1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận tốt nghiệp Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trong luật hình sự Việt Nam

84 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 619 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm gần đây, nên kinh tế của nước ta phát triển nhảy vọt, mức tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt trên nhiều mặt, vị thế của nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng làm phát sinh những yếu tố tiêu cực cho đời sống xã hội. Tình hình tội phạm nói chung và tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người đã trở thành một vấn nạn, mang tính thời sự nóng bỏng và gây bức xúc trong toàn xã hội, không chỉ ở Việt Nam mà trên phạm vi toàn thế giới với diễn biến ngày càng phức tạp; tính chất và thủ đoạn hoạt động ngày càng nghiêm trọng, tinh vi, xảo quyệt; nhiều trường hợp có tổ chức chặt chẽ và có tính xuyên quốc gia. Vấn nạn này không chỉ xâm hại đến quyền con người, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần, tính mạng của nạn nhân mà còn tác động xấu đến đạo đức, giống nòi, lối sống, thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh, trật tự của đất nước. Trước tình hình tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người có xu hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp, tỷ lệ tội phạm cao, xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe và thậm chí là tính mạng của con người. Khi mà quy luật cung cầu về mô, bộ phận cơ thể người trên thực tế đang mất cân đối bởi việc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể chỉ nhằm mục đích nhân đạo, phục vụ nghiên cứu y học, chữa bệnh thì tỷ lệ tội phạm về mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể ngày càng trở nên tinh vi và phức tạp hơn. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người. Pháp luật hiện hành đã quy định cụ thể Để đấu tranh phòng ngừa tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, trong đó Bộ luật Hình sự hiện hành quy định mức hình phạt cao nhất đối với tội phạm này đến chung thân. Trong đó, có đề cập đến vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người. Các văn bản này đã tạo nên một khung hành lang pháp lý quan trọng làm cơ sở cho cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người. Tuy nhiên, thực tiễn khách quan luôn biến đổi không ngừng dẫn đến việc văn bản quy phạm điều chỉnh về tội phạm này tồn tại một số bất cập, hạn chế; vì vậy việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người và thực tiễn áp dụng xử lý là cần thiết để đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người. Trong khuôn khổ bài viết, người viết xin trình bày những vấn đề xoay quanh về tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người và những quy định pháp luật có liên quan cũng như những điểm còn vướng mắc, khó khăn trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người. Từ đó, cho thấy việc nghiên cứu pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người và thực tiễn là vấn đề vô cùng cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Điều đó, không những góp phần nâng cao trong việc phòng chống tội phạm này một cách hiệu quả mà còn có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận, thực tiễn và việc áp dụng pháp luật đối với loại tội phạm này. Nhận thấy tình trạng cấp thiết trên, người viết lựa chọn đề tài “Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trong luật hình sự Việt Nam” làm tiểu luận tốt nghiệp. Từ việc nghiên cứu, người viết đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện hơn quy định của pháp luật trong lĩnh vực này. 2. Mục tiêu nghiên cứu Làm rõ được thực trạng số liệu thống kê qua các năm về tình hình mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người. Tìm hiểu được nguyên nhân và điều kiện phát sinh loại tội phạm này, từ đó đánh giá đưa ra giải pháp kiến nghị Nắm bắt được quy định pháp luật hiện hành, thông qua nghiên cứu tìm ra các bất cập từ lý luận đến thực tiễn trong chế định này trong PLHS. 3. Phạm vi nghiên cứu Luận văn sẽ tập trung đi sâu phân tích về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người bao gồm việc đưa ra khái niệm, nguyên nhân và điều kiện, phân tích CTTP, khung hình phạt của tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người theo pháp luật hình sự hiện hành. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện với mong muốn có thể góp phần hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam và đảm bảo việc thi hành, áp dụng pháp luật về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trong nước hiện nay có hiệu quả hơn. 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau: Thứ nhất, phương pháp phân tích luật viết được sử dụng để phân tích và tìm hiểu các vấn đề về lý luận chung, quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng áp dụng quy định pháp luật, phân tích khoa học, nghiên cứu lí luận trên các tài liệu, sách chuyên khảo, sách tham khảo, các tài liệu từ sách báo, tập chí, các trang thông tin điện tử. Thứ hai, Phương pháp tổng hợp được sử dụng nhằm chủ yếu trong việc rút ra những nhận định, ý kiến đánh giá sau quá trình phân tích ở từng nội dung, các chương và kết luận của đề tài. Thứ ba, Phương pháp chứng minh được sử dụng ở hầu hết các nội dung của đề tài nhằm đưa ra các dẫn chứng làm rõ các luận điểm trong đề tài. Thứ tư, Phương pháp hệ thống, thống kê, so sánh để tìm hiểu đánh giá quy phạm pháp luật liên quan đến tội danh này được quy định trong các hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới. 5. Bố cục đề tài Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung của để tài được chia làm ba chương, cụ thể như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trong luật hình sự Việt Nam Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người Chương 3: Thực trạng tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bô phận cơ thể người những bất cập và hoàn thiện pháp luật

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Th.S ……… PHẠM VĂN LỘC

Bộ môn: Luật tư pháp MSSV: NL1632X012

Lớp: NL1632X1

Cần Thơ, tháng 02 năm 2022

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

TỘI MUA BÁN, CHIẾM ĐOẠT

MÔ HOẶC BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAMTRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT

Trang 2

Đặc biệt, người viết xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Ths ……… cô

đã tận tình giúp đỡ người viết trong suốt quá trình làm tiểu luận tốt nghiệp

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã cố gắng nổ lực tìm tòi những kiến thứcliên quan đến đề tài nhưng do kiến thức và kinh nghiệm nên đề tài không tránh khỏinhững thiếu sót Vì vậy, người viết mong nhận được những ý kiến đóng góp của Thầy,

Cô cũng như các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Cuối lời, người viết xin kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe, gặt hái đượcnhiều thành công trong sự nghiệp giảng dạy và nghiên cứu

Cần thơ, ngày tháng năm 2022

Người viết

Phạm Văn Lộc

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần thơ, ngày tháng năm 2022

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần thơ, ngày tháng năm 2022

Trang 5

VKSNDTC Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao

Trang 6

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Văn bản quy phạm pháp luật

1 Hiến pháp năm 1946 (hết hiệu lực)

2 Hiến pháp năm 2013

3 Bộ luật Dân sự năm 2005 (hết hiệu lực)

4 Bộ luật Hình sự năm năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) (hết hiệu lực)

5 Bộ luật Dân sự năm 2015

6 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

7 Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989

8 Luật thương mại năm 2005

9 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006

10 Luật đầu tư năm 2014

11 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 05 năm 2006 của Hội đồngThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luậthình sự năm 1999 (hết hiệu lực)

Danh mục sách, giáo trình, tạp chí

12 Dương Văn Thịnh - Phòng 1 – VKSND tỉnh Thái Nguyên: Cần thống nhất nhận thức áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định của BLHS năm 2015,

Cơ quan điểu tra VKSNDTC

13 Đinh Văn Quế: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 1999 (phần chung), Nxb.

thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr.293

14 Đỗ Thanh Huyền: Bàn về phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, Tạp chí Tòa ánnhân dân số 8/2007, tr.23-29

15 Phạm Văn Beo: Luật hình sự Việt Nam quyển 1 (Phần chung), Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.116 – tr.125

Trang 7

16 Tòa án nhân dân tối cao: Sổ tay Thẩm phán, Nxb Lao Động, Hà Nội, 2009, tr.118.

17 Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung,

Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2003, tr 196

Trang thông tin điện tử

18 Huyền Anh: “Những câu chuyện buồn tại điểm nóng buôn bán nội tạng của thếgiới”, báo Lao động, https://laodong.vn/lao-dong-cuoi-tuan/nhung-cau-chuyen-buon-tai-diem-nong-buon-ban-noi-tang-cua-the-gioi-762257.ldo, [truy cập ngày06/01/2020]

19 Nguyễn Khôi: “Ðưa Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy

https://nhandan.com.vn/suckhoe/item/5314002-.html, [truy cập ngày 06/01/2020]

20 Nguyễn Hiền: “Hà Nội: Môi giới mua bán thận, thu lợi hàng trăm triệu đồng “,Báo VOV, https://vov.vn/phap-luat/ha-noi-moi-gioi-mua-ban-than-thu-loi-hang-tram-trieu-dong-826296.vov, [truy cập ngày 06/01/2020]

21 P.A (theo ChinaNews): “Ấn Độ: Cảnh báo nạn mua bán nội tạng người”, Báo SàiGòn giải phóng, https://www.sggp.org.vn/an-do-canh-bao-nan-mua-ban-noi-tang-nguoi-203042.html, [truy cập ngày 06/01/2020]

22 P.A: “Tìm người biết thông tin về hành vi mua bán bộ phận cơ thể người”, BáoCông an nhân dân, http://cand.com.vn/Thong-tin-phap-luat/Tim-nguoi-biet-thong-tin-ve-hanh-vi-mua-ban-bo-phan-co-the-nguoi-567383/, [truy cập ngày 06/01/2020]

23 Phạm Dự: “Môi giới bán thận với giá 450 triệu đồng”, Báo VNEXPRESS, https://vnexpress.net/phap-luat/moi-gioi-ban-than-voi-gia-450-trieu-dong-3967350.html,[truy cập ngày 06/01/2020]

24 Phạm Huy Anh: “Lo âu nạn buôn bán nội tạng người”, Báo Cảnh sát toàn cầu,http://cstc.cand.com.vn/Ho-so-interpol-cstc/Lo-au-nan-buon-ban-noi-tang-nguoi-

27 Theo Pháp luật TP HCM: “Sinh viên bán thận Tô Công Luân đã qua đời”, BáoVNExpress, https://vnexpress.net/thoi-su/sinh-vien-ban-than-to-cong-luan-da-qua-doi-2106622.html [truy cập ngày 07/01/2020]

Trang 8

28 Theo Thế giới & Hội nhập, báo Tiền phong, “Trung Quốc và những vụ mua bánnội tạng kinh hoàng”, Báo Tiền phong, https://www.tienphong.vn/the-gioi/trung-quoc-va-nhung-vu-mua-ban-noi-tang-kinh-hoang-625251.tpo, [truy cập ngày 07/01/2020].

