Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Tổ chức quản lý công tác Thông tin - Thư viện tại Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu của kiểm định chất lượng đào tạo
Trang 1Tổ chức quản lý công tác Thông tin - Thư viện tại Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu
của kiểm định chất lượng đào tạo
Bùi Thị Thu Hương
Trường Đại học Giáo dục Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Quản lý giáo dục; Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn : PGS.TS Đặng Xuân Hải
Năm bảo vệ: 2007
Abstract Giới thiệu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu: tổ chức và quản lý công tác Thông tin - Thư viện trong trường đại học, nêu lên vai trò, đặc điểm của hoạt động Thông tin - Thư viện trong trường đại học Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của trung tâm Thông tin - thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) về triển khai quy trình nghiệp vụ thư viện, tổ chức và quản lý của Trung tâm thông tin - thư viện Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm cải tiến công tác tổ chức và quản lý Thông tin - Thư viện nhằm đáp ứng yêu cầu của kiểm định chất lượng đào tạo tại ĐHQGHN như: nâng cao nhận thức về "Văn hóa chất lượng" của đội ngũ cán bộ trung tâm Thông tin - thư viện, hoàn thiện quy trình tổ chức quản lý theo yêu cầu kiểm định chất lượng, xác định và xây dựng các tiêu chí và tiêu chuẩn liên quan, hình thành một bộ phận đảm bảo chất lượng của trung tâm Thông tin - thư viện, ĐHQGHN
Keywords Giáo dục đại học; Kiểm định chất lượng; Quản lý giáo dục; Trung tâm Thông tin
- Thư viện; Đại học Quốc gia Hà Nội
Content
MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài:
Để có được một “lượng” tri thức nhất định cho mình, ngoài việc học tập ở trường, các
cá nhân phải tự học hỏi, tự trang bị cho mình các kiến thức cần thiết phục vụ việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu, đặc biệt trong điều kiện hiện nay, các trường đại học đang triển khai việc đào tạo theo tín chỉ, theo đó người học phải tăng cường thời gian tự học, điều này lại càng tăng thêm vai trò của thư viện trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo
Để đảm bảo chất lượng đào tạo, tháng 12/2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học Năm 2005, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng ban hành một bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường đại học riêng Trong đó, chất lượng của hoạt động thông tin - thư viện là một trong 10 tiêu chuẩn kiểm định chất lượng
Trang 2trường đại học (tại tiêu chuẩn 9 - Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác) Ngoài ra, còn có Bộ tiêu chuẩn của AUN (Mạng lưới đại học ASEAN), cũng có tiêu chí về Thư viện tại Mục 4.2 (Tự đánh giá thực hành), mục 11 (Trang thiết bị và cơ sở hạ tầng)
Tuy nhiên, cho đến nay, Trung tâm vẫn chưa có một nghiên cứu chính thức hay báo cáo tổng thể nào đề cập đến công tác kiểm định chất lượng ở Đại học Quốc gia Hà Nội
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Tổ chức quản lý công tác
Thông tin - Thư viện tại Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu của kiểm định chất lượng đào tạo”, với mục đích củng cố, phát huy những thành quả đạt được, tìm ra
những điểm còn hạn chế, xây dựng các biện pháp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm định chất lượng hiện nay của Đại học Quốc gia Hà Nội
