TIỂU LUẬN MÔN: BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Đề tài: SỰ RA ĐỜI, TỒN TẠI VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM... Sau đó là sự ra đời của loại hình báo chí thứ tư đã tạo nên bước ngoặ
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN: BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
Đề tài:
SỰ RA ĐỜI, TỒN TẠI VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
Trang 2Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
Có thể nói một trong những thành tựu vĩ đại của lịch sử văn minh nhân loại đã làm thay đổi cuộc sống của con người chính là sự ra đời của Internet Sau đó là sự ra đời của loại hình báo chí thứ tư đã tạo nên bước ngoặt trong quá trình truyền tin và tiếp nhận thông tin đó chính là Báo mạng điện tử Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Internet, Báo mạng điện tử cũng đang dần khẳng định được ưu thế của mình so với các loại hình báo chí hiện đại khác Việc nghiên cứu sự ra đời, tồn tại và xu thế phát triển của Internet và Báo mạng điện tử là nhu cầu cấp thiết cần để chúng ta có cái nhìn rõ hơn và toàn diện hơn về hai lĩnh vực này
2 Tình hình nghiên cứu.
Trong những năm gần đây khi Internet và Báo mạng điện tử đang có xu hướng phát triển mạnh và đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về hai lĩnh vực này, phần lớn là của các nhà khoa học, các giảng viên và sinh viên Khoa Phát thanh
Truyền hình của Học viện Báo chí và Tuyên truyền Riêng khoa Phát thanh -Truyền hình của Học viện Báo chí và Tuyên truyền trong đề cương chi tiết học phần nhập môn Báo mạng điện tử (đề tài nghiên cứu cấp cơ sở) do TS Nguyễn Thị Thoa làm chủ nhiệm đề tài cũng đã đề cập cụ thể về sự ra đời, tồn tại và phát triển của Internet và Báo mạng điện tử trên thế giới và ở Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu.
Internet và Báo mạng điện tử đã chính thức xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1997 Mặc dù ra đời muộn so với nhiều loại hình thông tin khác nhưng
đã làm thay đổi một cách mạnh mẽ xã hội Việt Nam Đề tài sẽ đi sâu vào “sự
ra đời, tồn tại và xu thế phát triển của Báo mạng điện tử ở Việt Nam”
4 Nội dung nghiên cứu.
trên thế giới và ở Việt Nam
Trang 3 Vai trò của Internet và Báo mạng điện tử trong xã hội.
5 Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu các tài liệu, các trang web và các đề tài đã làm trước đây
có liên quan đến vấn đề đặt ra
6 Kết cấu
Đề tài gồm hai chương:
- Chương I: Sự ra đời và phát triển của Internet trên thế giới và ở Việt Nam
- Chương II: Sự ra đời, tồn tại và phát triển của báo mạng điện tử trên thế giới và ở Việt Nam
