1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quyền được chăm sóc giáo dục của trẻ em, từ pháp luật đến thực tiễn

9 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 44,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận Quyền được chăm sóc giáo dục của con, từ pháp luật đến thực tiễn. Theo quy định của Luật Trẻ em; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật quốc tế.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Quyền được chăm sóc, giáo dục là một quyền quan trọng của trẻ em, được ghi nhận trong Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em 1989 (Convention on the Rights of the Child) Dựa vào văn bản pháp lý này, các quốc gia thành viên phải tôn trọng ghi nhận quyền được chăm sóc

và giáo dục của trẻ em trong hệ thống pháp luật và bảo đảm thực hiện một cách nghiêm túc Bên cạnh đó, Công ước cũng quy định trách nhiệm của cha mẹ trong việc đảm bảo thực hiện các quyền của trẻ em Trong những năm qua, công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em luôn được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm, được coi là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu để bảo đảm an sinh xã hội, vì mục tiêu phát triển ổn định và lâu dài của đất nước Năm

2004, Quốc hội đã ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, quy định các quyền cơ bản, bổn phận của trẻ em đồng thời nêu trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Để có một môi trường an toàn thì hệ thống pháp luật là điều kiện tiên quyết, bên cạnh đó là sự chung tay của các cơ quan hành pháp, tư pháp, của hệ thống hỗ trợ - bảo vệ trẻ em, nhà trường và cộng đồng Đồng thời, không thể thiếu vai trò của chính gia đình của các em.Với những nỗ lực không ngừng của Việt Nam trong việc tôn trọng ghi

nhận quyền, thì việc bảo đảm thực hiện quyền trên thực tế vẫn còn nhiều hạn chế Tìm hiểu và

phân tích thực trạng bảo đảm quyền được chăm sóc, giáo dục của trẻ em từ góc độ của cha mẹ,

em chọn đề số 15: “Quyển được chăm sóc, giáo dục của con Từ pháp luật đến thực tiễn thực hiện.”

NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận về quyền được chăm sóc, giáo dục của con

1.1 Khái niệm và nội dung quyền được chăm sóc của con

Điều 15 Luật trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng

để phát triển toàn diện”

Điều 12 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục (BV,CHĂM SÓC và GD) trẻ em năm 2004

quy định: “Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần

và đạo đức”.

Có thể thấy quyển được được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em là khả năng của trẻ em được hưởng những điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần trong sự săn sóc ân cần, chu đáo

để lớn lên bình thường và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ tinh thần và đạo đức

Điều 24 Luật BV,CS và GD trẻ em quy định trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng của cha

mẹ, người giám hộ bao gồm những nội dung cơ bản như sau:

Thứ nhất, trẻ em phải được cha mẹ, người giám hộ và các thành viên trong gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng

Nói tới chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là nói tới vai trò, trách nhiệm trực tiếp, trước nhất của cha mẹ Trẻ em được cha mẹ chăm sóc,nuôi dưỡng được hiểu là trẻ em phải được sống và lớn lên trong sự yêu thương, nuôi nấng, bao bọc và dạy dỗ của cha mẹ vì đó là sự chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nhất Điều này là phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc và chuẩn mực pháp lý quốc tế Nguyên tắc 6 của Tuyên bố của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em năm 1959 khẳng định:

“Vì sự phát triển đầy đủ và đồng bộ về nhân cách, trẻ cần có sự yêu thương và hiểu biết Ở bất

Trang 2

cứ đâu có thể, trẻ sẽ lớn lên trong sự chăm sóc và với trách nhiệm của cha mẹ, và trong bất cứ trường hợp nào phải được chăm sóc trong bầu không khí yêu thương và an toàn về vật chất và tinh thần, trẻ trong thời kỳ được chăm sóc sẽ không, trừ trường hợp đặc biệt, tách khỏi mẹ của trẻ”