29 Theo VNN/New York Times: “Kinh hoàng nạn đánh cắp thận ở Ấn Độ”, BáoNgười lao động, https://nld.com.vn/suc-khoe/kinh-hoang-nan-danh-cap-than-o-an-do-214380.htm, [truy cập ngày 07/01/2020]

30 Theo VTV News: “Thị trường mua bán nội tạng - Tâm điểm báo chí châu Âu”,Báo VTV, https://vtv.vn/kinh-te/thi-truong-mua-ban-noi-tang-tam-diem-bao-chi-chau-au-20150921100625779.htm, [truy cập ngày 08/01/2020]

31 Thu Phương (TTXVN): “8.000 trường hợp có nhu cầu ghép thận mỗi năm”, Báo

VN plus, nam/178627.vnp, [truy cập ngày 08/01/2020]

https://www.vietnamplus.vn/8000-truong-hop-co-nhu-cau-ghep-than-moi-32 Vinh Quang:“Đường dây buôn bán nội tạng người cực lớn do một phụ nữ cầmđầu”, VOV-TPHCM, https://vov.vn/tin-nong/duong-day-buon-ban-noi-tang-nguoi-cuc-lon-do-mot-phu-nu-cam-dau-871788.vov, [truy cập ngày 09/01/2020]

33 V.T: “Khởi tố vụ án "Mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận trên cơ thể người",Báo Lao động, https://laodong.vn/phap-luat/khoi-to-vu-an-mua-ban-chiem-doat-mo-hoac-bo-phan-tren-co-the-nguoi-736088.ldo, [truy cập ngày 09/01/2020]

34 Vũ Hoàng: “Thợ săn thận ở Philippines”, Báo VNEXPRESS, https://vnexpress.net/the-gioi/tho-san-than-o-philippines-3999251.html, [truy cập ngày 09/01/2020]

35 Theo Đức Trí: “Lật tẩy đường dây mua bán bộ phận cơ thể người”, Báo An NinhThủ Đô, https://anninhthudo.vn/phap-luat/lat-tay-duong-day-mua-ban-bo-phan-co-the-nguoi-va-so-phan-bi-dat-cua-nhung-nan-nhan-ban-than/839504.antd, [truy cập ngày12/01/2020]

36 Theo Dương Văn Thịnh “Cần thống nhất nhận thức áp dụng tình tiết “phạm tội 02lần trở lên” theo quy định của BLHS năm 2015”, Báo VKS TC,https://coquandieutravkstc.gov.vn/can-thong-nhat-nhan-thuc-ap-dung-tinh-tiet-pham-toi-02-lan-tro-len-theo-quy-dinh-cua-blhs-nam-2015/[truy cập ngày 12/01/2020]

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm gần đây, nên kinh tế của nước ta phát triển nhảy vọt, mức tăng trưởngnhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt trên nhiều mặt, vị thế của nước ta trêntrường quốc tế không ngừng được nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đãđạt được, mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng làm phát sinh những yếu tố tiêu cựccho đời sống xã hội Tình hình tội phạm nói chung và tội phạm mua bán, chiếm đoạt môhoặc bộ phận cơ thể người đã trở thành một vấn nạn, mang tính thời sự nóng bỏng vàgây bức xúc trong toàn xã hội, không chỉ ở Việt Nam mà trên phạm vi toàn thế giới vớidiễn biến ngày càng phức tạp; tính chất và thủ đoạn hoạt động ngày càng nghiêm trọng,tinh vi, xảo quyệt; nhiều trường hợp có tổ chức chặt chẽ và có tính xuyên quốc gia Vấnnạn này không chỉ xâm hại đến quyền con người, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đếnsức khỏe, tinh thần, tính mạng của nạn nhân mà còn tác động xấu đến đạo đức, giốngnòi, lối sống, thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh, trật tựcủa đất nước

Trước tình hình tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người có

xu hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp, tỷ lệ tội phạm cao, xâm phạmnghiêm trọng đến sức khỏe và thậm chí là tính mạng của con người Khi mà quy luậtcung cầu về mô, bộ phận cơ thể người trên thực tế đang mất cân đối bởi việc hiến, lấy,ghép mô, bộ phận cơ thể chỉ nhằm mục đích nhân đạo, phục vụ nghiên cứu y học,chữa bệnh thì tỷ lệ tội phạm về mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể ngày càng trởnên tinh vi và phức tạp hơn

Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong công tác đấutranh, phòng, chống tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.Pháp luật hiện hành đã quy định cụ thể

Để đấu tranh phòng ngừa tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thểngười, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, trong đó Bộ luậtHình sự hiện hành quy định mức hình phạt cao nhất đối với tội phạm này đến chungthân Trong đó, có đề cập đến vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán, chiếmđoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người Các văn bản này đã tạo nên một khung hành langpháp lý quan trọng làm cơ sở cho cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán,chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Tuy nhiên, thực tiễn khách quan luôn biến đổi không ngừng dẫn đến việc văn bảnquy phạm điều chỉnh về tội phạm này tồn tại một số bất cập, hạn chế; vì vậy việc nghiên

Trang 10

cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội mua bán, chiếm đoạt

mô hoặc bộ phận cơ thể người và thực tiễn áp dụng xử lý là cần thiết để đưa ra nhữnggiải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạmmua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người Trong khuôn khổ bài viết, ngườiviết xin trình bày những vấn đề xoay quanh về tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc

bộ phận cơ thể người và những quy định pháp luật có liên quan cũng như những điểmcòn vướng mắc, khó khăn trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán,chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Từ đó, cho thấy việc nghiên cứu pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tộimua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người và thực tiễn là vấn đề vô cùng cấpthiết trong giai đoạn hiện nay Điều đó, không những góp phần nâng cao trong việcphòng chống tội phạm này một cách hiệu quả mà còn có ý nghĩa quan trọng về mặt lýluận, thực tiễn và việc áp dụng pháp luật đối với loại tội phạm này Nhận thấy tình

trạng cấp thiết trên, người viết lựa chọn đề tài “Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trong luật hình sự Việt Nam” làm tiểu luận tốt nghiệp Từ việc

nghiên cứu, người viết đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện hơn quy định của phápluật trong lĩnh vực này

2 Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ được thực trạng số liệu thống kê qua các năm về tình hình mua bán, chiếmđoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Tìm hiểu được nguyên nhân và điều kiện phát sinh loại tội phạm này, từ đó đánhgiá đưa ra giải pháp kiến nghị

Nắm bắt được quy định pháp luật hiện hành, thông qua nghiên cứu tìm ra các bấtcập từ lý luận đến thực tiễn trong chế định này trong PLHS

3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn sẽ tập trung đi sâu phân tích về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộphận cơ thể người bao gồm việc đưa ra khái niệm, nguyên nhân và điều kiện, phân tíchCTTP, khung hình phạt của tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể ngườitheo pháp luật hình sự hiện hành Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện với mongmuốn có thể góp phần hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam và đảm bảo việc thihành, áp dụng pháp luật về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể ngườitrong nước hiện nay có hiệu quả hơn

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

Trang 11

Thứ nhất, phương pháp phân tích luật viết được sử dụng để phân tích và tìm hiểu

các vấn đề về lý luận chung, quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng áp dụngquy định pháp luật, phân tích khoa học, nghiên cứu lí luận trên các tài liệu, sáchchuyên khảo, sách tham khảo, các tài liệu từ sách báo, tập chí, các trang thông tin điệntử

Thứ hai, Phương pháp tổng hợp được sử dụng nhằm chủ yếu trong việc rút ra

những nhận định, ý kiến đánh giá sau quá trình phân tích ở từng nội dung, các chương

và kết luận của đề tài

Thứ ba, Phương pháp chứng minh được sử dụng ở hầu hết các nội dung của đề

tài nhằm đưa ra các dẫn chứng làm rõ các luận điểm trong đề tài

Thứ tư, Phương pháp hệ thống, thống kê, so sánh để tìm hiểu đánh giá quy phạmpháp luật liên quan đến tội danh này được quy định trong các hệ thống pháp luật củacác quốc gia trên thế giới

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Nội dung của

để tài được chia làm ba chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trong luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Chương 3: Thực trạng tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bô phận cơ thể người

- những bất cập và hoàn thiện pháp luật

Trang 12

cơ thể người, quá trình hình thành và ý nghĩa của việc nghiên cứu tội phạm mua bán,chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trong luật hình sự Việt Nam

1.1 Khái quát chung các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người trong luật hình sự Việt Nam

Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một văn kiện lậpquốc vĩ đại, chứa đựng những tư tưởng triết học, chính trị, đạo đức, pháp luật sâu sắc.Những tư tưởng đó không chỉ góp phần khai sinh ra nhà nước Việt Nam dân chủ cộnghòa mà còn góp phần định hướng cho sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tếngày nay, trong đó quyền con người có một giá trị đặc biệt quan trọng Ngay từ nhữngcâu đầu tiên của Tuyên ngôn độc lập, như một lời khẳng định về quyền tự nhiên củacon người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn những giá trị về nhân quyền trong

Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” hay

Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791cũng khẳng

định: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do

và bình đẳng về quyền lợi” Đây là những quyền tự nhiên, là những lẽ phải không ai

chối cãi được

Hiến pháp năm 1946 của NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ lần đầu

tiên ghi nhận các quyền con người: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá”1 hay “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình”2 Sự ghi nhận này không chỉ cho thấy về sự bình

1 Điều 6 Hiến pháp năm 1946.

2 Điều 7 Hiến pháp năm 1946.

Trang 13

đẳng của mọi công dân mà còn chứng minh rằng quyền con người là một trong nhữngvấn đề vô cùng quan trọng được ghi nhận trong hiến pháp lần đầu tiên của nước ta.Đến Hiến pháp năm 2013, thì quyền con người được ghi nhận rõ ràng hơn tại

chương II về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” Bên cạnh

đó, tại khoản 1 Điều 20 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” Từ đó cho thấy tính mạng, sức khoẻ, nhân

phẩm, danh dự con người có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi con người, đượcxem là một trong những đối tượng được bảo vệ trong Hiến pháp năm 2013

Con người là vốn quý của xã hội, xuất phát từ những giá trị vốn có và quyền conngười (tính mạng, sức khỏe,…) đã được hiến pháp 2013 ghi nhận cụ thể và việc kếthừa và pháp điển hóa nội dung này được pháp luật hình sự hiện hành quy định Đượcxem là khách thể mà BLHS bảo vệ, đây là đối tượng hàng đầu được pháp luật hình sựbảo vệ Bảo vệ con người, trước hết là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh

dự và tự do của họ, vì đó là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với bất

kì một con người nào Xuất phát từ tầm quan trọng đó, những vấn đề này được BLHS

năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) ghi nhận tại Chương XIV về “ Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người ” được quy định từ

Điều 123 đến Điều 156 Đáng chú ý hơn tại Điều 154 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ

sung năm 2017) quy định về “ Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người”, đây là một trong những tội xâm phạm đến sức khỏe của con người.

1.1.1 Khái niệm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người

“Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm”3 BLHS nước ta không những là công

cụ đấu tranh, phòng và chống tội phạm một cách hữu hiệu mà còn là nơi quy định vềtội phạm và mức hình phạt tương ứng nhằm bảo vệ ích về tính mạng, sức khỏe, nhânphẩm, danh dự của con người mà cần được bảo hộ và không bị tước đoạt trái phápluật

3 Điều 1 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trang 14

Như vậy, các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người

là những hành vi (hành động hoặc không hành động), có lỗi (cố ý hoặc vô ý) xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác.

Trang 15

1.1.2 Dấu hiệu pháp lý chung các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người

Dấu hiệu pháp lý chung là tổng hợp các dấu hiệu được quy định trong luật hình

sự đặc trưng cho một loại tội phạm cụ thể Nhắc đến dấu hiệu pháp lý là đề cập đếncác yếu tố bắt buộc cấu thành nên tội phạm đó cũng như các dấu hiệu của mỗi yếu tố

đó Phụ thuộc vào mỗi chế độ, nhà nước khác nhau và phụ thuộc vào chính sách hình

sự của nhà nước đó mà quy định trong pháp luật hình sự những yếu tố nào là các yếu

tố cấu thành tội phạm Dấu hiệu pháp lý chung các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,nhân phẩm, danh dự con người bao gồm mặt khách thể, khách quan, chủ thể và chủquan

1.1.2.1 Mặt khách thể các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người

Khách thể của nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự conngười là một trong những khách thể quan trọng được BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổsung năm 2017) bảo vệ Như vậy, khách thể của nhóm tội xâm phạm tính mạng, sứckhoẻ, nhân phẩm, danh dự con người là quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng,sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người

Đối tượng của nhóm tội này là những chủ thể có quyền được tôn trọng và bảo vệvềtính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự Đó là những người đang sống, đang tồntại độc lập trong xã hội với tư cách là một con người, một thực thể tự nhiên và xã hội.Theo đó, những người đang sống ở đây chính là con người, là một cơ thể sống đượctính từ khi sinh ra cho đến khi chết đi Điều này cho thấy bào thai hay hay xác chếtkhông phải là đối tượng của hành vi phạm tội của nhóm tội này

1.1.2.2 Mặt khách quan các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh

dự con người

Mặt khách quan của tội phạm có những dấu hiệu: hành vi nguy hiểm cho xã hội,hậu quả tác hại do hành vi đó gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm vàhậu quả tác hại, thời gian, địa điểm, phương pháp, phương tiện và công cụ thực hiệntội phạm Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, phản ánh trongthế giới khách quan

Hành vi khách quan là yếu tố quan trọng nhất trong mặt khách quan của tộiphạm, là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Nó là cơ sở để xác định tội danh.Việc quy định tội phạm trong BLHS là dựa vào đặc điểm của hành vi khách quan đểđịnh cho nó là tên gọi gì Do đó, chỉ cần chúng ta xác định được các đặc điểm của

Trang 16

hành vi (phạm tội) thì có thể dễ dàng xác định hành vi đó phạm tội gì Như vậy, hành

vi khách quan của các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự conngười là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội (hành động hoặc không hành động) gây rathiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự

Hậu quả tác hại của các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dựcon người là một trong các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm, là thiệt hại thểhiện ra bên ngoài thế giới quan dưới dạng vật chất mà cụ thể đó chính là thương tích, tổnhại tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người

1.1.2.3 Mặt chủ thể các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người

Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhội được luật hình sự quy định là tội phạm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độtuổi theo quy định của luật hình sự Trong đó, năng lực trách nhiệm hình sự là khảnăng nhận thức và điều khiển hành vi của người phạm tội Tuổi chịu trách nhiệm hình

sự được quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Chủ thể các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con ngườihầu như chủ thể thường Những người có năng lực trách nhiệm hình sự đều có khảnăng trở thành chủ thể của nhóm tội xâm phạm sức khỏe của con người

Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người có chủthể thường như: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác Điều 134 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Tội mua bán, chiếmđoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người Điều 154 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm2017),…

Bên cạnh đó, các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự conngười còn có thêm chủ thể đặc biệt như: Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻĐiều 124BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Tội gây thương tích hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ Điều 137 BLHS năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017), Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dụckhác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi Điều 145 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổsung năm 2017), Những dấu hiệu đặc biệt của chủ thể có thể thuộc một trong cácdạng liên quan đến chức vụ, quyền hạn, liên quan đến nghề nghiệp, công việc, liênquan đến nghĩa vụ, liên quan đến độ tuổi, liên quan đến quan hệ, họ hàng, đến quốctịch

1.1.2.4 Mặt chủ quan các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người

Trang 17

Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là thái độ tâm lý củangười phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện với hậu quả dohành vi ấy gây ra cho xã hội Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm lỗi, động cơ, mụcđích phạm tội.4

Trong mặt chủ quan của tội phạm, dấu hiệu lỗi luôn được phản ánh trong mọi cấuthành tội phạm, dấu hiệu động cơ và mục đích phạm tội được phản ánh là dấu hiệuđịnh tội của một số tội, nhưng đa số chúng được phản ánh là tình tiết định khung hoặctình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Lỗi là biểu hiện về mặt tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho

xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thứclỗi cố ý hoặc lỗi vô ý Bản chất của lỗi thể hiện ở việc người thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội nhận thức được nguy hiểm đó nhưng tự mình lựa chọn và quyết địnhthực hiện hành vi trong khi có đủ điều kiện để lựa chọn một xử sự khác phù hợp vớilợi ích của xã hội

Lỗi được phân loại thành lỗi cố ý và lỗi vô ý Theo đó lỗi cố ý bao gồm cố ý trựctiếp (người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấytrước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra) và cố ý gián tiếp (ngườiphạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quảcủa hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc chohậu quả xảy ra) Lỗi vô ý bao gồm vô ý do quá tự tin (người phạm tội tuy thấy trướchành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả

đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được) Lỗi vô ý do cẩu thả(người phạm tộikhông thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dùphải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó)

Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành

vi phạm tội Đa số trường hợp phạm tội, động cơ phạm tội là tình tiết định khung tăngnặng hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Do đó, việc xác định chúng có ýnghĩa trong việc định khung hình phạt hoặc quyết định hình phạt Bên cạnh đó động cơphạm tội là dấu hiệu bắt buộc của CTTP như: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổnhại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc dovượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội Điều 136BLHS năm 2015 (sửa đổi,

Trang 18

trong một số trường hợp lại là dấu hiệu bắt buộc của CTTP như: Tội hành hạ ngườikhác Điều 140BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

1.2 Khái quát chung về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Tình hình mua bán, chiếm đoạt mô và bộ phận cơ thể người đang có xu hướngngày càng gia tăng, sự xuất hiện của những vụ trao đổi, chiếm đoạt mô và bộ phận cơthể người đã để lại nhiều hậu quả vô cùng nghiêm trọng, xâm hại đến sức khỏe, thậmchí cướp đi tính mạng của con người, gây mất an toàn xã hội, trật tự công cộng

BLHS năm 2015 lần đầu tiên quy định về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộphận cơ thể người tại Điều 154 BLHS hiện hành Đây có thể xem là một bước đi cógiá trị trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, nhất là trong bối cảnh các hành

vi mua bán nội tạng, bộ phận cơ thể người diễn ra tràn lan và gây tác động tiêu cực tớicon người và đời sống xã hội Việt Nam

Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người tại Điều 154 BLHS năm

2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) được quy định thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọngvới mức phạt tù thấp nhất là tù có thời hạn lên đến 3 năm và mức cao nhất là tù chungthân Bên cạnh đó còn quy định thêm mức hình phạt bổ sung đối với tội danh này.Trong phần viết này, người viết sẽ đưa ra các khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân

và điều kiện làm phát sinh tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.Bên cạnh đó, người viết cũng muốn làm rõ quá trình hình thành và ý nghĩa của việcnghiên cứu tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trong luật hình sựViệt Nam

1.2.1 Khái niệm liên quan đến tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là hành vi trái pháp luật,hành vi này xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe, thậm chí là cả tính mạng của conngười Trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) không quy định về kháiniệm tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người Vì thế, phần này ngườiviết sẽ dựa trên khái niệm liên quan đến mô, bộ phận cơ thể người, hành vi mua bán,chiếm đoạt mô và bộ phận cơ thể người rồi từ đó đưa ra khái niệm cụ thể về tội muabán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