2 Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu thực trạng tổ chức quản lý công tác Trung tâm Thông tin- Thư viện, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm đảm bảo chất lượng phục vụ và đáp ứng yêu cầu Kiểm định chất lượng tại Đại học Quốc gia Hà Nội
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích trên, luận văn xác định những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận tổ chức và quản lý công tác của Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Nghiên cứu về thực trạng tổ chức quản lý công tác của Trung tâm Thông tin - Thư viện và mức độ đáp ứng yêu cầu Kiểm định chất lượng hiện nay của Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Đề xuất những biện pháp tổ chức quản lý công tác của Trung tâm Thông tin- Thư viện đáp ứng yêu cầu Kiểm định chất lượng tại Đại học Quốc gia Hà Nội
4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp tổ chức quản lý công tác của Trung tâm
Thông tin - Thư viện đáp ứng yêu cầu Kiểm định chất lượng hiện nay của Đại học Quốc gia
Hà Nội
- Khách thể nghiên cứu: Tổ chức công tác Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học
Quốc gia Hà Nội
Trang 35 Giải thuyết khoa học:
Nếu các biện pháp tổ chức quản lý công tác của Trung tâm Thông tin - Thư viện được
đề ra trong luận văn được thực hiện một cách triệt để và đồng bộ thì sẽ góp phần đổi mới hoạt động của Trung tâm Thông tin- Thư viện và đáp ứng được yêu cầu Kiểm định chất lượng hiện nay của Đại học Quốc gia Hà Nội
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Ý nghĩa lý luận:
Luận văn hệ thống hóa được các cơ sở lý luận về tổ chức quản lý công tác của Trung tâm Thông tin- Thư viện trong mối quan hệ với các tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm định chất lượng trường đại học
- Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu có thể góp phần làm cơ sở khoa học để xây dựng quy trình tổ chức
và quản lý hệ thống Thông tin- Thư viện tại Đại học Quốc gia Hà Nội theo yêu cầu của Kiểm định chất lượng trường đại học
7 Phương pháp nghiên cứu:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.3 Phương pháp thống kê và phân tích số liệu
8 Giới hạn của đề tài:
8.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Do mục đích nghiên cứu đã đặt ra nên luận
văn tập trung nghiên cứu tổ chức quản lý công tác của Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội đáp ứng yêu cầu Kiểm định chất lượng trường đại học
8.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: chỉ nghiên cứu ở Trung tâm Thông tin - Thư
viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
8.3 Giới hạn về thời gian nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu hoạt động Thực của công
tác Thông tin- Thư viện từ năm 2004 đến nay
Trang 4CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những khái niệm cơ bản:
Chúng tôi bắt đầu công việc nghiên cứu của mình bằng cách tìm hiểu nội hàm của một
số khái niệm có liên quan tới đề tài, đồng thời là kiến thức công cụ để nghiên cứu việc tổ chức quản lý công tác Thông tin - Thư viện đáp ứng yêu cầu Kiểm định chất lượng tại Đại học Quốc gia Hà Nội
1.1.1.Quản lý và chức năng quản lý:
Theo các tác giả, quản lý là sự tác động có định hướng của người quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra
Với tư cách là yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong việc duy trì và phát triển một tổ chức, quản lý có bốn chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