Trang 4Nội dung Chương I : Sự ra đời và phát triển của Internet
trên thế giới và ở Việt Nam
1 Sự ra đời và phát triển của Internet trên thế giới.
Internet (gọi tắt là NET) là mạng máy tính toàn cầu, sử dụng giao thức TCP/IP để trao đổi thông tin giữa các máy tính trên mạng, bao gồm nhiều mạng máy tính được nối lại với nhau
Vào năm 1957, lần đầu tiên Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo Sputnich lên không trung, làm cho Hoa Kỳ lo ngại về một cuộc chiến tranh thế giới thứ
ba có thể xảy ra Ngay sau đó, Bộ Quốc phòng Mỹ đã thành lập một cơ quan
dự án nghiên cứu cao cấp (Advanced Research Projects Agency-ARPA) với mong muốn đưa khoa học kỹ thuật bậc cao vào quân đội, thử nghiệm độ tin cậy của hệ thống thông tin bằng mạng máy tính, sao cho một số máy bị sự cố thì các máy tính còn lại vẫn có thể liên lạc với nhau bình thường Đến năm
1974 Internet chính thức ra đời Trong thởi điểm này, các chuyên gia nghiên cứu đã đưa ra các giao thức (Protocol) truyền thông trên Internet
Tuy nhiên, Internet lúc này còn ở quy mô nhỏ, chủ yếu dựa vào văn bản và hình ảnh Vì chưa có một ngôn ngữ thống nhất nên người dùng máy tính truy cập vào mạng thường dùng các loại thông tin khác nhau Chính điều này đã dẫn đến sự ra đời của một ý tưởng: tạo ra một siêu văn bản (Hypertext)
để những người không có trình độ cao về tin học, chỉ cần có chút ít vốn tiếng Anh cũng có thể ngồi nhà xem được hoạt động của cả thế giới với số lượng thông tin lớn, cập nhật trong từng giây Ý tưởng này là của nhà tin học trẻ Ted Nelson đưa ra từ năm 1965 trong một bài viết có tên là “Computer Dreams”(Những giấc mơ máy tính)
Ý tưởng này được tin học hoá bởi một kỹ sư trẻ người Anh tên là Tim Berners Lee vào năm 1980 Với một chương trình được viết trên máy tính
Trang 5xách tay, nhằm mô phỏng sự liên kết hai chiều bất kỳ trong một số đồ thị, sự kết nối của siêu văn bản và ông đã đưa ra một dự án lưu trữ siêu văn bản (Hypertext) trên máy tính với mục đích dễ dàng tìm tài liệu liên quan
Đến năm 1990, cùng với Tim Berners Lee, Robert Cailliau đã đưa ra dự
án thiết kế hệ thống thông tin toàn cầu W.W.W (World Wide Web) dựa trên nền tảng siêu văn bản Nhưng quá trình trao đổi dữ liệu thông tin qua Internet giữa các máy tính không tương thích cách xa nhau hàng nửa vòng trái đất chỉ thực sự thành công khi Tim Berners Lee thử ngiệm với máy tính của nhà vật
lý Paul Kanz tại trung tâm gia tốc Tuyến tính Stanford(SLAC)vào ngày 12/12/1991
Nhà vật lý Paul Kanz đã “cảm thấy sốc” khi máy chủ web đầu tiên nằm ngoài châu Âu đã đi vào hoạt động tại Stanford, California Cơ sở dữ liệu tại Stanford được coi là ứng dụng web đầu tiên gây được ấn tượng sâu sắc, đưa
ra những lý lẽ đầy sức thuyết phục về việc sử dụng công nghệ mới Năm
1991, World Wide Web chính thức được ra đời
Có thể nói W W W là công nghệ Web - tập hợp các tiện ích và một siêu giao diện (meta-intterface), giúp người sử dụng tự tạo ra các siêu văn bản
và cung cấp cho người dùng trên Internet Công nghệ Web cho phép xử lý các trang dữ liệu đa phương tiện và truy nhập trên mạng diện rộng như Internet Thế nhưng, để dễ dàng tiếp cận được web phải có một trình duyệt thân thiện với người sử dụng Đó là Mosaic cho hệ điều hành Windows(giao diện đồ hoạ người dùng) của Marc Andressen sinh viên trường ĐH Tổng hợp Illinois Được hàng loạt người sử dụng và số lượng máy chủ web tăng nhanh, cho nên các trang web cũng tăng nhanh
Cho đến này, đã có sự hiểu nhầm giữa trang web và Internet Internet
là cơ sở hạ tầng cho phép các máy tính có thể nói chuyện với nhau trên toàn thế giới Trang web là giao diện cho phép người ta trao đổi dữ liệu, văn bản,
đồ thị, âm thanh, tranh ảnh hoặc những đoạn băng video trên Internet Internet
có nhiều dịch vụ tiện ích như; E-mail (Electronic mail- thư tín điện tử);
Trang 6W.W.W (World Wide Web-mạng thông tin toàn cầu); Chat(Hội thoại trực tuyến trên Internet); Telnet (Telephon Internet); WAIS (Wide Imformation Service - dịch vụ thông tin diện rộng); Gopher (dịch vụ cho phép định hướng truy cập các thông tin trên Internet bằng hệ thống menu) và ngoài ra còn có các dịch vụ khác như: VOIP (Voice over Internet Protocol – kỹ thuật chuyển tải giọng nói qua Internet); VIDEO CONFERENCE (Hội nghị truyền hình, Hội nghị hình đàm, Hội nghị từ xa)
Nhưng đến 1992, với sự ra đời của hàng loạt website thương mại và sự xuất hiện của nhà cung cấp thông tin thương mại đầu tiên - Delphi thì “thị trường”Internet bắt đầu sôi động dần Năm 1993, tổng số website mới chỉ đạt