Trong mọi trường hợp, trẻ em không bao giờ bị tước bỏ quyền được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ Tuy nhiên, quyền được cha mẹ chăm sóc,nuôi dưỡng không hiểu một cách rập khuôn, máy móc là bắt buộc cha mẹ phải sống chung trẻ em mà bỏ qua lợi ích tốt nhất của trẻ Tùy theo hoàn cảnh mà yêu cầu này được thực hiện khác nhau Cụ thể, nếu trẻ em không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không thể, không muốn thực hiện nghĩa vụ chăm sóc,nuôi dưỡng thì phải tạo điều kiện cho trẻ em được chăm sóc,nuôi dưỡng thay thế bởi cha mẹ nuôi, người giám hộ, người thân khác trong gia đình hoặc sự chăm sóc thay thế Quyền này còn được hiểu là

sự hạn chế quyền của cha mẹ đối với trẻ em, cách ly cha mẹ với trẻ em khi cha mẹ vi phạm nghĩa

vụ chăm sóc,nuôi dưỡng trẻ em, để bảo đảm sự chăm sóc,nuôi dưỡng của cha mẹ là tốt nhất

Bên cạnh đó, việc hình thành nhân cách của trẻ và các hành vi của trẻ em chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những người thân trong gia đình, vì vậy không chỉ cha mẹ mà các thành viên khác trong gia đình phải gương mẫu để tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển toàn diện của trẻ em

Thứ hai, trẻ em phải được bảo đảm chế độ dinh dưỡng hợp lý

Khoản 2 Điều 98 Luật Trẻ em năm 2016 cũng quy định: “Cha, mẹ, người chăm sóc trẻ

em có trách nhiệm bảo đảm chế độ dinh dưỡng phù hợp với sự phát triển về thể chất, tinh thần của trẻ em theo từng độ tuổi” Chế độ dinh dưỡng hợp lý cung cấp cho trẻ em điều kiện phát

triển một thể lực và trí lực bình thường và toàn diện Đây là một trong những yêu cầu và điều

kiện tiên quyết của quyền Yêu cầu này đòi hỏi, trẻ em phải được thụ hưởng một chế độ ăn uống bảo đảm đủ năng lượng và đủ chất dinh dưỡng dựa trên nhu cầu của từng giai đoạn phát triển Chế độ ăn đủ năng lượng và dinh dưỡng phải dựa trên sự nghiên cứu về dưỡng chất và hàm lượng kcal chứa trong thức ăn nạp vào cơ thể trẻ em mỗi ngày1, đặc biệt trẻ em phải được bú sữa

mẹ trong giai đoạn đầu đời (đến 24 tháng tuổi)

Về cơ bản, cha mẹ, người chăm sóc trẻ em là chủ thể có trách nhiệm đầu tiên, chính yếu Tuy nhiên, vấn đề này còn phụ thuộc vào phương diện văn hóa, truyền thống, tập quán nơi mà trẻ sinh ra và lớn lên, hơn hết là khả năng kinh tế, ý thức và sự tự giác của cha mẹ, người chăm sóc trẻ

Thứ ba, cha mẹ, người chăm sóc không được bạo lực ,bóc lột hoặc bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em

Điều 19 Công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 quy định “các quốc gia thành viên phải thực hiện tất cả các biện pháp để bảo vệ trẻ em khỏi các hình thức bạo lực về thân thể hoặc tinh thần, bị tổn thương hay lạm dụng, bị bỏ mặc hay chăm sóc sao nhãng, bị ngược đãi hay bóc lột gồm cả lạm dụng tình dục ngay khi trẻ em nằm trong vòng chăm sóc của cha mẹ, cha lẫn mẹ, một hoặc nhiều người giám hộ pháp lý hoặc bất cứ ai được giao việc chăm sóc trẻ em” Bất cứ một sự tổn hại nào từ hành vi bạo lực, bóc lột, bỏ mặc, bỏ rơi của cha mẹ, người chăm sóc trẻ em cũng gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến thể chất và tinh thần của trẻ, ảnh hưởng chất lượng hoạt động chăm sóc,nuôi dưỡng trẻ em

Ngay cả khi cha mẹ đã ly hôn hoặc vì một lý do khách quan hay chủ quan nào đó mà không thể trực tiếp nuôi con chưa thành niên thì pháp luật đảm bảo quyền được hưởng sự chăm

Trang 3

sóc, nuôi dưỡng gián tiếp của con qua việc quy định người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ đóng góp để nuôi dưỡng con đến tuổi thành niên, có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục con theo quy định của pháp luật

1.2 Khái niệm và nội dung quyền được giáo dục của con

Quyền học tập là một quyền tối quan trọng, là loại quyền trong lĩnh vực văn hóa và liên quan đến tất cả các quyền kinh tế, xã hội Đây là một quyền cơ bản, đương nhiên mà em được hưởng, mọi trẻ em không phân biệt điều kiện và hoàn cảnh đều được bình đẳng về cơ hội học tập, được tạo điều kiện để ai cũng được học hành

Điều 16 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: “Trẻ em có quyền được học

tập Trẻ em học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí”

Trẻ em có quyền được học tập, điều này có nghĩa là bất kì trẻ em dưới mười sáu tuổi, là công dân Việt Nam đều có quyền được đi học đúng độ tuổi, có quyền tham gia học đầy đủ các chương trình giáo dục của Nhà nước Quyền này được Nhà nước quy định và bảo đảm thực hiện Mọi hành vi ngăn cấm việc trẻ em không được thực hiện quyền được học tập một cách chính đánh đều là hành vi đi ngược lại lợi ích, sự phát triển một cách bình thường của trẻ

Đồng thời, quyền được học tập của trẻ em còn được ghi nhận là việc trẻ em học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí Đây là một quy định nhằm khuyến khích học tập ở trẻ em nói riêng và công tác xã hội hóa giáo dục nói chung của đất nước ta

Quyền được giáo dục của trẻ em được quy định tại Điều 28 Luật BV,CS và GD trẻ em và Điều 44 Luật trẻ em và được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật khác

Điều 10 Luật Giáo dục năm 2018 quy định về học tập là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Theo đó, mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập, tạo điều kiện để những người có năng khiếu phát triển tài năng Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật, khuyết tật và đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình

Nhà nước có chính sách hỗ trợ, bảo đảm mọi trẻ em được đi học, hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em thuộc các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn được tiếp cận giáo dục phổ cập

2 Các quy định của pháp luật liên quan đến trách nhiệm chăm sóc, giáo dục con của cha mẹ

2.1 Các quy định của pháp luật liên quan trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con của cha mẹ

Trẻ em phải được sống chung với cha mẹ - đó không những là quyền của trẻ em mà còn

là nghĩa vụ của cha mẹ, tuy nhiên, được sống chung với cha mẹ không đồng nghĩa là được cha

mẹ CS,ND Vì vậy, Điều 22 Luật Trẻ em quy định: “Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” Khoản 3 Điều 52 Luật Trẻ em quy định:

“Trẻ em bị xâm hại, có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi bởi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em;

Trang 4

trẻ em bị xâm hại đã được hỗ trợ, can thiệp nhưng chưa bảo đảm an toàn; trẻ em bị xâm hại nhưng cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em từ chối thực hiện kế hoạch thì Cơ quan lao động - thương binh và xã hội cấp huyện yêu cầu Tòa án cùng cấp ra quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em hoặc tạm thời cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người chăm sóc và áp dụng biện pháp chăm sóc thay thế”

Khoản 1 Điều 85 Luật HN&GĐ 2014 quy định điều kiện để hạn chế quyền của cha mẹ

đối với con chưa thành niên “Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý” và “có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, CS,ND, giáo dục con” mới đủ điều kiện để hạn chế quyền là không hợp lý, vì khi đó trẻ em sẽ rơi

vào hoàn cảnh rất nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe và nhân phẩm Trong khi đó, theo Luật Trẻ em 2016, chỉ cần “trẻ em bị xâm hại, có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi bởi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em” thì cha mẹ đã bị hạn chế quyền

Liên quan đến trách nhiệm bảo đảm dinh dưỡng của con, quyền bú sữa mẹ là một trong những yêu cầu về đảm bảo chế độ dinh dưỡng Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chế độ dinh dưỡng tốt cho trẻ trong giai đoạn từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển thể chất trong suốt cuộc đời trẻ Do đó, WHO khuyến nghị, trẻ sơ sinh cần được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh và được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời, sau đó ăn bổ sung hợp lý nhưng vẫn duy trì bú sữa mẹ đến 24 tháng tuổi1

Điều 3 Nghị định 100/2014/NĐ-CP ngày 06/11/2014 của Chính phủ quy định về kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ, bình bú và vú ngậm nhân tạo yêu cầu: trong chương trình thông tin, giáo dục, truyền thông về bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em, về cải thiện tình trạng dinh dưỡng ở trẻ nhỏ cần phải “thông tin, giáo dục, truyền thông về lợi ích của việc nuôi trẻ bằng sữa mẹ” Quy định này nhằm bảo đảm sự tác động đến nhận thức của cha mẹ, người chăm sóc trẻ về tầm quan trọng của sữa mẹ cũng như phương pháp nuôi dưỡng trẻ nhỏ tốt nhất Bên cạnh đó, Nghị định còn yêu cầu các tài liệu thông tin, giáo dục về nuôi dưỡng trẻ nhỏ

phải “khẳng định sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sức khoẻ và sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ;

sự bất lợi khi không nuôi trẻ bằng sữa mẹ” và nghiêm cấm “quảng cáo sữa dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi, thức ăn dùng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi, bình bú với đầu vú nhân tạo và núm vú giả dưới mọi hình thức” Việc quảng cáo các loại thức ăn bổ sung dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi phải có nội dung: “Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sức khoẻ và sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ” Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có nhiều lý do mà các bà mẹ không cho con bú, trẻ em mồ côi,

hoặc các bà mẹ không có sữa mà pháp luật chưa có quy định cách thức, biện pháp hỗ trợ

Để bảo đảm trẻ em không bị cha mẹ, người chăm sóc bạo lực, bóc lột hoặc bỏ rơi, bỏ

mặc, khoản 1 Điều 37 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” Điều

100 Luật Trẻ em quy định trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ

em là của “cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em và các thành viên trong gia đình” Theo

đó, những người này có trách nhiệm “phát hiện, tố giác, thông báo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền các hành vi xâm hại trẻ em” Tuy nhiên, trên thực tế, trẻ em có khả năng bị

bóc lột, bạo lực và bỏ rơi, bỏ mặc bởi chính cha mẹ, giáo viên, thành viên gia đình là rất cao Vì vậy, bên cạnh trách nhiệm của những chủ thể nêu trên, Điều 51 Luật Trẻ em quy định trách nhiệm cung cấp thông tin cung cấp, xử lý thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em tại

là của “cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có trách nhiệm thông tin, thông báo, tố giác hành vi

1 https://phunuvietnam.vn/4-gop-y-vao-du-thao-luat-tre-em-5688.htm

Trang 5

xâm hại trẻ em, trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi đến cơ quan có thẩm quyền” Cơ quan lao động - thương binh và xã hội, cơ quan công an các cấp và Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm “tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác; phối hợp xác minh, đánh giá, điều tra” Những quy định trên đã tạo nên mạng lưới bảo vệ trẻ em từ gia đình,

trường học và xã hội Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn còn thiếu quy định về trách nhiệm của chủ thể trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động chăm sóc trẻ em để phát hiện các hành vi xâm hại trẻ em bởi cha mẹ, người trực tiếp chăm sóc trẻ em, dù điều này sẽ góp phần hỗ trợ ngăn chặn, phát hiện kịp thời các hành vi xâm hại trẻ em, loại bỏ suy nghĩ “nuôi dạy trẻ em là việc riêng của mỗi gia đình”2

2.2 Các quy định của pháp luật liên quan đến trách nhiệm chăm sóc, giáo dục con của cha mẹ

Hiến pháp năm 2013 đã đề cao trách nhiệm của gia đình, cha mẹ trong việc giáo dục con

cái: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em…”

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã quy định Nghĩa vụ và quyền giáo dục con của cha mẹ:

“ 1 Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.

Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con.

2 Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của con.

