1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo án điện tử ngữ văn 11 bài hầu trời tản đà

32 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 8,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo án điện tử ngữ văn 11 bài hầu trời tản đà

Trang 1

Kính chào quý thầy cô

và các em!

Trang 2

TRÒ CHƠI HỘP QUÀ MAY MẮN

Trang 3

Con nhận được điểm

Câu 1: Trong chương trình Ngữ Văn lớp 8, các em đã

được học tác phẩm nào của tác giả Tản Đà? Nêu nội chính?

Muốn làm thằng cuội (là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ tài

hoa lãng mạn, đậm chất ngông của Tản Đà Giọng thơ nhẹ

nhàng, chơi vơi, thanh thoát như một lời tâm sự của một con

người bất hòa với thực tại, chán ghét cảnh trần thế, khát khao

được sống trong sạch hơn, thanh cao hơn, để mãi giữ chọn

thiên lương cao đẹp)

Trang 4

TẢN ĐÀ

Trang 6

1/ Tác giả Tản Đà

( 1889 - 1939)

- Sinh ra trong buổi giao thời, Tản Đà là

“con người của hai thế kỷ” (kể cả về học

vấn, lối sống và văn chương).

- Gia đình quan lại phong kiến nhưng lại sống theo phương thức của tư sản thành thị.

Trang 8

1/ Tác giả Tản Đà

( 1889 - 1939)

- Phong cách thơ văn:

+ Lãng mạn, bay bổng, vừa phóng khoáng, ngông nghênh, vừa cảm thương, ưu ái

+ Có thể xem thơ văn ông như một gạch nối giữa

hai thời đại của văn học dân tộc: trung đại và hiện

đại.

Trang 10

- Hầu Trời được in trong tập “Còn chơi”, xuất bản

lần đầu năm 1921 Xã hội thực dân nửa phong kiến đầy rẫy những ngang trái và xót xa

2/ Tác phẩm

I/ Tìm hiểu chung

a. Xuất xứ

Trang 12

“Đêm qua chẳng biết có hay không

Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng

Thật hồn! thật phách! thật thân thể!

Thật được lên tiên sướng lạ lùng!”

II/ Đọc – hiểu văn bản

Trang 13

II/ Đọc – hiểu văn bản

 Câu chuyện xảy ra vào “đêm qua”:

gợi khoảnh khắc yên tĩnh, vắng

lặng…

 Chuyện kể về một giấc mơ được lên

cõi tiên (Thật được lên tiên sướng lạ

lùng).

Trang 14

II/ Đọc – hiểu văn bản

- Nhân vật trữ tình là tác giả, đang

mang tâm trạng: “Chẳng phải hoảng

hốt, không mơ mòng”.

Trang 16

“Đêm qua chẳng biết có hay không

Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng

Trang 17

- Thi nhân đọc thơ một cách cao hứng và có

phần tự đắc.(đọc hết văn vần  văn xuôi…).

- Kể tường tận từng chi tiết về các tác phẩm

của mình (Hai quyển khối tình…) bút lực dồi

dào, thi tứ phóng khoáng bay bổng, phóng bút

trên nhiều lĩnh vực.

2. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe:

a.Thái độ của thi nhân khi đọc thơ:

Trang 18

2. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe:

a.Thái độ của thi nhân khi đọc thơ:

- Thi sĩ tự tôn cái tài của mình qua thái độ

trầm trồ, thán phục của các chư tiên, của Trời:

Thước đo chính xác tài năng của mình

►Ý thức rất rõ tài năng văn chương của

mình.

Trang 19

2. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe:

a.Thái độ của thi nhân khi đọc thơ:

       Trong Tự trào:

Vùng Sơn Tây nẩy một ông

Tuổi chưa bao nhiêu văn rất hùng

Sông Đà núi Tản ai hun đúc

Bút thánh câu thần sớm vãi vung.

Trang 20

2. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe:

a.Thái độ của thi nhân khi đọc thơ:

       Trong Xuân hứng

Xuống ngọn bút mưa sa gió táp

Vạch câu thơ quỷ ám thần kinh

Chúa xuân nức nở bên mình:

văn chương rất mực tài tình hỡi ai!

Trang 21

b.Thái độ của người nghe thơ:

Thái độ của Trời: 

+ “Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay”.

+ “Văn thật tuyệt!

+ “Nhời văn chuốt đẹp như sao băng

Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!

Êm như gió thoảng, tinh như sương”…

2. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe:

 Thái độ tâm đắc khi nghe thơ và cất lời khen rất nhiệt thành.

II/ Đọc – hiểu văn bản

Trang 22

b.Thái độ của người nghe thơ:

- Thái độ của chư tiên:  

Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi

Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày

Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng

Đọc xong một bài cùng vỗ tay.

2. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe:

 Nghe thơ  một cách xúc động, tán thưởng và hâm mộ.

II/ Đọc – hiểu văn bản

Trang 23

 Tóm lại: Thái độ của Trời và chư tiên khi

nghe thơ đã tỏ ra rất thích thú và ngưỡng

mộ tài năng thơ ca của thi nhân Cả đoạn

thơ đậm chất lãng mạn và thể hiện tư

tưởng thoát li trước thời cuộc của nhà thơ

II/ Đọc – hiểu văn bản

2. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe:

b.Thái độ của người nghe thơ:

Trang 25

3. Thi nhân trò chuyện với Trời

a.Thi nhân kể về hoàn cảnh của mình

- Bị đầy xuống hạ giới vì tội “ngông” – một tinh hoa văn học

- Thi nhân kể về cuộc sống:

Trần gian thước đất cũng không có Nhờ trời năm xuwau học ít nhiều Vốn liếng còn một bụng văn đó”.

Trang 26

3. Thi nhân trò chuyện với Trời

a.Thi nhân kể về hoàn cảnh của mình

 Đó cũng chính là hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ trong xã hội

“cơm áo ghì sát đất” bấy giờ Từ đó, Tản Đà đã ghi lại một bức tranh rất

chân thực và cảm động về chính cuộc đời mình và cuộc đời nhiều nhà văn, nhà thơ khác

 Cảm hứng hiện thực bao trùm cả bài thơ.

Trang 27

3. Thi nhân trò chuyện với Trời

b.Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân

“…Trời định sai con một việc này

Là việc “thiên lương”của nhân loại

Cho con xuống thuật cùng đời hay”.

một trách nhiệm nặng nề nhưng rất vinh dự vì có ý nghĩa với cuộc đời

Trang 28

3. Thi nhân trò chuyện với Trời

b.Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân

 Từ trách nhiệm này, chứng tỏ nhà thơ dù

lãng mạn nhưng vẫn không thoát ly hiện

thực cuộc sống Tác giả vẫn ý thức về trách

nhiệm và nghĩa vụ của mình với cuộc đời ,

mong giúp đời tốt đẹp hơn

Trang 29

1. Nội dung

- Bài thơ thể hiện “cái tôi” cá nhân ngông, phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định mình giữa cuộc đời

Trang 30

2. Nghệ thuật

- Bài thơ có nhiều sáng tạo trong hình thức nghệ thuật: thể thơ thất ngôn

trường thiên khá tự do; giọng thơ thoải mái - tự nhiên; ngôn ngữ giản

dị, hóm hỉnh…

Trang 31

1/ Bài tập 1 : Chọn câu thơ, đoạn thơ mà em thích trong bài thơ Hầu trời và phân tích câu thơ, đoạn thơ đó?

chương ( nói chung ) và cái “ngông” trong thơ Tản Đà (nói

IV/ Củng cố

Ngày đăng: 27/03/2022, 13:24

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm