1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tổng hợp câu hỏi thảo luận luật tố tụng dân sự việt nam

11 32 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 120 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là quyền nằm trong quyền tự định đoạt của đương sự được quy định tại khoản 2 Điều 5 BLTTDS1.. Hiện nay có nhiều trường hợp trong giai đ

Trang 1

BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN

CỦA LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

- Bản án số: 38/2018/DS-ST;

TÓM TẮT BẢN ÁN

Nêu vấn đề pháp lý

- Trả lời các câu hỏi sau:

Câu 1 Thế nào là thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn?

Thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là quyền nằm trong quyền tự định đoạt của đương sự được quy định tại khoản 2 Điều 5 BLTTDS1

Hiện nay có nhiều trường hợp trong giai đoạn chuẩn bị xét

xử sơ thẩm, nguyên đơn muốn thay đổi hoặc bổ sung yêu cầu hoặc sau khi Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm thì đương sự mới có thay đổi, bổ sung yêu cầu Ngoài việc quy định tại Điều 5 BLTTDS, vấn đề thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn còn được đưa ra tại các điều luật khác như khoản 4 Điều 70, khoản 2 Điều 71, khoản 2 Điều 210, Điều 243, Điều 244 BLTTDS

Theo công văn số 01/2017/GĐ - TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ của Tòa án các địa phương, trong đó tại mục

7, Phần IV đã hướng dẫn thực hiện nội dung để có thể hiểu hơn về thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:

1 Điều 5 Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

[…]

2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Trang 2

“Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng

cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu”.

Câu 2 Anh (chị) hiểu như thế nào là “thay đổi yêu cầu”, “thay đổi vượt quá yêu cầu”, “thay đổi trong phạm vi yêu cầu” Cho ví dụ minh họa.

- “Thay đổi yêu cầu” là việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hoặc khi nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện từ thời điểm Tòa án mở phiên họp trở đi với điều kiện việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu

- “Thay đổi trong phạm vi yêu cầu” là những thay đổi quan

hệ pháp luật cần giải quyết mà vẫn trong phạm vi của một hoặc nhiều quan hệ liên quan với nhau trong yêu cầu khởi kiện ban đầu

Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 244 BLTTDS, Công văn số 01/2017/GĐ -TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án tối cao

Ví dụ: A khởi kiện B vì cho rằng B lấn chiếm của A 20m2 đất, trong quá trình giải quyết vụ án, A cho rằng B lấn chiếm diện tích lớn hơn nên thay đổi yêu cầu khởi kiện B phải trả lại diện tích 25m2, trường hợp này A đang thay đổi yêu cầu khởi kiện đòi 25m2 thay vì 20m2 mà vẫn trong phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu

- “Thay đổi vượt quá yêu cầu” là những thay đổi vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu của nguyên đơn, thay đổi quan hệ pháp luật cần giải quyết mà vượt quá phạm vi yêu cầu

khởi kiện ban đầu Trong đó “yêu cầu khởi kiện ban đầu” được

Trang 3

hiểu là yêu cầu khởi kiện ban đầu gồm một hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau2

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 188, khoản 1 Điều 244 BLTTDS

Ví dụ: A khởi kiện B vì cho rằng B lấn chiếm của A 20m2 đất, trong quá trình giải quyết vụ án, A thay đổi yêu cầu B phải bồi thường thiệt hại do thời gian B lấn chiếm đất nên A không canh tác được, yêu cầu của A được coi là yêu cầu vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu

Câu 3 Mốc thời điểm cụ thể để xem xét việc chấp nhận hay không chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện?

BLTTDS chưa quy định cụ thể mốc thời điểm để xem xét việc chấp nhận hay không chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu như đối với bị đơn hoặc người có quyền, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên căn cứ theo Công văn số 01/2017 ngày 07/4/2017 của Tòa án tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ của Tòa án các địa phương, tại mục 7, Phần IV đã hướng dẫn thực hiện nội dung như sau:

“Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng

cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu”.

Như vậy, trường hợp nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng

cứ và hòa giải thì sẽ được chấp nhận Trường hợp nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện từ thời điểm Tòa án mở phiên họp trở đi thì việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chỉ được chấp nhận nếu việc thay đổi yêu cầu của

họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu

Cơ sở pháp lý: Điều 244 BLTTDS, mục 7 Phần IV Công văn số 01/2017 ngày 07/4/2017

2 Điều 188 Phạm vi khởi kiện

1 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan

hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án […]

Trang 4

Câu 4 Trường hợp nào thì chấp nhận hay không chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn?

Trường hợp chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của nguyên đơn khi nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hoặc khi nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện từ thời điểm Tòa án mở phiên họp trở đi mà việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu

Trường hợp không chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của nguyên đơn là khi từ thời điểm Tòa án mở phiên họp trở đi mà việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu

Câu 5 Khi đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình, đương sự có phải nộp tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu mới đó hay không? Nêu cơ sở? Thủ tục tố tụng khi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện?

Khi đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình, đương sự có phải nộp tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu mới đó hay không thì cần xét 2 trường hợp:

- Nếu trước khi toà thụ lý mà có bổ sung hay thay đổi yêu cầu thì Tòa Án xem xét yêu cầu đó chịu án phí như thế nào theo khoản 1 Điều 147 BLTTDS3

- Nếu đã thụ lý vụ án dân sự, trước khi bắt đầu phiên toà thì toà sẽ hỏi lại

nếu họ thay đổi bổ sung yêu cầu thì theo khoản 7 Công văn 01/2018: không phải

nộp án phí4

3 Điều 147 Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm

1 Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm.

4 Mục 7 Trường hợp tại phiên tòa sơ thẩm, đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu thì trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu đó như thế nào? Đương sự có phải làm lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu phản tố, đơn yêu cầu độc lập và có phải nộp tiền tạm ứng án phí đối với phần yêu cầu thay đổi, bổ sung đó không?

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 235, khoản 1 Điều 236, khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân

sự năm 2015, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa chỉ được Hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, khi được Chủ tọa hỏi có thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập hay không thì đương sự có quyền trình bày về việc thay đổi, bổ sung yêu cầu mà không phải làm lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu phản tố, đơn yêu cầu độc lập và không phải nộp tiền tạm ứng án phí đối với phần yêu cầu thay đổi, bổ sung đó Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự phải được ghi vào biên bản phiên tòa Trường hợp Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu thay đổi, bổ sung của đương sự thì phải ghi rõ trong bản án.

Trang 5

Câu 6 Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện được thực hiện trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án hay không? So sánh với quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu phản tố của bị đơn, quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện được thực hiện trong bất kỳ

giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn là người đưa ra yêu cầu khởi kiện có thể có thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của mình so với yêu cầu tại đơn khởi kiện

+ Giai đoạn thụ lí và chuẩn bị xét xử:

Nếu nguyên đơn có thay đổi hoặc bổ sung yêu cầu thì Tòa án cần xem xét

yêu cầu đó được thực hiện trước hay sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc

giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (phiên họp được mở trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) Nếu có thay đổi, bổ sung trước thời điểm mở phiên họp thì yêu cầu được chấp nhận, còn nếu có thay đổi hoặc bổ sung tại và sau phiên họp thì các thay đổi đó phải đáp ứng điều kiện không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu

+ Tại phiên tòa sơ thẩm:

Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của nguyên đơn quy định tại Điều 5, Điều

71, Điều 243 và Điều 244 BLTTDS đều xác định nguyên đơn có quyền thay đổi,

bổ sung hoặc rút yêu cầu của mình, nếu việc thay đổi, bổ sung đó của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu

- Quyền yêu cầu phản tố: là một quyền của bị đơn (người bị kiện) trong vụ

án dân sự, theo đó bị đơn có quyền kiện ngược lại nguyên đơn (người kiện) nếu như yêu cầu phản tố của bị đơn đáp ứng các điều kiện của quy định pháp luật

+ Trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 200 BLTTDS quy định về quyền yêu cầu

phản tố của bị đơn như sau “bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời

điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa

giải” Tương tự như vậy, tại khoản 2 Điều 201 BLTTDS quy định về quyền yêu

cầu độc lập của người có quyền, nghĩa vụ liên quan: “người có quyền, nghĩa vụ

liên quan có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra

Trang 6

việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” Như ở trên, có thể thấy

đối với yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập thì Tòa án chấp nhận xem xét khi yêu

cầu của bị đơn hoặc người có quyền, nghĩa vụ liên quan đưa ra trước thời điểm

Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ

+ Khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ:

bị xét xử

Phiên tòa sơ thẩm

Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ

Được thay đổi yêu

cầu khởi kiện nhưng phải đáp ứng điều kiện không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu

Được thay đổi yêu cầu

khởi kiện

Được thay đổi yêu

cầu khởi kiện nhưng phải đáp ứng điều kiện không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu

Quyền đưa ra yêu cầu

phản tố,

Quyền đưa ra yêu cầu

độc lập

Được thay đổi yêu

cầu phản tố/ yêu cầu độc lập nhưng phải đáp ứng điều kiện không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu

Được thay đổi yêu

cầu phản tố/ yêu cầu độc lập nhưng phải đáp ứng điều kiện không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu

Trang 7

BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 2 CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

1 Việc ủy quyền có thể được hình thành bằng những phương thức nào?

Trên thực tế việc đại diện theo ủy quyền diễn ra rất phổ biến, các bên có thể thỏa thuận tiến hành giao dịch bằng nhiều hình thức, kể cả bằng miệng tuy nhiên đối với các trường hợp quy định việc ủy quyền phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo hình thức đó mới có giá trị

Trong tố tụng dân sự, khi cá nhân, pháp nhân có yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, nếu cá nhân, pháp nhân không tự mình tham gia tố tụng tại Tòa án thì

họ có thể ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng, giữa đương sự với người đại diện theo ủy quyền phải xác lập văn bản ủy quyền Khoản 2 Điều 86 BLTTDS quy định về quyền, nghĩa vụ của người đại diện:

“1 Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa

vụ tố tụng dân sự của đương sự trong phạm vi mà mình đại diện.