300 Hiện nay, số lượng website đã lên tới vài ba trăm triệu
2 Sự ra đời và phát triển của Internet ở Việt Nam.
“Vào những năm 1996 - 1997 mà vẫn không cho phép mở cửa Internet thì chỉ trong vài ba năm sau đó Việt Nam sẽ thành ốc đảo…” Giáo sư Chu Hảo đã từng “cảnh tỉnh” điều đó cho tương lai phát triển của Internet tại Việt Nam Khi đó, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Khoa học- công nghệ- môi trường, Phó chủ nhiệm Ban chỉ đạo chương trình quốc gia về CNTT, thường trực Ban chỉ đạo Internet quốc gia Ngay từ năm 1992, Viện công nghệ thông tin(thuộc Viện khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, nay là Viện khoa học công nghệ Việt Nam) đã sớm sử dụng Internet như một thuê bao từ xa của Úc
Ở Việt Nam, vào đầu năm 1993, mạng VARANET (VietNam Academic Reseach Education Network) được thành lập, tạo tiền đề cho sự hình thành mạng lưới Internet ở Việt Nam VARANET là mạng máy tính phục vụ nghiên cứu khoa học và giáo dục ra đời từ chương trình hợp tác nghiên cứu khoa hoc, triển khai công nghệ thông tin thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia Việt Nam với sự hợp tác khoa học của Đại học Quốc gia Australia (ANU) Máy chủ (Server) của mạng VARANET đặt tại Đại học Quốc gia Australia Đây là thời gian Internet còn quá mới mẻ đối với Việt Nam VARANET chỉ có một chức năng duy nhất là phục vụ thư
Trang 7điện tử (e-mail) Số khách hàng thường xuyên của mạng này khoảng 3.000, trong đó khách hàng là người Việt Nam chỉ chiếm 10% Năm 1993-1997, VARANET là mạng máy tính duy nhất của Việt Nam kết nối Internet Chính
vì vậy, VARANET độc quyền phục vụ người có nhu cầu, không có đối thủ cạnh tranh
Sau VARANET, mạng diện rộng thứ hai hình thành ở Việt Nam là mạng VINANET (VietNam Network) Mạng này tuy không kết nối Internet nhưng lại là duy nhất cung cấp thông tin thương mại vào thời điểm 1993 đến
1997
Ngày 05/03/1997, Chính phủ ban hành quy định tạm thời quản lý Internet với phương châm “Quản lý đến đâu phát triển đến đó” tạo lập cơ sở pháp lý ban đầu cho các hoạt động của Internet tại Việt Nam Đến 19/11/1997, Chính phủ Việt Nam quyết định chính thức kết nối Internet thì tên miền (vn) được phía Australia bàn giao cho Tổng cục Bưu điện Việt Nam(nay là Bộ Bưu chính viễn thông) Bắt đầu hình thành hàng loạt nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) VARANET và VINANET bắt đầu thoái trào, mở đầu cho cao trào của Internet Việt Nam bằng sự phát triển của các nhà cung cấp dịch vụ Internet(ISP-Internet Service Provide) và các nhà cung cấp thông tin lên Internet(ICP-Internet Contents Provide)
Tiêu biểu là VNN(VietNam Network); FPT(Computer for Financing and Promoting Technology-Công ty tài chính và kỹ thuật quảng cáo); Saigonnet; Netnam; OCI(One Connection, Inc.) và CINET(Culture and Information Net)
Internet đã tác động mang đến những đổi thay trong đời sống cũng như những thách thức tới từng con người Việt Nam Đi vào cuộc sống hàng ngày của người dân Việt Nam một cách thầm lặng
Tính đến tháng 3/2010, theo số liệu của Bộ thông tin và Tuyên truyền,