1.2.1.1 Khái niệm mô

Tại khoản 1 Điều 3 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy

xác năm 2006 đã đưa ra khái niệm về mô Cụ thể là, “ Mô là tập hợp các tế bào cùng một loại hay nhiều loại khác nhau để thực hiện các chức năng nhất định của cơ thể

Trang 19

người” Từ quy định trên có thể hiểu mô bao gồm nhiều tế bào cùng loại hay khác loại,

các mô sẽ liên kết chặt chẽ với nhau để tạo thành các cơ quan trong cơ thể

1.2.1.2 Khái niệm bộ phận cơ thể người

Theo Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006

quy định “Bộ phận cơ thể người là một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại

mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định”5

Bộ phận cơ thể người có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi con người chúng

ta bởi mỗi bộ phận cơ thể con người đảm nhận mỗi chức năng nhất định và giúp conngười duy trì sự sống bình thường Tuy nhiên, nếu mất đi bộ phận cơ thể người nào đótrên cơ thể thì người đó vẫn tiếp tục duy trì sự sống nhưng cũng đồng nghĩa với việcsức khỏe, sự sống của người đó sẽ giảm đi và không hoạt động như người bìnhthường

1.2.1.3 Hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Hành vi thực hiện tội mua bán chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người baogồm có hai hành vi chính là mua bán và chiếm đoạt hoặc vừa mua bán vừa chiếm đoạt

mô hoặc bộ phận cơ thể của con người

Thứ nhất, khái niệm về hành vi mua bán mô hoặc bộ phận cơ thể người

Luật thương mại năm 2005 quy định “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận”6 Như vậy, hàng hóa chính là đối tượng củahợp đồng mua bán bao gồm tất cả các loại tài sản được phép tự do lưu thông và khôngnằm trong danh mục bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật

Theo Luật thương mại năm 2005 thì “Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai”7,

còn tài sản thì được đề cập tại Điều 105 BLDS năm 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ

có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.

Như vậy, hành vi mua bán mô hoặc bộ phận cơ thể người là hoạt động mà bênbán thực hiện sự chuyển giao mô, bộ phận cơ thể người của mình hoặc của người kháccho bên mua và nhận thanh toán Còn bên mua mô, bộ phận cơ thể người thì nhậnhàng và phải thanh toán tiền, vật chất hay lợi ích khác theo sự thỏa thuận của hai bên

5 Khoản 2 Điều 3 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006.

6 Khoản 8 Điều 2 Luật thương mại năm 2005.

7 Khoản 3 Điều 2 Luật thương mại năm 2005.

Trang 20

Bên bán mô hoặc bộ phận cơ thể người là người sử dụng mô hoặc bộ phận cơ thểcủa chính bản thân họ hoặc của người khác giao cho bên mua để nhận lại tiền, vật chấthay lợi ích khác theo sự thỏa thuận hai bên

Bên mua mô hoặc bộ phận cơ thể người là người sử dụng mô hoặc bộ phận cơthể người từ người bán để cấy ghép vào bản thân họ hoặc cho người khác

Mặc dù mua bán mô hoặc bộ phận cơ thể người là thể sự tự nguyện của bên mua

và bên bán nhưng đây là hành vi tác động đến loại hàng hóa đặc biệt chính là mô, bộphận cơ thể người thuộc nằm trong danh mục nghiêm bị cấm nên đây được xem làhành vi trái quy định của pháp luật8 Đây là loại hình kinh doanh mà nhà nước khôngcho phép vì mức độ nguy hiểm của nó và thực tế nó tác động đến các quyền cơ bảncủa con người rất lớn

Thứ hai, khái niệm về hành vi chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Chiếm đoạt được hiểu là hành vi cố ý (lừa đảo, công nhiên chiếm đoạt, bắt cóc,

…) chuyển dịch trái phát luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tàisản của mình

Hành vi chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là hành vi cố ý (lừa đảo, côngnhiệt nhiên chiếm đoạt, bắt cóc,…) của người phạm tội trực tiếp tác động vào cơ thểcủa nạn nhân nhằm chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể của nạn nhân mà không được

sự đồng ý của nạn nhân hoặc nạn nhân hoàn toàn không biết trước sự việc xảy ra vànạn nhân hoàn toàn không nhận được bất kỳ lợi ích từ việc chiếm đoạt này

Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 quy

định “Hiến mô, bộ phận cơ thể người là việc cá nhân tự nguyện hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc sau khi chết”9 Hành vi chiếm đoạt mô hoặc bộ phận

cơ thể người là hành vi cố ý thực hiện của người phạm tội tác động đến nạn nhân đingược ý chí tự nguyện của nạn nhân Vì vậy, đây là hành vi vi phạm pháp luật

1.2.1.4 Khái niệm tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Từ khái niệm về hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Người viết nhận định: Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là hành

vi trái pháp luật hình sự do người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý để mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể của nạn nhân, xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe, tính mạng của nạn nhân.

8 Điểm đ khoản 1 Điều 6 Luật đầu tư năm 2014.

9 Khoản 6 Điều 3 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006

Trang 21

Mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là hành vi xâm hại đến tínhmạng, sức khỏe của người bị hại Trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, đã

có nhiều vụ việc xâm hại tính mạng, sức khỏe của người khác bằng nhiều thủ đoạn khácnhau nhằm để chiếm đoạt nội tạng, bộ phận cơ thể người nhưng đa phần là vì lợi ích vậtchất, tiền bạc

1.2.2 Đặc điểm về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Trong khoa học pháp lý hình sự, tội phạm được hiểu là hành vi nguy hiểm cho

xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình

sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.10

Về bản chất pháp lý thì tội phạm là hành vi pháp luật hình sự chứa đựng đầy đủcác đặc điểm của vi phạm pháp luật nói chung Song bên cạnh đó nó còn mang các đặcđiểm có tính đặc thù riêng của nó để dựa vào đó có thể phân biệt được tội phạm với các

vi phạm pháp luật khác Các đặc điểm đó đã được thể hiện trong khái niệm tội phạm, đólà: tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phảichịu hình phạt

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất,quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm, bởi nó là thuộc tính và là nội dung củatội phạm

Tại Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã khẳng

định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội…” Như vậy tính nguy hiểm chính là

dấu hiệu quan trọng nhất quyết định một tội phạm, nó được thể hiện thông qua hành vi

cụ thể trực tiếp tác động đến khách thể mà BLHS hiện hành bảo vệ

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm nghĩa là gây ra hoặc đe dọa gây ranhững thiệt hại cho các quan hệ xã hội với tính chất nguy hiểm đáng kể Đây là cácquan hệ xã hội gắn liền với Nhà nước, mọi công dân và toàn xã hội; và khi bị xâm hại,

có thể làm ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các quan hệ xã hội

Về tính có lỗi của tội phạm, lỗi là thái độ chủ quan của một người đối với hành vinguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng

10 Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trang 22

cố ý và vô ý Lỗi cố ý bao gồm cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp Lỗi vô ý bao gồm lỗi

vô ý do quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả

Căn cứ vào tính có lỗi cho thấy luât hình sự Việt Nam không chấp nhận việc quytội khách quan chỉ thông qua hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà không căn cứ vào lỗicủa người thực hiện hành vi đó Mục đích của áp dụng hình phạt là trừng phạt người

có lỗi chứ không phải trừng phạt hành vi

Tóm lại, luật hình sự Việt Nam xem lỗi là một dấu hiệu của tội phạm để thừanhận lỗi là một nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Khi xác định hành vi có phải là tộiphạm hay không phải là tội phạm, chúng ta cần dựa trên cơ sở thống nhất các yếu tốchủ quan và khách quan Bởi vì, chúng ta áp dụng hình phạt không phải chỉ để trừngtrị người có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà còn nhằm mục đích cải tạo, giáo dục họtrở thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt sẽ không đạtmục đích, thậm chí còn có tác dụng ngược lại nếu hình phạt được áp dụng đối vớikhông có lỗi

Tính trái pháp luật hình sự cũng được thể hiện ngay tại khoản 1 Điều 8 BLHSnăm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi thực hiện các hành xâm phạm độc lập, chủquyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh

tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp phápcủa tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâmphạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định củaBLHS hiện hành phải bị xử lý hình sự

Tính trái pháp luật hình sự không chỉ được thể hiện ở Điều 8 mà còn được thểhiện ở Điều 2 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Cụ thể quy định:

“Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Theo Tiến sĩ Phạm Văn Beo thì “Tính trái pháp luật hình sự là hành vi phạm tội trái với quy định của BLHS” Nghĩa là, khi BLHS quy định một hành vi nào đó bị cấm

thì người phạm tội thực hiện hành vi đó Ngược lại, khi BLHS quy định hành vi đóphải được làm thì người phạm tội không làm hoặc không làm hết trách nhiệm và khảnăng của mình Ví dụ, tại Điều 132 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quyđịnh trách nhiệm cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng.Như vậy, người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng,tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, bị xem là tráipháp luật hình sự

Trang 23

Như vậy tính trái pháp luật cũng là dấu hiệu đặc biệt quan trọng Những hành viđược coi là trái pháp luật cũng đồng thời là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quyđịnh trong Luật hình sự Tính trái pháp luật là căn cứ để đảm bảo quyền lợi của côngdân, tránh việc xử lý tùy tiện.11

Tính phải chịu hình phạt cũng là dấu hiệu đặc trưng của tội phạm Tính phải chịuhình phạt là dấu hiệu kèm theo của dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội và tính tráipháp luật hình sự Tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự là cơ sở để

cụ thể hóa tính phải chịu hình phạt, tính nguy hiểm cho xã hội càng lớn thì hình phạtcàng cao Cũng vì tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bất cứ hành vi phạm tộinào cũng có thể bị đe dọa áp dụng hình phạt

Từ những đặc điểm chung về tội phạm, người viết nhận thấy tội mua bán, chiếmđoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người cũng có những đặc điểm chung như trên Bên cạnh

đó, loại tội phạm này cũng có những đặc điểm riêng như sau:

Hành vi khách quan của tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

là một trong hai hành vi là mua bán; hoặc hành vi chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thểngười hoặc vừa chiếm đoạt vừa mua bán Đây là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội,xâm phạm đến sức khỏe của nạn nhân và thậm chí cướp đi tính mạng của họ Đối vớinhững hành vi xâm phạm đến mô hoặc bộ phận cơ thể người không thực hiện bằnghình thức mua bán hay chiếm đoạt, không xâm phạm đến sức khỏe con người thì đâykhông được xem là hành vi khách quan của loại tội phạm này Hành vi khách quan củatội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người phải thực hiện bằng hành động

Ví dụ như hành vi mổ, ghép thận, tách mô bất hợp pháp trái lại các nguyên tắc trongviệc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người được quy định tại Điều 4 Luật hiến, lấy,ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006

Từ hành vi khách quan của tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thểngười cho thấy đây là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, có khả năng gây ra hoặc đedọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội Vì thế, cần có những biện pháp điều chỉnh,hạn chế, ngăn ngừa để làm giảm đi tính nguy hiểm của tội phạm về mua bán, chiếmđoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người đã và đang xảy ra trên thực tế

Trong bối cảnh các hành vi mua bán bộ phận cơ thể người đang diễn ra tràn lan

và gây tác động tiêu cực đến con người thì việc bổ sung quy định về tội phạm muabán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổsung năm 2017) đã tạo cơ sở vững chắc để xử lý loại tội phạm này cũng như góp phầnphòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm đạt hiệu quả Nhận thấy tính nguy hiểm cho

11 Phạm Văn Beo: Luật hình sự Việt Nam quyển 1 (Phần chung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.116 –

tr.125.

Trang 24

xã hội của loại tội phạm này, tại Điều 154 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm2017) đã nghiêm cấm hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.Hành vi khách quan tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người vớilỗi cố ý Nhưng đối với người thực hiện hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận

cơ thể người với lỗi cố ý trực tiếp Bởi người phạm tội nhận thức được hành vi trêngây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của nạn nhân nhưng vẫn cố ý thực hiện mặchậu quả xảy ra

Chỉ những hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt, hình phạt được coi là cơchế răn đe, giáo dục đối với tội phạm Đối với những hành vi mua bán, chiếm đoạt môhoặc bộ phận cơ thể người thì phải chịu mức tương ứng theo quy định tại Điều 154BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Hình thức chịu phạt đối loại tội phạmnày là phạt tù có hạn, tù chung thân Bên cạnh đó người phạm tội có thể bị phạt tiền,cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định Từ chế tài quyđịnh tại Điều 154 có thể thấy đối với những người phạm tội mua bán, chiếm đoạt môhoặc bộ phận cơ thể người thì nhà nước ta đã đưa mức hình phạt thích đáng, đủ mứcrăn đe người phạm tội khi vi phạm pháp luật

1.2.3 Nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc

bộ phận cơ thể người

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm nói chung, tội mua bán, chiếmđoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người nói riêng diễn biến hết sức phức tạp và có chiềuhướng gia tăng về số vụ, tính chất nghiêm trọng với phương thức, thủ đoạn ngày càngtinh vi, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự Tội phạm mua bán, chiếmđoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người đã trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khỏe củacon người mà đối tượng tác động chủ yếu là phụ nữ và trẻ em

Trong bối cảnh các hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể ngườiđang diễn ra tràn lan và gây tác động tiêu cực đến con người thì việc nghiên cứu tìnhhình tội phạm của loại tội phạm này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trìnhđấu tranh phòng và chống tội phạm Tuy nhiên, qua quá trình tìm hiểu về tội muabán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người, người viết nhận thấy tình hình tộiphạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người đến từ những nguyên nhân

và điều kiện sau đây:

Nguyên nhân và điều kiện đến từ người phạm tội

Nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội là tổng hợp những nhân tố tiêucực thuộc về nhân thân người phạm tội có thể tác động, ảnh hưởng, dẫn đến việc làm

Trang 25

phát sinh tội phạm của người phạm tội Những nhân tố tiêu cực này có thể là các yếu

tố thuộc về sinh học, tâm lí, xã hội - nghề nghiệp của người phạm tội

Người phạm tội có trình độ văn hóa thấp, không học hành, ý thức pháp luật kém,không nghề nghiệp sẽ dễ dàng bị xúi giục, dễ dàng sa ngã vào con đường phạm tội,sẵn sàng thực hiện những hành vi trái pháp luật như mua bán nội tạng, chiếm đoạt mô,

bộ phận cơ thể người,

Nguyên nhân và điều kiện đến từ phía nạn nhân, gia đình nạn nhân

Chính sự lơ là, mất cảnh giác, lo sợ, âm thầm chịu đựng không tố giác của nạnnhâncũng là một yếu tố nguyên nhân, bởi họ là những nạn nhân và khi đứng trướcnhững hành vi mà người phạm tội tác động trực tiếp vào nạn nhân để lấy mô hay bộphận cơ thể người đã đe dọa sâu sắc khiến họ sợ hãi, im lặng trước những hành vi này.Bên cạnh đó gia đình nạn nhân cũng là đối tượng làm phát sinh loại tội phạm này bởitrong một số trường hợp họ chứng kiến ba mẹ, con cháu hay người thân của mình traođổi, giao dịch, thực hiện hành vi mua bán mô, bộ phận cơ thê người thì họ không mạnh

mẽ tố giác, che dấu loại tội phạm này

Nguyên nhân và điều kiện đến từ yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục

Sự phát triển của nền kinh tế đã tác động mạnh mẽ mọi mặt của đời sống xã hội.Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, có điều kiện tiếp nhận các dịch vụ hiệnđại, cơ sở vật chất, hệ thống cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục ngày một hoàn thiện Bêncạnh đó, sự phát triển của kinh tế thị trường đã để lại nhiều hậu quả tiêu cực tác độngvào ý thức, sự ích kỉ của mỗi con người trong xã hội khi không đặt mục tiêu lợi ích tậpthể lên trên lợi ích cá nhân, xem nhẹ sức khỏe, tính mạng người khác Cá nhân chịu tácđộng từ môi trường sống tiêu cực khi gặp những tình huống cụ thể sẽ hình thành nênnhân cách sai lệch dẫn đến việc thực hiện tội phạm Nguyên nhân bắt nguồn từ môitrường sống là tổng hợp các nhân tố tiêu cực được hình thành từ môi trường sống của

cá nhân có thể tác động, ảnh hưởng đến cá nhân ở mức độ nhất định mà từ đó làm phátsinh tội phạm Ví dụ như các nhân tố: môi trường gia đình không hoàn thiện, môitrường nơi cư trú có nhiều tệ nạn xã hội Đây chính là nguồn gốc làm phát sinh tộimua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Có thể thấy, khi mất cân bằng xã hội, chênh lệch về trình độ, khác biệt giữanghèo và giàu, sự gia tăng dân số có thể tác động làm phát sinh tội mua bán, chiếmđoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người Tác động của quá trình đô thị và công nghiệp hoá,tác động của quá trình di dân hay tác động của việc bùng nổ dân số dẫn đến tình trạngthât nghiệp, đói nghèo Từ đó, những người không có chỗ ở, không có việc làm ổnđịnh họ sẽ tìm mọi cách để được sống, tồn tại trong xã hội, bất chấp làm mọi thứ kể cả

Trang 26

thực hiện những hành vi phạm pháp để tạo ra tiền, duy trì sự sống, những người này sẽtrộm cắp, cướp tài sản, đặc biệt hơn là họ sẽ có thể thực hiện những hành vi đặc biệtnguy hiểm như mua bán nội tạng, bộ phận cơ thể người,…

Tiếp theo, nguyên nhân về văn hoá, giáo dục: Đây có thể là những nhân tố hạnchế trong quá trình quản lí, triển khai thực hiện các chính sách, chương trình về vănhoá, giáo dục có thể tác động, ảnh hưởng làm phát sinh tội phạm Ví dụ: Nhà trườngchưa coi trọng việc giáo dục, không dạy học sinh biết cách tự bảo vệ bản thân nhằmngăn chặn hiệu quả tội phạm tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Nguyên nhân và điều kiện đến từ quy định pháp luật

Quy định pháp luật chưa chặt chẽ, còn thiếu sót cũng là nguyên nhân và điềukiện làm phát sinh tội phạm về mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Nguyên nhân và điều kiện thuộc về các cơ quan chức năng

Mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là loại tội phạm được thựchiện một cách tinh vi, khó phát hiện và xử lí

Một số nơi như hải đảo, biên giới, vùng núi, vùng sâu vùng xa… Hệ thống cơquan quản lí tại các nơi này chưa chặt chẽ, nghiêm ngặt Từ đó tạo điều kiện cho tộiphạm dễ dàng lôi kéo, dụ dỗ, thực hiện hành vi mua bán mô, nội tạng, bộ phận cơ thểngười,…

Nguyên nhân đến từ công tác tuyên truyền, giáo dục trong gia đình, xã hội

Với các nhà trường chưa thực sự đưa vào việc dạy kỹ năng sống cho học sinh làmôn học bắt buộc, việc giảng dạy những kiến thức đạo đức làm người cho các em họcsinh về nhân cách còn sơ sài, hình thức, đùn đẩy trách nhiệm giữa gia đình và nhàtrường cũng tạo cho các em tâm lý chán nản, lệch chuẩn, chán học tụ tập ăn chơi, Từ

đó tạo điều kiện khiến các em dễ dàng bị dũ dỗ, xa ngã vào con đường phạm tội hâythậm chí các em chính là nạn nhân của tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơthể người

Với môi trường giáo dục của gia đình: gia đình là tế bào của xã hội, là nơi hìnhthành các chuẩn mực đạo đức, là nơi kiến tạo cho mỗi cá nhân phát triển, ở thế hệ đitrước sống gương mẫu chan hòa, yêu thương lẫn nhau, sống chuẩn mực, con cái sẽhình thành những nhân cách tích cực Tuy nhiên hiện nay không ít gia đình việc chạytheo lối sống của cơ chế thị trường đã khiến cho thời gian dành cho gia đình ít đi, cha

mẹ bất hòa, ly hôn, không quan tâm đến con cái, mà chỉ bận làm ăn kiếm tiền, việcgiáo dục trong gia đình không được chú trọng , mặt khác con cái được nuông chiều vàtiếp xúc với đồng tiền quá sớm đã hình thành những nhân cách xấu, … cũng ảnh

Trang 27

hưởng không nhỏ đến tâm lý của con cái, nảy sinh suy nghĩ tiêu cực, bất cần và cónhững hành vi côn đồ, trái pháp luật dẫn đến hình thành tội phạm nói chung và tội muabán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phậm cơ thể người nói riêng.

Mặc dù có nhiều cố gắng song công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luậtcòn có những hạn chế nhất định, còn hình thức, đơn điệu, chưa sát thực, một số nơivùng sâu vùng xa, kinh tế đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa của người dân còn thấpkhông biết tiếng phổ thông, đội ngũ làm công tác pháp luật còn yếu và thiếu chưa đápứng được nhu cầu tuyên truyên, giáo dục, phổ biến pháp luật

1.2.4 Tội phạm hóa tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trong Luật hình sự Việt Nam

Việc cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người đã mở ra một kỷ nguyên mới cho y họcthế giới nói chung và y học Việt Nam nói riêng Ngày nay sự phát triển mạnh mẻ củakhoa học kỹ thuật, đã tạo ra những thành tựu cho phép con người có thể đã và đangcan thiệp rất sâu vào các hiện tượng khác nhau của sự sống của chính bản thân conngười Đặc biệt trong lĩnh vực y học đã có những thành tựu quan trọng, làm tăng sứckhỏe và kéo dài tuổi thọ cho con người Một trong những thành tựu đó là việc cấyghép thành công mô và bộ phận cơ thể người nhằm thay thế những mô, cơ quan bịhỏng, khiếm khuyết trên cơ thể con người

Đến năm 1989, pháp luật Việt Nam quy định về việc lấy và ghép mô hoặc một

bộ phận của cơ thể con người Cụ thể quy định: “Thầy thuốc chỉ tiến hành lấy mô hoặc

bộ phận của cơ thể người sống hay người chết dùng vào mục đích y tế sau khi đã được

sự đồng ý của người cho, của thân nhân người chết hoặc người chết có di chúc để lại”.12 Việc cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người phải dựa trên sự tự nguyện hiến tặng

và vì mục đích nhân đạo không vì mục đích thương mại Tuy nhiên, các quy định nàychỉ mang tính nguyên tắc, chưa cụ thể, chưa đầy đủ nên khó thực hiện trong thực tiễn.Vấn đề hiến xác nhân đạo, hiến bộ phận cơ thể nhận được nhiều sự chú ý, quantâm, ủng hộ của người dân Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì việc tiếnhành lấy, ghép mô, xác, bộ phận cơ thể người hiến đã giúp cho cuộc sống của rất nhiềungười được kéo dài thêm, được chữa khỏi bệnh

BLDS năm 2005 cũng quy định về việc hiến bộ phận cơ thể người Cụ thể tại

Điều 33 về quyền hiến bộ phận cơ thể quy đinh: “Cá nhân có quyền được hiến bộ phận cơ thể của mình vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học” Tại điều 34 BLDS năm 2005 quy định quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết như sau: “Cá nhân có quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì

12 Khoản 1 Điều 30 Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989.

Trang 28

mục đích Việc hiến và sử dụng xác, bộ phận cơ thể của người chết được thực hiện theo quy định của pháp luật”.

Ngày 29 tháng 11 năm 2006, tại kỳ họp thứ 10 Khoá XI, Quốc hội nước ta đãthông qua Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006.Luật này cũng đưa ra các nguyên tắc trong việc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể

người trên cơ sở “Tự nguyện đối với người hiến, người được ghép Vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học Không nhằm mục đích thương mại” 13

BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thể hiện tinh thần chủ động phòngngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm và thông qua hình phạt để răn đe, giáodục, cảm hoá, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện; qua đó, bồi dưỡngcho mọi công dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật, chủ độngtham gia phòng ngừa và chống tội phạm BLHS này không quy định mua bán, chiếmđoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là một tội danh mà chỉ xử lý tương ứng về cáchành vi xâm hại đến tính mạng và sức khỏe của người khác trong các tội phạm như tộigiết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác… Ví dụ

như hành vi “Lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân”14 của tội mua bán người

Tại Điều 11 của Luật số 75/2006/QH11 quy định về các hành vi bị nghiêm cấm,trong đó có rất nhiều các hành vi bị nghiêm cấm có liên quan đến hoạt đông mua bánnội tạng người bất hợp pháp như: Hành vi lấy trộm mô, bộ phận cơ thể người; lấy trộmxác; Ép buộc người khác phải cho mô, bộ phận cơ thể người hoặc lấy mô, bộ phận cơthể của người không tự nguyện hiến; Mua, bán mô, bộ phận cơ thể người; mua, bánxác; Lấy, ghép, sử dụng, lưu giữ mô, bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại;Lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống dưới mười tám tuổi; Quảng cáo, môi giới việchiến, nhận bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật”15 Hiến pháp năm 2013 đã tạo khung pháp lý

để Việt Nam phát triển ngành kỹ thuật y học ghép mô cũng như bộ phận cơ thể người.Đây cũng là cơ sở để tạo điều kiện hơn nữa cho việc thực hiện quyền hiến xác, bộ phận

cơ thể vì mục đích nhân đạo, phục vụ cho chữa bệnh, cứu sống nhiều người bệnh hơnnữa

Ở Việt nam, theo số liệu thống kê, nhu cầu được hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơthể người ở nước ta là rất lớn và ngày càng gia tăng Cụ thể là,cả nước có khoảng

13 Điều 4 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006.

14 Điểm d khoản Điều 119 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

15 Khoản 3 Điều 20 Hiến pháp năm 2013.

Trang 29

5.000 – 6.000 người suy thận mãn cần được ghép thận Tại 5 bệnh viện lớn ở Hà Nội

đã có gần 1.500 người được chỉ định ghép gan nhưng không có nguồn cho nên số bệnhnhân này đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng Ước tính, do không cónguồn của người cho thận, cho gan, ở Việt Nam đã có hơn 200 người phải sang TrungQuốc và một số nước khác để ghép thận, ghép gan Không chỉlà ghép thận, ghép gan,

số bệnh nhân cần phải ghép giác mạc cũng ngày càng tăng Đến nay có khoảng hơn5.000 người bệnh đang chờ được ghép giác mạc Riêng tại Viện Mắt Trung ương, mỗinăm nhu cầu ghép giác mạc từ 500 ca/năm trở lên Từ năm 1985 đến nay, Viện mớichỉ ghép được 1.500 ca, riêng năm 2004 ghép được 103 ca, năm 2005 ghép được 150

ca Số giác mạc được dùng để ghép chủ yếu lấy từ nguồn viện trợ của các tổ chức phiChính phủ nước ngoài (khoảng 50-100 giác mạc/năm), số còn lại được lấy từ bệnhnhân bị bỏ nhãn cầu do chấn thương và các nguyên nhân khác mà giác mạc có đủ tiêuchuẩn sử dụng16

Trước thực tế việc hiến mô hoặc bộ phận cơ thể người theo quy định pháp luậtdiễn ra chưa phổ biến và số lượng những người có nhu cầu cần cấy ghép mô hoặc bộphận cơ thể người tăng lên gấp nhiều lần Trước nhu cầu đó, nhiều người sẵn sàng bỏ

ra số tiền lên đến hàng trăm triệu để mua mô hoặc bộ phận cơ thể người bất hợp hợppháp để cấy vào cơ thể họ để đảm bảo sức khỏe tốt, hoạt động bình thường Chính vì

lẽ đó, đã làm gia tăng lên số lượng những người thực hiện những hành vi mua bán mô,chiếm đoạt bộ phận cơ thể người

Nhận thấy tình hình trên diễn ra phức tạp, không những xâm phạm đến sức khỏe,tính mạng con người mà còn gây ảnh hưởng mất an toàn, trật tự xã hội Ngày 27 tháng

11 năm 2015, Quốc hội ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 Trong đó BLHS bổ sungthêm một số tội danh mới, trong đó có tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơthể người được quy định tại Điều 154 BLHS năm 2015

Điều luật này được bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trong thời gianqua xảy ra những hành vi mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người và bảo đảmtính thống nhất với Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác Sự

ra đời của tội danh này có ý nghĩa quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chốngtội phạm thực hiện hành vi mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người ở nước ta.BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi, bổ sung một số Điềucủa BLHS năm 2015 Tuy nhiên, BLHS hiện hành này vẫn giữ nguyên tội mua bán,chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người quy định tại Điều 154 BLHS năm 2015 (sửađổi, bổ sung năm 2017)

16 “Thêm một hành lang pháp lý cho y học Việt Nam”, Thông tin pháp luật dân sự,

https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/04/20/789-2/ , [truy cập ngày 07/01/2020].