3 Cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được.”

Việc giáo dục con vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của cha mẹ.Cha mẹ cần tạo môi trường chăm sóc, yêu thương, đoàn kết, gắn bó quan tâm giữa các thành viên gia đình, các thành viên phải cố gắng bỏ qua những mâu thuẫn, xích mích để cho trẻ em luôn luôn có cảm tưởng rằng ngôi nhà của mình chính là tổ ấm Từ đó, các em sẽ chú tâm vào việc học tập hơn, nhiều trẻ em chỉ vì cha mẹ cãi nhau mà buồn chán dẫn đến tâm lý chán nản, bỏ bê việc học hành, tệ hơn là các

em bị bạn xấu dụ dỗ bỏ học đi lang thang Cha mẹ phải quan tâm, lắng nghe và trò chuyện với trẻ để hiểu và giúp đỡ trẻ trong học tập Cha mẹ có thể cùng học với trẻ, xây dựng thời khóa biểu cho trẻ để trẻ nghiêm túc, tập trung trong học tập hơn

Cha mẹ phải có trách nhiệm cho con em mình được đến trường học tập Trước tiên cần phải đăng kí khai sinh cho trẻ, nhiều bậc cha mẹ nhất là vùng sâu, vùng xa do hiểu biết kém hoặc

ở vùng xa xôi ngại đi đăng kí cho con nên con đến tuổi đi học mà vẫn chưa có giấy khai sinh cho trẻ dẫn đến nhiều trường hợp trẻ không được đến trường Bên cạnh đó, cũng có những gia đình

vì hoàn cảnh khó khăn mà bắt con mình phải bỏ học ở nhà giúp đỡ gia đình

Trong phạm vi gia đình thì cha mẹ giáo dục cho con về những điều hay, lẽ phải, về đạo đức xã hội và các truyền thống gia đình và cộng đồng Khi con đến trường thì gia đình phối hợp

2 Ths Huỳnh Thị Cẩm Hồng, Hoàn thiện pháp luật về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em, Tạp chí

Nghiên cứu lập pháp số 14(390) T7/2019, tr42.

Trang 6

với nhà trường giáo dục con về kiến thức văn hóa, khoa học, để con trở thành công dân tốt toàn diện Trong gia đình ngày nay thì chức năng giáo dục được thực hiện kết hợp giữa nhà trường, xã hội và gia đình Tuy nhiên, việc giáo dục con ngày nay còn bao gồm cả việc tạo điều kiện cho con được học tập trong môi trường văn hóa năng động và phát triển

Luật Trẻ em năm 2016 đã quy định cụ thể hơn nữa trách nhiệm của cha mẹ trong việc giáo dục con cái (ở đây là trẻ em) như sau:

“Điều 98 Chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em

1 Cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, giáo dục trẻ em; dành Điều kiện tốt nhất theo khả năng cho

sự phát triển liên tục, toàn diện của trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 36 tháng tuổi; thường xuyên liên hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm để được hướng dẫn, trợ giúp trong quá trình thực hiện trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em.”

“Điều 99 Bảo đảm quyền học tập, phát triển năng khiếu, vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch của trẻ em

1 Cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm gương mẫu về mọi mặt cho trẻ em noi theo; tự học để có kiến thức, kỹ năng giáo dục trẻ

em về đạo đức, nhân cách, quyền và bổn phận của trẻ em; tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển toàn diện của trẻ em.

2 Cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập, hoàn thành chương trình giáo dục phổ cập theo quy định của pháp luật, tạo Điều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn.

3 Cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em phát hiện, khuyến khích, bồi dưỡng, phát triển tài năng, năng khiếu của trẻ em.”

Như vậy, trách nhiệm giáo dục trẻ em trước tiên thuộc về gia đình cụ thể là cha mẹ, người giám hộ trong việc tạo điều kiện cho trẻ em thực hiện quyền học tập, học hết chương trình giáo dục phổ cập và cho trẻ học ở trình độ cao hơn Bởi vì, trẻ em được sinh ra và nuôi dạy trong môi trường gia đình Các thành viên trong gia đình đều phải có trách nhiệm chăm sóc cho các em lớn khôn về mặt thể chất và trí tuệ, đồng thời có trách nhiệm dạy bảo các em những điều tốt đẹp, đạo nghĩa giáo dục các em biết quan tâm, tôn trọng cuộc sống của những người khác trong gia đình

và cộng đồng

3 Thực tiễn thực hiện các quyền được chăm sóc, giáo dục của con

- Thứ nhất, về quyền được bú sữa mẹ của trẻ, thực tế tại Việt Nam, các bà mẹ không có thói quen tốt trong việc nuôi con bằng sữa mẹ khiến tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em ở mức cao Việc thực hiện chăm sóc dinh dưỡng hợp lý như: cho trẻ bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau khi sinh, cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và một chế độ ăn hợp lý sẽ mang lại cho trẻ bước khởi đầu khỏe mạnh Hiện nay ở Việt Nam, chỉ có 10% bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa

mẹ trong 6 tháng đầu trong khi tỷ lệ này ở Campuchia là 65%, trung bình châu Á là 40% Tại các thành phố lớn, chỉ có 1 trong số 3 bà mẹ cho con bú ngay trong vòng một giờ đầu sau sinh, trong khi đó tại các vùng nông thôn là 2 trong 3 phụ nữ Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ, thậm chí có nhiều người hiểu nhưng vẫn không cho trẻ được bú mẹ do nhiều lý do khác nhau Việc tuyên truyền để các bà mẹ hiểu về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ là quan trọng, nhưng quan trọng hơn cả là quyền này được thể chế hoá

Trang 7

trong luật để đảm bảo rằng, mọi trẻ sinh ra đều được bú mẹ theo đúng thời gian khuyến cáo của các nhà khoa học, trừ những trường hợp sữa mẹ có ảnh hưởng đến sức khoẻ của trẻ hoặc người

mẹ mắc các bệnh truyền nhiễm có khả năng lây qua đường sữa mẹ3

- Thứ hai, mặc dù, gia đình có trách nhiệm đầu tiên và quan trọng trong việc bảo đảm các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của trẻ em Tuy nhiên, trên thực tế, vai trò của gia đình vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu bởi nhiều lý do Từ nhận thức hạn chế của các bậc phụ huynh đến hoàn cảnh thực tế cha mẹ ly hôn, kinh tế khó khăn, trẻ em mất môi trường gia đình ngày càng tăng, nhiều trẻ em phải lao động trước độ tuổi lao động, ăn xin Từ đó trẻ em không được dạy dỗ, yêu thương chăm sóc cũng như chế độ dinh dưỡng và thời gian vui chơi không được chú trọng Đối với nhà trường, thì hiện nay có rất nhiều trường hợp trẻ em được gửi giữ ở trường mẫu giáo bị cô lập, mắng nhiếc, đánh đập, bạo lực thậm chí trẻ em chết

Thứ trưởng Bộ Lao động - thương binh và xã hội Nguyễn Thị Hà cho biết trung bình mỗi năm vẫn có khoảng 2.000 trẻ em bị bạo lực, xâm hại cần được hỗ trợ, can thiệp Trẻ em bị bạo lực, xâm hại ở nhiều độ tuổi, xảy ra ngay trong môi trường gia đình hoặc trường học, do nhiều đối tượng gây ra, trong đó có cả chính người thân trong gia đình Bà Nguyễn Thị Nga - phó cục trưởng Cục trẻ em, Bộ LĐ-TB&XH - cũng cho biết theo báo cáo của Bộ Công an, năm 2018 cả nước xảy ra 1.547 vụ xâm hại trẻ em, với gần 1.700 đối tượng, xâm hại 1.579 trẻ, trong đó có 1.293 em bị xâm hại tình dục Bà Nga cũng thừa nhận số liệu do đại diện Unicef cung cấp là ở Việt Nam, 68,4% trẻ em từng bị cha mẹ, người chăm sóc bạo lực tại nhà, xếp thứ 27 trên 75 quốc gia4

Thực trạng bạo hành, đánh đập con do chính những người có trách nhiệm nuôi, dạy trẻ với tâm lý “con tôi tôi đánh”, “thương cho roi cho vọt”, “có đánh mới nên người”… Nhiều trường hợp bạo hành rất dã man, gây cho trẻ nhiều thương tích, thậm chí mất mạng

