiều người thường gặp khó khăn trong việc ra quyết định,
họ thường do dự không biết nên chọn phương án nào mới khả thi Để có thể xử lý mọi tình huống buộc bạn phải có kỹ năng ra quyết định, lựa chọn hướng giải quyết và đánhgiá kết quả đạt được
Kỹ năng giao tiếp: Khi gặp những tình huống éo le trong khâu giải quyết, bạn có thể trao đổi với những người liên quan để am hiểu hơn, từ đó tăng sự chắc chắn trong quyết định của bạn
Tư duy phản biện: Với tư duy phản biện tốt, bạn có thể đưa ra những suy luận sắc bén,diễn đạt dễ hiểu, mạch lạc và logic Đồng thời, họ cũng có thể nhanh chóng phát hiện
ra sự sơ hở và thiếu khoa học trong những lập luận được đưa ra trước đó
Có thể thấy để giải quyết vấn đề một cách êm đẹp, hợp tình hợp lý đòi hỏi bạn phải có rất nhiều kỹ năng khác nhau Một điều quan trọng bạn cần ghi nhớ là phải thựchành nhiều Khi đã thực hành nhiều tình huống thực tế, bạn có thể rút ra nhiều bài học cho bản thân
1.2.2.5 Quy trình giải quyết vấn đề hiệu quả:
Xác định vấn đề
Phân tích nguyên nhân
Đưa tất cả vấn đề quy về một mối
Đề xuất giải pháp
Lựa chọn giải pháp
Đánh giá kết quả và rút kinh nghiệm
1.2.3 Phân tích nguyên nhân
Công cụ: Sử dụng mô hình xương cá
Trang 221.2.3.1 Biểu đồ xương cá là gì?
Biểu đồ xương cá được phát triển bởi nhà khoa học Nhật Bản Kaoru Ishikawa
Trong quá trình làm việc tại công ty Kawasaki Heavy Industries Ông đã phát hiện ra
rằng một loạt các nhân tố có thể ảnh hưởng tới một quy trình làm việc
Để có được cái nhìn sâu sắc về các yếu tố này Ông đã thiết kế một công cụ đồ họa đơn giản Trong đó, các nguyên nhân sâu xa tiềm năng được mô tả một cách có trật tự Vì mô hình này có hình dáng giống một bộ xương cá Nên biểu đồ Ishikawa còn được gọi là biểu đồ xương cá Trên thực tế, biểu đồ Ishikawa đã chỉ từng được dùng cho các quá trình sản xuất và hoạt động quản lý chất lượng đi kèm Nhưng hiện nay, biểu đồ này cũng được sử dụng trong các lĩnh vực khác
Hình 4 Hình ảnh xương cá
1.2.3.2 Mục đích
– Phân tích biểu đồ nhân quả giúp tổ chức hình dung xuyên suốt những nguyên nhân của một vấn đề, nó có thể bao gồm cả những nguyên nhân gốc rễ mà không phải chỉ là các hiện tượng
– Phát triển các kế hoạch để xác nhận rằng những nguyên nhân tiềm ẩn là những nguyên nhân thực sự
– Cung cấp cấu trúc cho nỗ lực xác định nguyên nhân
– Khi có nhu cầu tìm hiểu một vấn đề để xác định nguyên nhân gốc rễ
– Khi muốn tìm hiểu tất cả các lí do có thể có tại sao một tiến trình giải quyết vấn đề gặp những khó khăn hoặc những thất bại
– Khi có nhu cầu nhận diện các lĩnh vực thu thập thông tin
– Khi muốn tìm hiểu lí do một tiến trình không đưa đến những kết quả mong muốn
Trang 231.2.3.3 Đưa tất cả quy về một mối:
Công cụ: nguyên tắc pareto và sơ đồ tư duy
Cần lưu ý rằng các con số phân phối không phải lúc nào cũng chính xác là 20%
và 80% Điểm mấu chốt mà Nguyên tắc Pareto muốn đề cập là hầu hết mọi thứ trongcuộc sống (nỗ lực, phần thưởng, đầu ra, ) không được phân phối đồng đều - một sốđóng góp nhiều hơn những thứ khác
Cuộc sống luôn không công bằng một cách hoàn hảo Điểm mấu chốt của sự bất cân bằng là mỗi đơn vị đầu vào (công việc, thời gian, nỗ lực, ) không mang lại cùng một giá trị đầu ra.