Trang 30

1.2.5 Ý nghĩa việc nghiên cứu tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trong BLHS 2015 (sửa đổi và bổ sung 2017)

Trong thời gian qua, tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thểngười đang có chiều hướng phức tạp, đang là một hiện tượng nhức nhối ở nước ta hiệnnay Vấn nạn này không chỉ xâm hại đến quyền con người, làm ảnh hưởng nghiêmtrọng đến sức khỏe, tinh thần, tính mạng của nạn nhân mà còn tác động xấu đến đạođức, giống nòi, lối sống, thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình anninh, trật tự của đất nước Để đấu tranh phòng ngừa hành vimua bán, chiếm đoạt môhoặc bộ phận cơ thể người, pháp luật hình sự nước ta đã quy định cụ thể tội mua bán,chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người tại Điều 154 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổsung năm 2017) Quy định này mang nhiều ý nghĩa vô cùng quan trọng

Ý nghĩa mặt lý luận:

Quy định này đã tạo dựng một khung pháp lý quan trọng làm cơ sở cho cuộc đấutranh phòng chống tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người mộtcách hiệu quả

Quy định về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là một bước

đi có giá trị từ thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm Nhất là trong bối cảnh cáchành vi mua bán nội tạng, bộ phận cơ thể người diễn ra tràn lan và gây tác động tiêucực tới đời sống xã hội Quy định này nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của conngười, góp phần ổn định trật tự, an toàn xã hội vừa có tác dụng hỗ trợ cho công tác đấutranh truy quét loại tội phạm này trên thực tế

Tạo ra khung cơ sở pháp lý vững chắc, cụ thể để cho các cơ quan có thẩm quyền

áp dụng đối với loại tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người mộtcách nghiêm khắc, thích đáng, đủ tính răn đe, không bỏ sót tội phạm

Ý nghĩa mặt thực tiễn:

Nhằm tuyên truyền, phố biến, cảnh báo người dân về tính nguy hiểm của tộiphạm này Từ đó, góp phần để người dân tự bảo vệ bản thân, tránh thực hiện hành vimua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trái pháp luật Bên cạnh đó, giúp

họ đề phòng và lên án đối với những hành vi dụ dỗ, lôi kéo thực hiện việc mua bán

mô, mua bán nội tạng, chiếm đoạt bộ phận cơ thể người,…Việc quy đinh này đã tácđộng mạnh mẽ, tạo sự răn đe, hạn chế, nghiêm cấm tuyệt đối vào các đối tượng đã vàđang hay sẽ thực hiện hành vi trái pháp luật này

Trang 31

Quy định về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trong BLHShiện hành góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành y học trong việc cấy ghép mô, bộphận cơ thể người Đảm bảo đúng tinh thần của Hiến pháp và các nguyên tắc củaLuậthiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

Từ đó cho thấy, việc quy định về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơthể người trong BLHS hiện hành có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi conngười, xã hội Góp phần thúc đẩy việc đảm bảo an toàn sức khỏe, tính mạng của conngười, ổn định trật tự xã hội và nghiêm khắc trừng trị, đẩy lùi các hành vi mua bán,chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trái pháp luật

Trang 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tóm lại, Chương 1 người viết đã đi tìm hiểu khái quát về các tội xâm phạm tính

mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người nói chung và tội mua bán, chiếm đoạt

mô hoặc bộ phậm cơ thể người nói riêng Đồng thời người viết cũng đưa ra nhữngnguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơthể người, quá trình hình thành và ý nghĩa việc nghiên cứu tội mua bán, chiếm đoạt môhoặc bộ phận cơ thể người trong BLHS ở giai đoạn hiện nay Từ đó cho thấy, vấn đềbảo vệ sức khỏe, tính mạng của con người là vô cùng cấp thiết Pháp luật hình sự đãghi nhận tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người tại Điều 154 BLHSnăm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nhằm tạo điều kiện vô cùng thuận lợi trongcông cuộc đấu tranh phòng và chống loại tội phạm này ở nước ta trong giai đoạn hiệnnay ngày càng tốt hơn

Trang 33

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI MUA BÁN, CHIẾM ĐOẠT MÔ

HOẶC BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI

Mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người không những là hành vi trái

pháp luật mà còn xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của con người Tại Chương 2

này, người viết sẽ phân tích CTTP và định khung hình phạt đối với tội danh này Bêncạnh đó, người viết cũng sẽ so sánh tội mua bán, chiếm đoạt mô bộ phận cơ thể ngườivới một số tội danh trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để tìm ra sựkhác biệt với mong muốn xác định đúng người, đúng tội danh, không bỏ lọt tội phạm

2.1 Cơ sở pháp lý tội mua bán, chiếm đoạt mô bộ phận cơ thể người

Tội mua bán, chiếm đoạt mô bộ phận cơ thể người được quy định tại Điều 154BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể như sau:

Điều 154 Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.

“1 Người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vì mục đích thương mại;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

d) Đối với từ 02 người đến 05 người;

Trang 34

c) Đối với 06 người trở lên;

d) Gây chết người;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

4 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm” 17

Theo quy định này thì tội mua bán, chiếm đoạt mô bộ phận cơ thể người đượcBLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định thuộc loại tội phạm đặc biết nghiêmtrọng với mức hình phạt thấp nhất là tù 03 năm tù và hình phạt cao nhất là tù chungthân Bên cạnh đó, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng ghi nhận hình

phạt bổ sung đối với tội dành này: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.18

2.2 Các dấu hiệu pháp lý tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Để góp phần xác định tội phạm và áp dụng hình phạt trong tình hình hiện nay,đứng ở góc độ là một người nghiên cứu pháp luật, người viết sẽ trình bày một số nộidung liên quan đến việc xác định các dấu hiệu bắc buộc để CTTP của tội mua bán,chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 không quy định mua bán, chiếmđoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là một tội danh mà chỉ xử lý tương ứng về cáchành vi xâm hại đến tính mạng và sức khoẻ của người khác trong các tội phạm như tộigiết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác Đến lầnpháp điển hóa thứ 3 nhà làm luật đã quy định tại BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)ghi nhận trách nhiệm hình sự đối với hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận

cơ thể người Tội phạm này được cấu thành bởi các dấu hiệu pháp lý sau:

2.2.1 Về mặt khách thể

Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người xâm phạm đến các quan

hệ xã hội về bảo đảm quyền được bảo vệ về sức khỏe, tính mạng, an toàn thân thể củacon người Như vậy, khách thể của tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thểngười là quyền được bảo vệ về sức khỏe, tính mạng, an toàn thân thể của con người.Hành vi phạm tội xâm phạm tới khách thể thông qua đối tượng tác động Đốitượng tác động của hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là mô

17 Điều 154 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

18 Khoản 4 Điều 154 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trang 35

và bộ phận cơ thể người nhằm lấy đi một hoặc một số mô, hoặc bộ phận cơ thể củanạn nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại, tổn thất, xâm phạm trực tiếp đếnsức khỏe, tính mạng của nạn nhân Như vậy, đối tượng của tội phạm mua bán, chiếmđoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người hướng tới là mô hoặc bộ phận cơ thể của ngườisống và không đề cập đến đối tượng của khách thể là người đã chết.

Trong cơ thể con người có một số bộ phận cơ thể có thể tái tạo, phục hồi lại đượcsau khi bị mất và những bộ phận cơ thể không thể nào tái tạo, phục hồi, quay lại đượcnhư tình trạng ban đầu Vì vậy, một khi nạn nhân bị lấy đi một hoặc một số các mô, bộphận cơ thể sẽ dẫn đến tình trạng sức khỏe của nạn nhân bị suy giảm nghiêm trọng dochức năng hoạt động bình thường của bộ phận cơ thể bị mất đi, cơ thể nạn nhân phảimất một thời gian dài để phục hồi ổn định quá trình hoạt động, sự trao đổi chất giữacác cơ quan trong cơ thể nhưng đa phần những bộ phận mất đi khó có thể quay lại tìnhtrạng cơ thể bình thường như ban đầu Một số trường hợp khi nạn nhân bị lấy đi mộthoặc một số các bộ phận quan trọng, có chức năng chủ yếu trong mỗi hệ cơ quan của

cơ thể thì lập tức có thể gây tử vong cho nạn nhân

Tóm lại, khách thể của tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người làquyền được bảo vệ sức khỏe, tính mạng, an toàn thân thể con người mà người phạmtội tác động trực tiếp lên đối tượng là mô, bộ phận cơ thể của người sống

2.2.2 Về mặt khách quan

Mặt khách quan của tộimua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người thểhiện ở những dấu hiệu như hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả tác hại do hành vimua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người gây ra, mối quan hệ nhân quả giữahành vi nguy hiểm và hậu quả tác hại, thời gian, địa điểm, phương pháp, phương tiện

và công cụ thực hiện tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Hành vi gây nguy hiểm cho xã hội

Hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận

cơ thể người chính là hành vi khách quan của loại tội phạm này Hành vi khách quanquan này là hành vi trái pháp luật, không những xâm phậm đến sức khỏe, tính mạng,

an toàn thân thể của nạn nhân mà còn gây rối loại, mất trật tự an toàn xã hội

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này được thể hiện một trong haihành vi đó là hành vi mua bán mô hoặc bộ phận cơ thể người và hành vi chiếm đoạt

mô hoặc bộ phận cơ thể người

Hành vi mua bán mô hoặc bộ phận cơ thể người là hoạt động mà bên bán thựchiện sự chuyển giao mô, bộ phận cơ thể người của mình hoặc của người khác cho bên

Trang 36

mua và nhận thanh toán Còn bên mua mô, bộ phận cơ thể người thì nhận hàng và phảithanh toán tiền, vật chất hay lợi ích khác theo sự thỏa thuận của hai bên Có thể thấy,mặc dù hành vi mua bán mô hoặc bộ phận cơ thể người thể hiện ý chí tự nguyện giữabên mua và bên bán nhưng đây là hành vi trái pháp luật, xâm hại đến sức khỏe, tínhmạng con người

Hành vi chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là hành vi cố ý (dùng vũ lực,

đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần, dụ dỗ, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm, cướp, côngnhiên chiếm đoạt…) của người phạm tội trực tiếp tác động vào cơ thể của nạn nhânbằng cách tách, mổ, ghép,… nhằm chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể của nạn nhân

mà không được sự đồng ý của nạn nhân hoặc nạn nhân hoàn toàn không biết trước sựviệc xảy ra và nạn nhân hoàn toàn không nhận được bất kỳ lợi ích từ việc chiếm đoạtnày Hành vi chiếm đoạt là hành vi trái pháp luật gây ảnh hưởng đến sức khỏe nạnnhân và thậm chí gây ra thiệt hại về tính mạng