2 Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa

vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền.”

Ủy quyền là căn cứ làm phát sinh quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện, đồng thời nó cũng là cơ sở để người ủy quyền tiếp nhận các kết quả pháp

lý do hoạt động ủy quyền mang lại Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự Căn cứ phát sinh đại diện theo ủy quyền là dựa trên sự ủy quyền của đương sự Khoản 4 Điều 85 BLTTDS

quy định về Người đại diện như sau: “4 Người đại diện theo ủy quyền theo quy

định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.”

2 Hợp đồng ủy quyền có bắt buộc phải được công chứng hay không? Trường hợp các chủ thể thực hiện việc ủy quyền thông qua hình thức trình bày bằng lời nói tại Tòa án thì có được chấp nhận hay không?

 Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định (theo Điều 562 Bộ luật Dân sự 2015) Bên cạnh đó, Điều 55 Luật Công chứng 2014 cũng chỉ quy định về thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền chứ không bắt buộc phải công chứng trừ một số trường hợp được nêu cụ thể tại văn bản chuyên ngành:

- Ủy quyền đăng ký hộ tịch: Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, yêu cầu đăng ký hộ tịch (khai sinh, xác định lại dân tộc…) được ủy quyền

Trang 8

cho người khác thực hiện thay Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản

có công chứng, chứng thực (theo Điều 2 Thông tư 15/2015/TT-BTP)

Không được ủy quyền trong trường hợp đăng ký kết hôn; đăng ký lại việc kết hôn; đăng ký nhận cha, mẹ, con

- Ủy quyền của vợ chồng cho nhau về việc thỏa thuận mang thai hộ phải lập thành văn bản có công chứng Việc ủy quyền cho người thứ ba không có giá trị pháp lý (khoản 2 Điều 96 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014)

Như vậy, hợp đồng ủy quyền không mặc nhiên phải công chứng, chứng thực mới có giá trị pháp lý trừ một số trường hợp bắt buộc.Trường hợp hợp đồng

ủy quyền bắt buộc phải công chứng, chứng thực nhưng không thực hiện mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong hợp đồng ủy quyền thì hợp đồng đó vẫn hiệu lực5

 Trường hợp các chủ thể thực hiện việc ủy quyền thông qua hình thức trình bày bằng lời nói tại Tòa án được chấp nhận khi việc ủy quyền đó được lập thành văn bản ủy quyền ngay tại Tòa án và có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc người được Chánh án Tòa án phân công theo khoản 6 Điều 272 BLTTDS:

“Điều 272 Đơn kháng cáo

6 Việc ủy quyền quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc người được Chánh án Tòa án phân công rong văn bản ủy quyền phải có nội dung đương sự

ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.”

3 Trong trường hợp cơ quan, tổ chức đóng dấu của cơ quan, tổ chức thì có phù hợp với quy định của pháp luật hay không? Thực tiễn trong trường hợp này như thế nào?

Trong thời gian chuẩn bị xét xử: Nếu phát hiện ra việc uỷ quyền không hợp lệ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử thì Toà án sẽ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nếu chưa có người thay thế

Trong giai Trường hợp ủy quyền không hợp lệ thì Tòa án xử lý như thế nào?

Câu 4: Trường hợp ủy quyền không hợp lệ thì Tòa án xử lý như thế nào?

Trả lời: Ủy quyền không hợp lệ có thể hiểu trong hai trường hợp sau:

5 Điều 129 BLDS 2015

Trang 9

Trường hợp 1: Ủy quyền không hợp lệ trong hợp đồng ủy quyền sai về mặt hình thức do không được công chứng đối với các trường hợp bắt buộc công chứng hoặc việc ủy quyền chỉ có xác nhận của bên ủy quyền Theo BLDS 2015, trường hợp hợp đồng sai về hình thức nhưng đã thực hiện được 2/3 nội dung hợp đồng thì Tòa

án vẫn công nhận hợp đồng đó Một hoặc các bên chưa thực hiện được ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng ủy quyền: Tòa án không công nhận hiệu lực của hợp đồng đó vì vi phạm quy định điều kiện về hình thức, hợp đồng bị vô hiệu , hủy tư cách đại diện