1.1.2 Khái niệm Tổ chức hoạt động: tổ chức được hiểu là hoạt động, một quá trình
tác động, trong đó có người tổ chức và người được tổ chức, bao hàm sự phân bố, sắp xếp tương hỗ và sự liên hệ qua lại của các yếu tố trong một phức hợp nào đó Tổ chức giờ lên lớp, hình thức tổ chức dạy học được hiểu theo nghĩa này, tức là cách thức sắp xếp các biện pháp
sư phạm thích hợp để tiến hành các buổi học tập của học sinh
1.1.3 Thông tin - Thư viện: UNESCO định nghĩa: “Thư viện, không phụ thuộc vào
tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác, kể cả đồ họa, nghe- nhìn, và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí”
1.1.4 Chất lượng đào tạo và Kiểm định chất lượng trường đại học:Cách tiếp cận
khái niệm chất lượng được đa số các nhà hoạch định chính sách và quản lý giáo dục đại học,
kể cả tổ chức Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế (INQAAHE - International Network for Quality Assurance Agencies in Higher Education) sử dụng là tính phù hợp với mục đích - hay đạt được các mục đích đề ra trước đó Chất lượng với tư cánh là hiệu quả của việc đạt mục đích của trường đại học
Trang 5Kiểm định chất lượng trường đại học là hoạt động đánh giá bên ngoài nhằm công nhận trường đại học đáp ứng mục tiêu đào tạo đề ra Kiểm định chất lượng trường đại học nhằm xác định mức độ đáp ứng mục tiêu đào tạo đề ra của trường trong từng giai đoạn nhất định
1.2 Cơ sở lý luận tổ chức và quản lý công tác Thông tin - Thư viện trong trường đại học:
1.2.1 Vai trò của Trung tâm Thông tin - Thư viện trong trường đại học: Thư viện
trường đại học là trung tâm thông tin văn hóa, khoa học kỹ thuật của một trường đại học, là một bộ phận trong cơ cấu tổ chức của trường đại học Như vậy, ngoài chức năng đảm bảo và phục vụ thông tin, tư liệu, sách báo cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường như các cơ quan thông tin - thư viện khác, thư viện trường đại học còn như là một cơ quan văn hóa giáo dục cho sinh viên Thư viện còn có nhiệm vụ lưu giữ các kết quả nghiên cứu khoa học, đào tạo của cán bộ và sinh viên trường đại học
1.2.2 Đặc điểm của hoạt động Thông tin - Thư viện trong trường đại học:
- Người dùng tin trong trường đại học chủ yếu là cán bộ, giảng viên và sinh viên
- Nguồn lực thông tin trong trường đại học tập trung chủ yếu trong thư viện/ trung tâm
thông tin - thư viện còn được gọi là vốn tài liệu thư viện
- Công tác thông tin - thư viện trong trường đại học thường được giao cho một bộ phận
gọi là Trung tâm Thông tin - Thư viện, hay Thư viện trường đại học đảm nhiệm Chủ thể quản lý hoạt động Thông tin - Thư viện trong trường đại học có thể xem xét ở hai mức độ: chủ thể quản lý trực tiếp là Hiệu trưởng/Giám đốc trường đại học; chủ thể quản lý gián tiếp,
là Bộ Văn hóa - Thông tin, thông qua cơ quan quản lý ngành là Vụ Thư viện
- Tổ chức quản lý công tác thông tin - thư viện trong trường đại học chính là tổ chức quản lý các đối tượng: Kho tài liệu thư viện/nguồn lực thông tin; Bạn đọc/người dùng tin; Cán bộ thư viện; Cơ sở vật chất
1.3 Yêu cầu của Kiểm định chất lượng đào tạo đối với công tác thông tin - thư viện:
- Theo Quy định tạm thời về Kiểm định chất lượng trường đại học (Ban hành kèm theo Quyết định số: 38/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 02 tháng 12 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Trang 6- Theo Bộ Tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đơn vị đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội (Ban hành kèm theo Quyết định số 05/2005/QĐ- KĐCL ngày 13 tháng 12 năm 2005 của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội)