Thử tưởng tượng, nếu bạn đang sống trong một thế giới hoàn hảo, mọi nhânviên sẽ đóng góp cùng một giá trị cho tổ chức, mọi lỗi sai đều quan trọng như nhau,mọi tính năng đều được người dùng yêu thích như nhau Một cá nhân nếu cố gắng làmviệc gấp đôi thì kết quả thu về cũng nhiều gấp đôi tương ứng Khi ấy việc lập kế hoạchcông việc sẽ rất dễ dàng
Nhưng thực tế không đi theo một đường thẳng như vậy Cùng xem biểu đồ thể hiệnNguyên tắc Pareto sau:
Hình 5 Biểu đồ nguyên tắc Pareto ( Nguyên tắc 80/20)
Trang 24Trong sự phân tích của Nguyên tắc Pareto, cứ trong số 5 phương án lựa chọn (đồvật, ý tưởng, con người, ) của đội nhóm thì sẽ có một đáp án tuyệt vời Đáp án đó sẽdẫn đến phần lớn tác động tích cực lên đội nhóm (đường màu xanh lá cây) Còn lại,đường màu đỏ tượng trưng cho giả định không bao giờ xảy ra: mỗi đơn vị đầu vàođóng góp chính xác cùng một lượng đầu ra giống nhau.
Sự phân phối điển hình này có thể được minh hoạ dễ hiểu hơn dưới dạng biểu đồtròn - một phần lớn thành quả chiếm 80% được tạo thành từ 20% sự nỗ lực
Hình 6 Nguyên tắc Perato: 20% nỗ lực sẽ tạo ra đến 80% thành quả
Tất nhiên, tỷ lệ này có thể thay đổi, dao động xung quanh các tỷ lệ 80/20, 90/10hoặc 90/20 Điểm mấu chốt là hầu hết mọi thứ không phải là 1:1
1.2.3.3.2 Sơ đồ tư duy là gì?
Mind Map là gì? Đó là cách hình hóa các thông tin dạng văn bản thành sơ đồ trực quan, sinh động, dễ hiểu Có sự kết hợp của từ khóa (thông tin chính) và màu sắc nhằm kích thích thị giác và não bộ dễ dàng ghi nhớ thông tin một cách có hệ thống
Cấu trúc sơ đồ tư duy
Cấu trúc hay cây sơ đồ tư duy đẹp gồm có từ khóa chính / chủ đề / ý tưởng chính Sau đó sẽ có các nhóm nhỏ hơn bổ trợ cho ý chính đó, các nhóm nhỏ lại có những nhóm nhỏ hơn nữa thể hiện thông tin chi tiết về ý chính / từ khóa chính,… Vì vậy, sau khi hoàn thành sơ đồ bạn sẽ nắm được toàn bộ nội dung bài học / công việc
Và đặc biệt là ghi nhớ nó một cách tốt nhất, đầy đủ chi tiết và không dễ quên đi
Một số người còn thêm các hình ảnh hoặc biểu tượng để sơ đồ cây đẹp hơn và
dễ ghi nhớ hơn
Trang 25 Kích thích não bộ tư duy.
Các công việc hoặc học tập của bạn sẽ có chất lượng tốt hơn vì khi dùng sơ đồ này đòi hỏi não bộ phải luôn suy nghĩ và tư duy
Kích thích não sáng tạo vì phải luôn nghĩ xem vẽ sơ đồ thế nào cho tốt, vẽ sơ đồđẹp, ghi thông tin gì, đưa hình ảnh gì vào sơ đồ…
1.3 Đề xuất giải pháp
Công cụ: Brainstorm
1.3.1 Định nghĩa của Brainstorm
Từ “BRAINSTORM” được phát minh bới ông trùm ngành quảng cáo Alex Faickney Osborn, xuất hiện đầu tiên trong quyển sách của ông này từ những năm
1948 Osborn, sau khi gặp phải vấn đề về ý tưởng quảng cáo từ sự bế tắc của lớp nhân viên, đã quyết định gom tất cả bọn họ vào một phòng và vắt kiệt bất cứ ý tưởng nào được nêu ra
1.3.2 Áp dụng Brainstorm trong các lĩnh vực nào?
Quảng cáo – Phát triển các ý kiến dành cho các kỳ quảng cáo
Giải quyết các vấn đề – các khó khăn, những phương hướng giải quyết mới, phân tích ảnh hưởng, và các đánh giá của vấn đề
Quản lý các quá trình – Tìm phương cách nâng cao hiệu quả công việc và xử lý sản phẩm
Quản trị các đề tài – nhận diện đối tượng, độ nguy hại, các phân phối, các tiến
độ công việc, tài nguyên, vai trò và trách nhiệm, thủ thuật, các vấn đề
Xây dựng đội ngũ – Tạo sự chia sẻ và bàn thảo về các ý kiến trong khi khuyến khích người trong đội ngũ tư duy