Người phạm tội chỉ cần có hành vi mua bán hoặc chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thểngười là đã cấu thành tội phạm mà không cần biết đã mua bán được chưa hay đã chiếmđoạt được mô hoặc bộ phận cơ thể người chưa Trong trường hợp nạn nhân đồng ý vớiviệc mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người thì người phạm tội vẫn phảichịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này

Đối với những hành vi tự nguyện hiến mô hoặc bộ phận cơ thể người cho ngườikhác mà không thực hiện bằng hình thức mua bán, chiếm đoạt hay vì mục đích lợinhuận không xâm phạm đến sức khỏe con người thì đây không được xem là hành vikhách quan của loại tội phạm này

Ví dụ, anh Nguyễn Văn T tự nguyện hiến tặng tim cho anh Nguyễn Văn L để choanh T tiếp tục duy trì sự sống trên cơ sở tự nguyện không xảy ra việc mua bán ngầmbên trong thì hành vi của anh T không được xem là hành vi khách quan của tội muabán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Hành vi khách quan của tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể ngườiphải thực hiện bằng hành động và mục đích là mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận

cơ thể người Vì vậy, cần tách bạch giữa việc tác động vào cơ thể nạn nhân để chiếmđoạt bộ phận cơ thể với hành vi tác động vào nạn nhân để cố ý gây thương tích hoặcgiết người bởi mục đích của hành vi này là căn cứ quan trọng để định tội danh trongBLHS

Đối với một số trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi xâm phạm đến sứckhỏe, tính mạng nhưng không vì mục đích mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơthể người của nạn nhân hoặc thực hiện hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận

Trang 37

cơ thể đối người đã chết thì sẽ không là hành vi khách quan tội của tội mua bán, chiếmđoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Ví dụ, anh Nguyễn Văn A là thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổnhại cho sức khỏe cho anh Nguyễn Văn B nhưng không vì mục đích thương mại haymua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể của anh Nguyễn Văn B thì anh NguyễnVăn A sẽ bị truy cứu TNHS (anh A đủ điều kiện truy cứu THHS) theo tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại Điều 134 BLHS năm

2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Ví dụ, Được biết anh Trần Văn Y đã chết và được chôn ngay mảnh vườn sau nhàanh Trần Văn X ( anh X có đủ điều kiện để truy cứu TNHS) Nên anh X đã thực hiệnhành vi lấy tay, chân, tim, gan của anh Trần Văn Y để đem đi bán Vì thế, hành vi củaanh X sẽ không bị truy cứu TNHS về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thểngười tại Điều 154 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà anh X sẽ bị truycứu TNHS theo tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt tại Điều 319 BLHS năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Hậu quả tác hại do hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Thiệt hại của việc mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người gây rađược thể hiện dưới dạng thể chất Cụ thể là gây thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng, thânthể của nạn nhân

Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là tội phạm có CTTPhình thức, tức là CTTP chỉ đòi hỏi người phạm tội có hành vi phạm tội mà không cầnthiết phải gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội Chính vì vậy, hậu quả của tội phạm nàykhông phải yếu tố bắt buộc của CTTP nhưng nó được quy định là tình tiết định khunghình phạt tăng nặng

Về hậu quả thì người phạm tội chỉ cần có một trong hai hành vi là mua bán mô,

bộ phận cơ thể người hoặc hành vi chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người là đã cấuthành tội phạm tội việc mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người mà khôngcần biết đã mua bán được chưa hay đã chiếm đoạt được chưa

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả tác hại gây ra

Hành vi khách quan của tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thểngười là nguyên nhân dẫn đến hậu quả, tác hại gây ra của người thực hiện hành vi muabán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người Mối quan hệ nhân quả này được sửdụng để xác định đúng đối tượng thực hiện, nguyên nhân dẫn đến hậu quả và có ý

Trang 38

nghĩa trong việc định thành thành tội phạm hay quyết định hình phạt của tội mua bán,chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.

Hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là hành vi trái phápluật, xâm phạm đến sức khỏe và tính mạng cảu con người Vì vây, việc xác định mốiquan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả của tội mua bán, chiếm đoạt môhoặc bộ phận cơ thể người là vô cùng cần thiết Điều này góp phần làm cho những aithực hiện hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể phải chịu TNHS đốivới những hậu quả đã xảy ra một cách thích đáng

2.2.3 Về mặt chủ thể

Chủ thể của tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người phải đạt độtuổi theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và có năng lựctrách nhiệm hình sự

Về độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự của tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc

bộ phận cơ thể người thì phải từ đủ 16 tuổi trở lên.19 Về năng lực trách nhiệm hình sựthì đó là khả năng một người có thể nhận thức được đầy đủ tính chất và hậu quả nguyhiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cũng như có khả năng điều khiển hành vi đó Như vậy, một người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự khi

có hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người thì sẽ là chủ thể của tộimua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

2.2.4 Về mặt chủ quan

Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là thái độ tâm lý củangười phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện với hậu quả dohành vi ấy gây ra cho xã hội Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm lỗi, động cơ, mụcđích phạm tội

Lỗi của người phạm tội

Chủ thể thực hiện hành vi mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người với lỗi

cố ý, cụ thể là lỗi cố ý trực tiếp Tức là, người phạm tội nhận thức được tính nguyhiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra, thấy trước hậu quả của hành vi đó nhưngvẫn mong muốn hậu quả xảy ra

Ví dụ: Nhận thấy hoàn cảnh khó khăn của anh Trần Văn X Ngày 14/09/2018anh Nguyễn Văn A đã tiếp cận và dụ dỗ anh X bán một quả thận với giá 350 triệuđồng và anh X đã đồng ý Sau khi được A hoàn tất mọi thủ tục, ngày 20/10/2018 X đã

19 Khoản 1 Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trang 39

được tiến hành cắt đi một quả thận của mình tại bệnh viện K theo sự sắp xếp của A.Trong quá trình cắt lấy quả thận, do mất máu quá nhiều nên anh X đã chết.

Trong trường hợp trên cho thấy, A đã thực hiện hành vi mua bán bộ phận cơ thểngười mà cụ thể là quả thận của anh X với lỗi cố ý trực tiếp Tức là, anh A nhận thứcđược hành vi của mình xâm hại đến sức khỏe hay thậm chí là cả tính mạng của anh Xnhưng vì lợi ích vật chất cho bản thân nên anh A vẫn thực hiện hành vi này

Đối với một số trường hợp, người phạm tội thực hiện hành vi mua bán, chiếmđoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người với lỗi cố ý trực tiếp Nhưng trong quá trình thựchiện, hành vi của người phạm tội chưa gây ảnh hưởng, xâm phạm đến sức khỏe củanạn nhân thì người phạm tội vẫn bị truy cứu TNHS về tội mua bán, chiếm đoạt môhoặc bộ phận cơ thể người

Động cơ phạm tội

Động cơ là yếu tố thúc đẩy, đóng vai trò là đích cuối cùng của hoạt động, giúpduy trì hoạt động trong suốt quá trình hoạt động của mình Đối với hành vi mua bán,chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người thì động cơ phạm tội là vì lợi ích cá nhân(sức khỏe của bản thân, của người thân…), lợi ích kinh tế (tiền, lợi ích vật chất…).Tuy nhiên, động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc đối với CTTP này mà động cơ củahành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người có thể xem xét là dấu hiệutăng nặng đối với tội phạm này

Mục đích phạm tội

Cũng như động cơ, mục đích phạm tội không phải là yếu tố bắt buộc đối với tộimua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người Về mục đích phạm tội mua bán,chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người có thể sử dụng mô, bộ phận cơ thể người đểphục vụ cho bản thân hoặc người khác, có thể chiếm đoạt để bán kiếm tiền…

Như vậy, Người phạm tội nhận thức rõ về hành vi của mình là nguy hiểm, gâythiệt hại cho sức khỏe, tính mạng cho nạn nhân nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tộivới lỗi cố ý Mặc dù thấy trước hậu quả của hành vi phạm tội nhưng chủ thể vẫn mongmuốn hậu quả xảy ra để đạt được mục đích hoặc là lấy được mô, bộ phận cơ thể để cấyghép cho bản thân, gia đình hoặc chiếm đoạt để bán, kiếm tiền

2.3 Khung hình phạt của tội mua bán, chiếm đoạt mô hoăc bộ phận cơ thể người

BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định cụ thể tội danh này tạiĐiều 154 Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người Đây là một bước đi

có giá trị từ thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, nhất là trong bối cảnh các hành

Trang 40

vi mua bán nội tạng, bộ phận cơ thể người diễn ra tràn lan và gây tác động tiêu cực tớiđời sống xã hội.

Chế tài đối với tội mua bán, chiếm đoạt mô hoăc bộ phận cơ thể người bao gồmhình phạt chính và hình phạt bổ sung Hình phạt chính của tội này được quy định ởkhoản 1, khoản 2 và khoản 3 tại Điều 154 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm2017) lần lượt tương ứng đối với loại tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêmtrọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Hình phạt bổ sung tội mua bán, chiếm đoạt

mô hoặc bộ phận cơ thể người được quy định tại khoản 4 Điều 154 BLHS 2015 (sửađổi, bổ sung 2017) Mức hình phạt đối với tội này được chia thành những trường hợp

cụ thể như sau:

2.3.1 Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 154 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)

Tại khoản 1 Điều 154 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

“Người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác, thì bị phạt tù từ

03 năm đến 07 năm” Như vậy, người nào thực hiện hành vi mua bán, chiếm đoạt mô

hoặc bộ phận cơ thể người khác thì sẽ áp dụng chế tài này đối với người phạm tội.Mức phạt này được quy định là phạt tù có thời hạn, cụ thể là phạt tù từ 03 năm đến 07năm Người phạm tội thực hiện hành vi vi phạm này thuộc loại tội phạm nghiêm trọng

2.3.2 Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 154 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)

Tại khoản 2 Điều 154 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

“Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Có tổ chức;

b) Vì mục đích thương mại;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

d) Đối với từ 02 người đến 05 người;

Ngày đăng: 27/03/2022, 16:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w