Chưa kể nhiều trường hợp trẻ bị xâm hại nhưng không được phát hiện hoặc có phát hiện nhưng không được xử lý đến nơi đến chốn Hay nạn mua bán trẻ em, bóc lột sức lao động trẻ em, chăn dắt trẻ em để ăn xin… vẫn còn diễn ra không phải cá biệt, thậm chí có nơi còn hình thành đường dây với quy mô không nhỏ Điều đáng nói là hành vi này nhiều trường hợp lại có sự tổ chức, tiếp tay của chính cha mẹ, người thân của trẻ Hay việc chăm sóc, giáo dục trẻ lại có những biểu hiện chưa phù hớp, như bắt trẻ học nhồi nhét, cho trẻ sử dụng các thiết bị công nghệ như là một cách “giữ trẻ”, cho trẻ tiêu tiền quá sớm mà không có biện pháp quản lý đúng cách… Các biểu hiện sai lầm này đáng tiếc là ít được người thân của trẻ nhận ra mà vẫn cho đó là một cách thương con của người lớn…

- Thứ ba, nếu như ở các đô thị, quyền học tập của trẻ em được các gia đình phần lớn quan tâm đảm bảo tốt thì ở các vùng miền núi, các vùng sâu, vùng xa thì quyền học tập của trẻ vẫn còn bị hạn chế nhiều Nguyên nhân chủ yếu là mức sống của người dân còn thấp, ý thức của gia đình các bậc cha mẹ chưa cao… vì vậy, vẫn xảy ra nhiều trẻ em không được đi học đúng độ tuổi, các trang thiết bị như sách vở, bàn ghế, trường lớp để phục vụ nhu cầu học tập thiết yếu của trẻ chưa được đảm bảo Do đó, chất lượng giáo dục dù đã phấn đấu nhiều nhưng vẫn còn có

sự yếu kém so với mặt bằng chung của cả nước Phổ biến ở các vùng quê là tình trạng trẻ em bỏ học để ở nhà giúp gia đình làm nông, hoặc là học nhưng không đủ tiền để theo hết các bậc học

3 https://phunuvietnam.vn/4-gop-y-vao-du-thao-luat-tre-em-5688.htm

4 https://tuoitre.vn/gan-70-tre-em-viet-nam-tung-bi-bao-hanh-xam-hai-20190418102323645.htm

Trang 8

Nhiều em lang thang lên các thành phố lớn kiếm việc làm, tình trạng trẻ bị lạm dụng sức lao động, bị lạm dụng tình dục có nhiều

Trên đây một số vấn đề nổi cộm hiện nay, cần phải giải quyết trong việc thực hiện quyền được chăm sóc, giáo dục trẻ em trong các gia đình

KẾT LUẬN

Không nơi nào có thể bảo vệ quyền lợi của trẻ em tốt bằng chính gia đình các em Cha

mẹ, bên cạnh việc duy trì nâng cao đời sống kinh tế gia đình, đảm bảo đời sống vật chất cho các con mình, duy trì nếp sống đạo đức của gia đình - phải thể hiện vai trò xã hội của mình một cách tốt nhất, tránh các hành vi vi phạm pháp luật để trẻ noi gương Gia đình phải là nơi trẻ cảm nhận được sự an toàn cao nhất Để đảm bảo điều đó, cha mẹ, các thành viên thành niên khác trong gia đình cần gần gũi trẻ để nắm bắt được sự thay đổi trong tâm lý cũng như phán đoán được những nguy cơ mà trẻ có thể bị xâm hại từ chính gia đình cũng như xã hội, Tuy nhiên, đôi khi mối quan

hệ giữa một đứa trẻ và gia đình của mình lại có thể bị phá vỡ, bị lệch lạc và tiềm ẩn nguy cơ xảy

ra bạo lực gia đình Do đó, để phòng ngừa sự xuất hiện các yếu tố nguy cơ biến trẻ em thành nạn nhân cũng như nguy cơ trẻ em vi phạm pháp luật, cần có các biện pháp và chiến lược để ngăn chặn, chống lại bạo lực gia đình

Trang 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Tuyên bố của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1959;

2 Công ước quốc tế Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em năm 1989;

3 Hiến pháp năm 2013;

4 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004;

5 Luật Trẻ em năm 2016;

6 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

7 Nghị định 100/2014/NĐ-CP quy định về kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ, bình bú và vú ngậm nhân tạo;

8 Ths Huỳnh Thị Cẩm Hồng, Hoàn thiện pháp luật về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 14(390) T7/2019.

10 https://tuoitre.vn/gan-70-tre-em-viet-nam-tung-bi-bao-hanh-xam-hai

20190418102323645.htm

Ngày đăng: 27/03/2022, 16:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w