cả nước Việt Nam có 4.625.027 thuê bao Internet quy đổi, có trên 23 triệu người sử dụng Internet, cao hơn bình quân khu vực ASEAN và thế giới Thị
Trang 8trường Internet tại Việt Nam cũng đang phát triển một cách nhanh chóng Theo báo cáo của Vụ viễn thông, Bộ Bưu chính viễn thông, hiện có 26 doanh nghiệp đã được cấp phép cung cấp dịch vụ Internet, 10 doanh nghiệp cung cấp trò chơi trực tuyến đã và đang chuẩn bị tham gia thị trường Về truy cập Internet, các doanh nghiệp ngoài tập đoàn Bưu chính viễn thông VNPT chiếm 49,6% thị phần; Điện thoại Internet OCI hơn 50%; Online Games:Vina Games hơn 50%
Về Internet tại Việt Nam, thông tấn xã Việt Nam đưa ra một con số đáng kinh ngạc: 3,5 tỷ USD Đó chính là mục tiêu đóng góp của lĩnh vực Internet và viễn thông cho nền kinh tế vào năm 2010 Cũng năm đó, mật độ thuê bao Internet trong nước đạt 13-15 thuê bao/100 dân, tỷ lệ người sử dụng Internet đạt 25-35% Riêng đối với lĩnh vực giáo dục và y tế, 100% Viện nghiên cứu, trường đại học và THPT đựơc kết nối Internet băng rộng, 90% trường THCS và bệnh viện cấp tỉnh được kết nối Internet
3.Vai trò của Internet trong đời sống xã hội
- Internet ra đời đã làm thay đổi nền văn minh loài người Internet là công nghệ thông tin liên lạc mới, nó tác động vào xã hội, cuộc sống của chúng ta, là một phương tiện cần thiết như điện thoại, tivi, tờ báo, hay đài phát thanh, nhưng ở một mức độ lớn hơn Ngồi ở nhà và với một cú clik chuột, chúng ta có thể biết mọi hoạt động của thế giới
- Internet ngày càng phát triển mạnh mẽ và rộng rãi Trên mạng Internet sẽ không còn tồn tại những mạng đơn lẻ có tính chất riêng tư nữa, mà
nó phát triển rộng rãi, ai cũng có thể tự do lên mạng và không có việc quản lý trong việc sử dụng
- Con người có thể liên lạc và nói chuyện với nhau giống như họ đang gặp nhau ở ngoài đời Con người có thể thiết lập cho mình một kênh giao tiếp với người khác gống như việc phát các kênh truyền hình
- Internet sẽ làm thay đổi những cách thức liên lạc truyền thống Con người có thể kết nối Internet qua truyền hình, điện thoại và tất cả các máy
Trang 9tính Các hình thức lưu trữ dữ liệu trên máy tính cũng sẽ mất đi và thay vào
đó là hình thức lưu trữ trực tuyến
- Các công ty truyền hình sẽ liên kết với các công ty điện thoại để tạo
ra một hình thức: TV/điện thoại Nó sẽ mang đến cho người sử dụng các hình thức giải trí thông tin liên lạc thông qua đầu thu TV
Tất cả các hoạt động sẽ được thực hiện bởi máy tính và Internet
+ Nhà nước sử dụng Internet để quản lý hành chính, điều hành công việc
+ Internet là một thư viện khổng lồ: cung cấp thông tin và các loại tư liệu (đọc báo, xem trang tin…)
+ Có thể trao đổi, giao dịch mua bán, quản lý hành chính, tìm nguồn hàng Có thể học lấy bằng qua mạng
+ Có thể giải trí theo sở thích của mình mà thông qua đặt trên mạng Internet Tìm bạn và trao đổi tình cảm, gọi điện thoại, nghe nhạc, chơi game, xem phim, xem truyền hình, được tư vấn(như tư vấn tiêu dùng, sức khoẻ…) Hàng loạt các weblog của cá nhân ra đời để giao lưu, trao đổi kinh nghiệm…