CSPL: Đ122, Đ129 BLDS2015

Trường hợp 2: Ủy quyền không hợp lệ do sai về nội dung trong hợp đồng ủy quyền ( tư cách của chủ thể đại diện) Theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 214, với trường hợp Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế thì Toà án sẽ ra quyết định "Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự" Như vậy cần phải xét xem trường hợp ủy quyền không hợp lệ có phải thuộc trường hợp Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế hay không ? Xác định những trường hợp chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự phải căn

cứ vào khoản 3, 4 Điều 140 BLDS 2015 và Điều 89 BLTTDS 2015 Tại khoản 3 Điều 140 BLDS 2015 quy định về chấm dứt đại diện theo ủy quyền có trường hợp: " e Người đại diện không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 134 BLDS 2015" Đây có thể được coi như trường hợp ủy quyền không hợp lệ, như thế sẽ làm chấm dứt đại diện theo ủy quyền Vì vậy, từ những quy định được dẫn chiếu như trên, ta có thể kết luận rằng với trường hợp ủy quyền không hợp lệ Toà

án sẽ ra quyết định chấm dứt việc đại diện theo ủy quyền và ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

=> Do đó, tùy vào việc sai về nội dung hay hình thức mà pháp luật có quy định cụ thể về cách xử lý các loại hợp đồng này

Câu 5: Hệ quả của việc Tòa án xác định sai tính hợp lệ về hình thức của hợp đồng

ủy quyền là gì? Có bắt buộc phải hủy tư cách đại diện hay không? Trường hợp hủy tư cách đại diện thì việc đại diện chấm dứt vào thời điểm bị hủy hay ngay từ đầu đã không tồn tại việc đại diện?

Trả lời:

- Hệ quả của việc TA xác định sai tính hợp lệ về hình thức của hợp đồng ủy quyền, xét các trường hợp sau:

+ Một hoặc các bên chưa thực hiện được ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng ủy quyền: Tòa án không công nhận hiệu lực của hợp đồng đó vì vi phạm quy định điều kiện về hình thức, hợp đồng bị vô hiệu , hủy tư cách đại diện

+ Một hoặc các bên đã thực hiện được ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng ủy quyền: Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng

Trang 10

Cspl: Điều 122, 129, 131 BLDS2015

- Không bắt buộc phải hủy tư cách đại diện khi xác định sai tính hợp lệ về hình thức hợp đồng ủy quyền

Như đã nói ở trên, khi một hoặc các bên chưa thực hiện được ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng ủy quyền thì sẽ hủy tư cách đại diện khi hình thức hợp đồng ủy quyền không hợp lệ Tuy nhiên, khi một hoặc các bên đã thực hiện được

ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng ủy quyền, lúc này Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng , vì vậy không thể hủy tư cách đại diện theo ủy quyền mà tư cách này sẽ chấm dứt theo quy định của pháp luật

- Trường hợp hủy tư cách đại diện thì ngay từ đầu đã không tồn tại việc đại diện Tòa án không công nhận => vô hiệu => không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập Điều 131 BLDS 2015

4 Hệ quả của việc TA xác định sai tính hợp lệ về hình thức của hợp đồng ủy quyền là gì? Có bắt buộc phải hủy tư cách đại diện hay không? Trường hợp hủy tư cách đại diện thì việc đại diện chấm dứt vào thời điểm bị hủy hay ngay từ đầu đã không tồn tại việc đại diện?

 Hệ quả của việc TA xác định sai tính hợp lệ về hình thức của hợp đồng ủy quyền: Xét các trường hợp sau:

- Một hoặc các bên chưa thực hiện được ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng ủy quyền: Tòa án không công nhận hiệu lực của hợp đồng đó6 vì

vi phạm quy định điều kiện về hình thức, hợp đồng bị vô hiệu7, hủy tư cách đại diện8

- Một hoặc các bên đã thực hiện được ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng ủy quyền: Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng9

 Không bắt buộc phải hủy tư cách đại diện khi xác định sai tính hợp lệ về hình thức hợp đồng ủy quyền

Như đã nói ở trên, khi một hoặc các bên chưa thực hiện được ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng ủy quyền thì sẽ hủy tư cách đại diện10 khi hình thức hợp đồng ủy quyền không hợp lệ Tuy nhiên, khi một hoặc các bên đã thực hiện được ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng ủy quyền, lúc này Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng11, vì vậy không thể hủy tư cách đại diện theo ủy quyền mà tư cách này sẽ chấm dứt theo quy định của pháp luật12

6 Điều 129 BLDS 2015

7 Điều 117, điều 129, điều 131, điều 407 BLDS 2015

8 Điều 142 BLDS 2015

9 Điều 129 BLDS 2015

10 Điều 117, điều 129, điều 131 BLDS 2015

11 Điều 129 BLDS 2015

12 Điều 89, điều 90, điều 422 BLTTDS

Ngày đăng: 27/03/2022, 20:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w