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN -
THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 2.1 Thực trạng triển khai qui trình nghiệp vụ thư viện tại Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trung tâm Thông tin - Thư viện được thành lập theo quyết định số 66/TCCB ngày 14 tháng 2 năm 1997 của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội trên cơ sở hợp nhất các thư viện của các trường đại học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng
Bộ máy tổ chức của Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc Gia Hà Nội gồm:
Ban Giám đốc, Hội đồng Thư viện, Các phòng chuyên môn và chức năng
2.2 Thực trạng tổ chức và quản lý Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
2.2.1 Thực trạng thực hiện các tiêu chí - tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đối với Trung tâm Thông tin - Thư viện ở Đại học Quốc gia Hà Nội
Để biết rõ thực trạng thực hiện các tiêu chí - tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đối với
Trung tâm Thông tin - Thư viện ở Đại học Quốc gia Hà Nội, chúng tôi đã tiến hành điều tra trên 98 cán bộ quản lý và cán bộ thư viện; 300 người dùng tin (trong đó có 200 sinh viên và
100 cán bộ nghiên cứu và giáo viên) với các nội dung:
- Tổ chức và quản lý cán bộ thư viện
- Tổ chức và quản lý vốn tài liệu của thư viện
- Tổ chức và quản lý các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
- Tổ chức và quản lý cơ sở vật chất
- Tổ chức và quản lý hoạt động hợp tác trong nước - quốc tế
Kết quả điều tra và nghiên cứu được tổng hợp và trình bày theo các nội dung dưới đây:
Bảng 1: Thực trạng thực hiện các tiêu chí - tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đối với
Trung tâm Thông tin - Thư viện ở Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 7STT Hoạt động Đã làm tốt Đạt yêu cầu Chƣa đạt
yêu cầu
1 Tổ chức và quản lý cán bộ thư
viện
17 (17%)
60 (61%)
21 (22%)
2 Tổ chức và quản lý nguồn tài
liệu thư viện
20 (20%)
53 (54%)
25 (26%)
3 Tổ chức và quản lý các sản
phẩm thông tin - thư viện
14 (14%)
54 (55%)
30 (31%)
4 Tổ chức và quản lý các dịch
vụ thông tin - thư viện
12 (12%)
64 (65%)
22 (23%)
5 Tổ chức và quản lý cơ sở vật
chất
9 (9%)
70 (71%)
19 (20%)
1 Tiến sĩ, 6 Thạc sĩ, 69 Cử nhân và 22 Trung cấp.Theo cơ cấu tổ chức, đội ngũ cán bộ được sắp xếp như sau: Số cán bộ ở các phòng Chuyên môn nghiệp vụ là 25 người (chiếm 25,5%); Cán bộ các phòng Phục vụ bạn đọc là 50 người (chiếm 51,0%) và cán bộ thuộc khối các phòng Chức năng là 23 người (chiếm 23,5%)
- Công tác quản lý và phát triển vốn tài liệu thư viện đã có những bước đáng kể Theo điều tra, phần lớn cán bộ thư viện (74%) được khảo sát đánh giá là đã thực hiện tốt, nhưng vẫn có 26% đánh giá chưa thực hiện tốt Trong 10 năm hoạt động, từ năm 1997 đến năm
2007, Trung tâm đó bổ sung được 207.000 bản sách (12.752 đầu sách), đưa tổng số sách lên 750.000 bản với 128.000 đầu sách và 3.000 tên báo/ tạp chí với 450.000 bản
- Kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn cán bộ thư viện (74%) đánh giá là đã thực hiện tốt công tác tổ chức và quản lý các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện và có 26% đánh giá chưa thực hiện tốt Trung tâm có các loại sản phẩm thông tin - thư viện rất đa dạng như: thư mục, giáo trình, sách tham khảo, tạp chí, tài liệu tra cứu, cơ sở dữ liệu, nguồn tin điện tử
và các vật mang tin khác Các dịch vụ thông tin - thư viện của Trung tâm do các phòng Phục
vụ bạn đọc và phòng Thông tin- Thư mục đảm nhiệm nhằm thỏa mãn nhu cầu tin của bạn đọc Các hoạt động dịch vụ này thể hiện kết quả của hàng loạt các hoạt động khác của Trung tâm Hệ thống phục vụ bạn đọc là phương thức phục vụ luôn được cải tiến, mở rộng và nâng
Trang 8cao chất lượng các loại hỡnh dịch vụ từ truyền thống đến hiện đại Đó là các loại hỡnh: tra cứu tài liệu (trờn mỏy tớnh và mục lục truyền thống); đọc; mượn; thông tin chọn lọc; đa phương tiện và Internet Thực tế cho thấy phũng đọc mở là một trong những loại hỡnh dịch
vụ thư viện tiên tiến mang lại hiệu quả cao nhất cho người đọc, do đó tại tất cả các phũng Phục vụ Bạn đọc của Trung tâm đến nay đều đó triển khai phục vụ loại hỡnh này
- Công tác tổ chức và quản lý cơ sở vật chất được phần lớn cán bộ thư viện (80%)
được khảo sát đánh giá là đã thực hiện tốt và có 20% đánh giá chưa thực hiện tốt Hạ tầng cơ
sở thông tin gồm hệ thống máy tính và thiết bị mạng dây là cơ sở vật chất không thể thiếu được của một thư viện hiện đại
- Công tác tổ chức hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế được phần lớn cán bộ thư
viện (76%) được khảo sát đánh giá là đã thực hiện tốt và có 24% đánh giá chưa thực hiện tốt Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia có quan hệ mật thiết với các thư viện trường đại học, là một trong những đơn vị tích cực tham gia vào hoạt động của Liên hiệp thư viện các trường đại học trong nước, khu vực và quốc tế
2.2.2 Đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu của Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay
Qua quá trình nghiên cứu, khảo sát quá trình tổ chức và quản lý công tác thông tin- thư viện cho thấy những mặt mạnh, mặt yếu và mức độ đáp ứng yêu cầu phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học của Trung tâm Thông tin- Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
2.2.2.1 Ưu điểm:
- Đội ngũ cán bộ tăng nhanh về số lượng, được sắp xếp và bố trí phù hợp chuyên môn nghiệp vụ và đảm nhiệm thêm nhiều nhiệm vụ mới Trình độ cán bộ quản lý cũng như cán bộ chuyên môn, công nhân viên của Trung tâm đã nâng lên, nắm được và làm chủ hầu hết các công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin
- Loại hình sản phẩm thông tin - thư viện hiện nay rất đa dạng phong phú về chủng loại, nhiều về số lượng, thường xuyên được cập nhật, đầu tư Đã có các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện mới như phòng đọc mở cho kho tài liệu tra cứu, báo và tạp chí mới, các tài liệu nghe - nhìn, tài liệu điện tử được phục vụ ở phòng đa phương tiện, đáp ứng được nhu cầu tin để học tập, giảng dạy và nghiên cứu của sinh viên và cán bộ, giáo viên
Trang 9- Cơ sở vật chất, phòng đọc và mượn được nâng cấp lên một bước đáng kể, có đủ số chỗ ngồi cho độc giả Hàng tuần mở cửa thêm vào ngày thứ bảy Vào kỳ thi kéo dài thời gian
mở cửa đến 20h hằng ngày, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên và cán bộ đến nghiên cứu và học tập
- Trung tâm đã xây dựng được hạ tầng cơ sở thông tin giúp cho việc áp dụng công nghệ thông tin thuận lợi Cơ sở dữ liệu ngày càng phong phú, bao gồm cơ sở dữ liệu của Trung tâm và nhập từ nguồn bên ngoài Khả năng truy cập tại chỗ và từ xa đến nguồn tin của Trung tâm và từ nguồn tin của Trung tâm đến các nguồn tin bên ngoài đã được tăng cường nhờ hệ thống máy tính được nối mạng và áp dụng công nghệ mới như Web,…
Có được những mặt mạnh trên là do Trung tâm hoạt động trong môi trường thuận lợi rất cơ bản cả bên ngoài lẫn bên trong Đó là sự hỗ trợ đắc lực của các công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin cho công tác thông tin - thư viện; Các cơ chế, chính sách của Đại học Quốc gia Hà Nội tạo môi trường thuận lợi cho Trung tâm hoạt động tự chủ hơn; Đội ngũ người dùng tin trong Đại học Quốc gia đông đảo, có trình độ cao và nhu cầu tin tiềm năng và
ổn định Thêm vào đó với đội ngũ cán bộ thông tin - thư viện có bề dày kinh nghiệm từ các thư viện trường đại học thành viên trước kia, lại được bổ sung một lực lượng cán bộ trẻ, năng động, nắm bắt nhanh công nghệ mới, tạo thành một nội lực mới cho Trung tâm
2.2.2.2 Nhược điểm:
- Đội ngũ cán bộ tuy đông về số lượng nhưng chất lượng chưa cao, thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn sâu và giỏi ngoại ngữ để giải quyết các công việc mới như áp dụng công nghệ thông tin, công tác hợp tác quốc tế Đặc biệt thiếu nhiều nhân viên kỹ thuật để bảo quản tài liệu, trang thiết bị kỹ thuật của một Trung tâm Thông tin - Thư viện hiện đại có quy mô lớn và nằm ở nhiều địa bàn xa nhau
- Vốn tài liệu còn thiên nhiều về khoa học cơ bản, các tài liệu về các ngành khoa học công nghệ mũi nhọn mới bổ sung được ít, nguồn tài liệu nhận qua trao đổi lạc hậu, Trung tâm chưa chủ động được trong việc đặt yêu cầu cho phía bạn trong việc trao đổi tư liệu Công tác thanh lọc tài liệu cũ tồn đọng lâu nay chưa thực hiện được nhiều, do vậy công tác tổ chức kho
và thống kê gặp nhiều khó khăn do thiếu diện tích
- Chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện còn nhiều vấn đề, như tính chính xác và ổn định của các cơ sở dữ liệu do Trung tâm xây dựng chưa cao, chưa dùng để
Trang 10trao đổi quốc tế được Sản phẩm thông tin còn chủ yếu là thông tin về tài liệu gốc, chưa có nhiều sản phẩm thông tin có giá trị gia tăng cao Dịch vụ thông tin - thư viện cho người dùng tin là cán bộ của Đại học Quốc gia Hà Nội chưa tiện lợi và phù hợp với điều kiện nghiên cứu
và giảng dạy của đối tượng này
- Phòng tư liệu của các đơn vị chưa được tin học hóa, chưa hòa mạng tra cứu chung với Trung tâm và các cơ sở trong và ngoài nước Vì vậy, Trung tâm hiện nay chưa bao quát được các phòng tư liệu Khoa trong toàn Đại học Quốc gia Hà Nội, do vậy chưa kiểm soát được nguồn thông tin phong phú nằm phân tán ở các đơn vị này Và do vậy, chưa có sự phối hợp để chia sẻ và phục vụ thông tin tư liệu với các thư viện - tư liệu Khoa nhằm giảm bớt sự quá tải của Trung tâm và tạo điều kiện cho người dùng tin, nhất là cán bộ trong Đại học Quốc gia Hà Nội
- Do diện tích chung rất hẹp nên diện tích dành cho phòng tư liệu tại các đơn vị còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ số chỗ cần thiết so với nhu cầu
2.2.3 Đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu của Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay so với yêu cầu của Kiểm định chất lượng đào tạo tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Từ thực trạng hoạt động của Trung tâm và thông qua khảo sát ý kiến của cán bộ lãnh đạo, cán bộ thư viện, người dùng tin (giáo viên, cán bộ nghiên cứu và sinh viên), chúng tôi đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu của Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay so với yêu cầu của Kiểm định chất lượng đào tạo tại Đại học Quốc gia Hà Nội theo các tiêu chí đã trình bày ở phần II
Về mức độ đáp ứng yêu cầu của Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia
Hà Nội hiện nay so với yêu cầu của Kiểm định chất lượng đào tạo ở Đại học Quốc gia Hà Nội Số liệu thu được ở bảng 9 cho thấy: Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia
Hà Nội đã đáp ứng với các tiêu chí theo yêu cầu của Kiểm định chất lượng đào tạo ở Đại học
Quốc gia Hà Nội ở mức chuẩn khu vực (đạt cấp độ 3) Điều này thể hiện ở phần lớn cán bộ,
giáo viên, sinh viên (chiếm trên 80%) đều đánh giá ở mức độ này trong tất cả các hoạt động của Trung tâm
Bảng 9: Đánh giá hoạt động của Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội theo yêu cầu của Kiểm định chất lượng đào tạo
Trang 11STT Công tác Đạt cấp
độ 4 (Chuẩn Quốc tế)
Đạt cấp
độ 3 (Chuẩn khu vực)
Đạt cấp
độ 2
Đạt cấp độ
1
1 Tổ chức và quản lý cán bộ thư
viện
58 14,5%
331 83,2%
9 2,3%
0 0%
2 Tổ chức và quản lý nguồn tài
liệu thư viện
65 16,4%
319 80,1%
14 3,5%
0 0%
3 Tổ chức và quản lý các sản
phẩm thông tin- thư viện
56 14,2%
325 81,7%
17 4,1%
0 0%
4 Tổ chức và quản lý các dịch vụ
thông tin- thư viện
36 9,1%
339 85,2%
23 5,7%
0 0%
5 Tổ chức và quản lý cơ sở vật
chất
46 11,7%
319 80,4%
33 7,9%
0 0%
6 Tổ chức và quản lý hoạt động
hợp tác trong nươc và quốc tế 35
8,9%
344 86,5%
19 4,6%
0 0%
337 84,9%
23 5,5%
0 0%
Mức độ đánh giá ở trên căn cứ vào các tiêu chí cụ thể Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội đạt được như sau:
Về nguồn tài liệu:
- Có đủ các loại sách báo, tài liệu đáp ứng nhu cầu về nghiên cứu và học tập của cán
bộ giảng dạy và sinh viên, cũng như nhu cầu về tìm hiểu về văn học, lịch sử, văn hóa và các nhu cầu về giải trí của độc giả
- Tỉ lệ trung bình 306 đầu sách/giảng viên và 22,5 đầu sách/sinh viên
- Hàng năm đều được bổ sung sách và các tài liệu nghiên cứu do các tổ chức quốc tế, các trường đại học nước ngoài tặng
Trang 12Đặc biệt, trong những năm gần đây, số lượng tài liệu bổ sung tăng lên đáng kể về nội dung cũng như loại hình (Bảng 10)
Trong năm 2006 -2007 số lượng tài liệu bổ sung gồm: 24.417 cuốn giáo trình và sách tham khảo (bao gồm cả giáo trình nhận tức trường Đại học Khoa học tự nhiên và Nhà xuất bản Đại học Quốc gia); Trên 300 tên báo, tạp chí tiếng Việt và 32 tạp chí tiếng nước ngoài; 5.816 cuốn sách tiếng Anh từ Quỹ Châu Á và Quỹ VSVN; 108 tên báo và tạp chí từ dự án Quỹ Ford Ngoài ra, Trung tâm còn nhận lưu chiểu 993 cuốn luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học và xuất bản phẩm của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Nét nổi bật là đã
bổ sung được nhiều tài liệu nước ngoài có giá trị khoa học cao, phục vụ trực tiếp cho đào tạo theo tín chỉ và đào tạo chất lượng cao của Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngoài ra, phối hợp với Bộ môn Hán - Nôm, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trung tâm đã bổ sung được một loại tài liệu đặc biệt, đó là các Thác bản Văn bia sưu tập
ở khu vực phía Bắc nước ta với số lượng là: 2000 bản Nguồn tài liệu mới này sẽ phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực văn học và lịch sử cổ trung đại Việt Nam
Loại hình tài liệu ngoài tài liệu in như cassette, băng tiếng, băng hình, đĩa CD - Rom là loại tài liệu được bổ sung thường xuyên ở các phòng Multimedia để phục vụ bạn đọc, nhất là các đĩa CD CSDL về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, công nghệ, khoa học giáo dục Cụ thể là:
- Bộ sưu tập tài liệu điện tử gồm 6 CSDL bài đăng tạp chí khoa học nước ngoài trên CD-Rom
- Nguồn tin ONLINE gồm 3 CSDL sách, tạp chí, luận văn (50.000 biểu ghi), 8 CSDL
do Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và Công nghệ quốc gia (NACESTID) cung cấp gồm CSDL sách của Thư viện Quốc gia, CSDL Sinh học, CSDL Năng lượng - Điện tử - Tin học và một số các CSDL khác như bài trích về KHCN, các đề tài nghiên cứu đang tiến hành hoặc đó kết thỳc ở Việt Nam
Sản phẩm thông tin - thư viện:
- Trung tâm Thông tin - Thư viện được tin học hóa và quản lý bằng mạng máy tính, được nối mạng và liên kết khai thác tài liệu trong nội bộ Đại học Quốc gia Hà Nội, có hệ thống tài liệu điện tử giúp người đọc có thể tra cứu
Trang 13- Sách và tài liệu trong thư viện được tra cứu qua mạng, thường xuyên cập nhật tài liệu mới, có nhiều biện pháp khuyến khích cán bộ, người học khai thác có hiệu quả các tài liệu
Sản phẩm thông tin - thư viện đa dạng và phong phú với số lượng tài liệu được phân loại - biên mục hằng năm tăng rõ rệt (xem bảng 11 trong bản luận văn)
Trong năm 2006 - 2007, Trung tâm đã biên mục theo quy trình của phần mềm Libol với tổng số 10.972 tên tài liệu (11.390 cuốn sách tham khảo, tra cứu, luận án) và 8.264 cuốn giáo trình, 87 tên tạp chí; Xử lý tài liệu theo chuẩn mới và tổ chức kho mở phòng đọc Mễ Trì với tổng số 23.228 cuốn sách Ngoài ra Trung tâm thường xuyên tập hợp, lọc dữ liệu thư mục thông báo sách mới hàng tháng cho Bản tin Điện tử của Trung tâm, trung bình mỗi tháng giới thiệu 120 biểu ghi thư mục
Hiện nay, tổ chức và quản lý tài liệu theo phương thức hiện đại với hệ thống máy tính,
Trung tâm đã xây dựng cơ sở dữ liệu gồm: 43.000 biểu ghi sách, 1656 biểu ghi tên tạp chí,
1000 biểu ghi luận án sau đại học Cơ sở dữ liệu được tạo lập từ kết quả của việc xử lý tập trung tài liệu và xử lý hồi cố các kho tài liệu thư viện các trường đại học cũ theo quy định mới Cơ sở dữ liệu được chuyển đổi sang SQL Server 6.5 để tiện sử dụng cho tra cứu trên mạng và máy tính đơn lẻ Cơ sở dữ liệu này đã phát huy tác dụng cho việc tra cứu, khai thác nguồn tin của Trung tâm Việc tra cứu tư liệu trên máy tính của bạn đọc trong Trung tâm đã trở thành phổ biến Có đến 40% số bạn đọc (trong tổng số 200 người được hỏi) đã sử dụng cơ
sở dữ liệu của Trung tâm Đồng thời, các cán bộ phòng Thông tin - Thư mục cũng từ cơ sở dữ liệu này khai thác, biên tập và xuất bản các thư mục khác theo yêu cầu Trung tâm đã nhập 5
cơ sở dữ liệu từ nước ngoài trên đĩa CD- ROM từ công ty INFO ACCESS, Singapore Đây là
cơ sở dữ liệu về các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, công nghệ và khoa học giáo dục Các thông tin trong cơ sở dữ liệu này chủ yếu là ở dạng thư mục tóm tắt
và có một số ở dạng toàn văn
Trong năm học 2006 - 2007, hàng tháng Trung tâm xuất bản định kỳ Bản tin Điện tử, Bản tin điện tử là sản phẩm thông tin mới nhờ công nghệ web Bản tin có địa chỉ trên mạng:
công cụ tra cứu cần thiết cho bạn đọc trong Đại học Quốc gia Hà Nội Ngoài việc phục vụ trên mạng, Bản tin còn được in ra giấy với số lượng từ 500 đến 700 bản/ số để phục vụ những
cá nhân và tập thể bạn đọc chưa có điều kiện nối mạng