+ Internet còn là nơi để cho con người sáng tạo không ngừng, cả những sáng tạo có giá trị tích cực, cả tiêu cực Internet là một kho ứng dụng
và dịch vụ trực tuyến khổng lồ (như: google, yahoo, MSN, Email….), đáp ứng mọi nhu cầu của con người
Tuy nhiên, Internet cũng mang đến cho con người những điều phiền toái chẳng kém những điều bổ ích Mỗi khi sử dụng Internet, người ta cứ lo sợ hacker “nhòm ngó” đến mình Hacker đủ loại: chuyên nghiệp có, nghiệp dư
có với đủ các phương thức tấn công như: thư rác, phần mềm gián điệp, đánh cắp thông tin, website lừa đảo Những virut máy tính hàng ngày được hacker thả vào các trang web, phá hỏng đi không biết bao nhiêu công trình khoa học,
sự sáng tạo của loài người Hacker có thể đánh sập một trang web, có thể thâm nhập vào kho thông tin, “chộm” dữ liệu, ăn cắp tài sản, tống tiền, lừa đảo trên mạng….Ngoài ra, sự xuất hiện của các trang web đen mang tính kích
Trang 10dục, bạo lực….rất dễ làm hại đến những học sinh hàng ngày truy cập mạng Internet, làm tha hoá đạo đức của con người
An ninh mạng cũng là vấn đề làm các nhà khoa học đau đầu Internet càng phát triển thì những vấn đề gây phiền nhiễu càng lớn Những nguy cơ này cũng đòi hỏi con người phải hợp tác chặt chẽ với nhau để đáp ứng cứu an ninh mạng có hiệu quả
Trang 11Chương II:
Sự ra đời, xu thế phát triển của BMĐT
trên thế giới và ở Việt Nam
1 Khái niệm Báo mạng điện tử.
Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, có khá nhiều các quan niệm và định nghĩa khác nhau về Báo mạng điện tử Song chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa khái quát nhất và cụ thể nhất về Báo mạng điện tử :
BMĐT là hình thức báo chí thứ tư được sinh ra từ sự kết hợp những ưu thế của báo in, báo phát thanh, báo truyền hình; sử dụng yếu tố công nghệ cao như một nhân tố quyết định; quy trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nền tảng mạng Internet toàn cầu
2 Sự ra đời và phát triển của BMĐT
+Trên thế giới:
Đánh dấu sự ra đời của BMĐT trên thế giới là tờ Diễn đàn Chicago (Chicago Tribune), ra đời vào tháng 5/1992 - đặt máy chủ tại nhà cung cấp dịch vụ American online Dần dần các tờ BMĐT xuất hiện nhiều hơn nhưng gặp phải không ít rào cản: vì số lượng người có máy tính để đọc báo còn quá
ít, sự hạn chế và trục trặc khâu kỹ thuật, người đọc báo còn e ngại vì sự rắc rối trong việc sử dụng máy móc so với Báo in hoặc Phát thanh, Truyền hình
Tuy nhiên, năm 1993 web đã trở thành một phương tiện truyền tải thông tin nhanh chóng và hữu hiệu do cho kinh phí thấp và diện phổ quát lại cao Hầu như các tờ báo lớn, đài phát thanh, truyền hình lớn đều đã có trên mạng Internet Theo thống kê của tổ chức Tương tác giữa các nhà phát hành
và biên tập thì đầu năm 1995 có 154 tờ BMĐT Năm 1998 có 4925 tờ, năm
2000 tổng số đã lên tới 8474 tờ Theo thống kê của Newslink- Mạng thông tin Hoa Kỳ- thì có tới 67% dân số Hoa Kỳ đọc báo và tạp chí trên mạng Tại các nước châu Âu, khuynh hướng phát triển BMĐT ngày càng mạnh Tại Đức