Tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm thơ mới ở lớp 11, ban cơ bản, trung học phổ thông Nguyễn Thi ̣ Na Trường Đại học Giáo dục Luận văn ThS.. Vì n
Trang 1Tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm thơ mới ở lớp
11, ban cơ bản, trung học phổ thông
Nguyễn Thi ̣ Na
Trường Đại học Giáo dục Luận văn ThS ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (Bôn môn Ngư ̃ văn)
Mã số: 60 14 10 Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Viết Chữ
Năm bảo vệ: 2010
Abstract Xây dựng hệ thống lí luận về phương pháp đọc sáng tạo và những lợi thế
của nó trong dạy học thơ và Thơ mới Nghiên cứu thực trạng dạy học Thơ mới và giải pháp tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới Thực nghiệm: soạn giáo án theo phương pháp đọc sáng tạo, thực nghiệm
đối chứng
Keywords Ngữ văn; Lớp 11; Phương pháp dạy học; Trung học phổ thông; Phương
pháp đọc
Content
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Do nhận thức được tầm quan trọng của một nền giáo dục trong thời kì hội nhập khu vực và quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã chỉ đạo toàn ngành giáo dục chủ động đổi mới ở tư tưởng, quan niệm, chính sách, chiến lược, chương trình, phương pháp dạy học
Bộ môn Ngữ văn không nằm ngoài yêu cầu phải đổi mới toàn diện đó Cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng đã căn dặn: “dạy văn như cũ không có lợi cho đào tạo và không có lợi cho
dạy văn” Tuy nhiên, đổi mới phương pháp dạy học văn không phải chỉ là đổi mới ở mặt hình
thức, chỉ là một chút “gia giảm” (J.Vial) mà phải đổi mới triệt để
Thơ mới bộc lộ những “bi kịch đang diễn ra ngấm ngầm”, thế giới nội cảm phức tạp của nhà thơ trước cuộc sống Trong lịch sử văn học nước nhà, Thơ mới đánh dấu một bước đi lớn của văn học, là một giai đoạn phát triển và có sự cách tân táo bạo về ngôn từ, thể thơ, tư tưởng, chủ đề Thơ mới vẫn là một địa hạt thơ cần được khám phá, cần được cảm nhận, cần được hiểu thấu đáo hơn Chính vì vậy mà tiếp nhận Thơ mới không phải là điều dễ dàng đặc biệt là đối với các em học sinh
Với lợi thế của mình là thông qua việc đọc và các hoạt động hỗ trợ việc đọc, tác động tới người đọc bằng cả âm thanh và tư tưởng, phương pháp đọc sáng tạo góp phần phát triển được sự cảm thụ sâu sắc và sự cảm thụ trực tiếp của học trò trong bài giảng đối với các tác phẩm trữ tình đặc biệt là Thơ mới
Trang 2Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Tận dụng lợi thế của phương pháp đọc
sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới, chương trình Ngữ văn 11, ban cơ bản, trung học phổ thông”
2 Lịch sử vấn đề
Trong nghiên cứu, Thơ mới dường như là đề tài bất tận của các học giả nhưng chủ yếu các nhà nghiên cứu đều tập trung vào lĩnh vực phê bình, nghiên cứu dưới góc độ văn học
mà chưa tập trung nghiên cứu về phương pháp giảng dạy các tác phẩm Thơ mới trong chương trình phổ thông Hiện chưa có một chuyên khảo hoàn chỉnh nào về vấn đề này
Quan sát chung cho thấy, nghiên cứu về việc tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo vào dạy học các tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ văn 11, trung học phổ thông là một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới mẻ, có tính ứng dụng đối với công tác giảng dạy của giáo viên, phù hợp với đặc trưng loại thể của trào lưu thơ nói chung và những bài ở lớp 11 nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu
Tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới thuộc chương trình Ngữ văn 11, ban cơ bản, trung học phổ thông
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học
4.2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Các tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ văn 11, ban cơ bản, trung học phổ thông Cụ thể là đi sâu vào 3 tác phẩm:
- Vội vàng (Xuân Diệu)
- Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)
- Tràng giang (Huy Cận)
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống lí luận về phương pháp đọc sáng tạo và những lợi thế của nó trong dạy học thơ và Thơ mới
- Nghiên cứu thực trạng dạy học Thơ mới và giải pháp tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới
- Thực nghiệm: Soạn giáo án theo phương pháp đọc sáng tạo, thực nghiệm đối chứng
6 Giả thuyết khoa học
Nếu giải quyết tốt việc tận dụng được lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới thì đạt được hiệu quả tối ưu trong dạy học thơ nói chung và Thơ mới nói riêng
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, nghiên cứu lí thuyết kết hợp với đối chiếu thực tế dạy học Thơ mới ở Trung học phổ thông, cụ thể ở lớp 11
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Được áp dụng trong việc khảo sát thực trạng dạy học Thơ mới trong trường Trung học phổ thông, cụ thể ở lớp 11
- Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm sư phạm để xác định tính khả thi và chứng minh hiệu quả của việc tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới, Ngữ văn 11
8 Đóng góp của luận văn
- Góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học văn có hiệu quả
- Đề xuất một hướng dạy học phù hợp với loại thể thiết thực có hiệu quả đối với các tác phẩm Thơ mới nói riêng và thơ trữ tình nói chung
9 Cấu trúc của luận văn
Trang 3Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Đọc sáng tạo và những lợi thế trong dạy học thơ trữ tình, Thơ mới
Chương 2: Thực trạng dạy học Thơ mới và giải pháp tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 1: ĐỌC SÁNG TẠO VÀ NHỮNG LỢI THẾ TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ
TÌNH, THƠ MỚI 1.1 Các phương pháp dạy học văn, phương pháp đọc sáng tạo
1.1.1 Học sinh với môn Ngữ văn
Giờ dạy văn chính là một giờ học mang tính nghệ thuật, người giáo viên dạy văn đồng thời là một nhà khoa học, nhà sư phạm nhưng cũng là một nhà nghệ sĩ Để giờ văn thực sự đi sâu vào tâm trí của học sinh và đạt được ước vọng cao nhất là truyền tải tư tưởng, tình cảm của nhà văn đến với học sinh, để học sinh truyền tải nó đến với cuộc đời, người thầy phải cháy hết mình, phải như ngọn đuốc vừa có vai trò dẫn đường, vừa có sức nóng lan tỏa lay động tới tận tâm hồn các em
1.1.2 Cách tiếp cận tác phẩm văn chương trong nhà trường
1.1.2.1 Các quan điểm tiếp cận các tác phẩm văn học trong nhà trường
Theo GS Phan Trọng Luận, trong cuốn Phương pháp dạy học văn, việc phân tích các
tác phẩm văn học trong nhà trường có khá nhiều biến đổi, chịu ảnh hưởng từ các khuynh hướng và phương pháp phê bình văn học GS chia thành 3 nhóm tiếp cận như sau: Quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh; Quan điểm tiếp cận văn bản; Quan điểm tiếp cận hướng vào đáp ứng của học sinh
Nhìn vào ưu điểm của 3 quan điểm tiếp cận tác phẩm văn học trong nhà trường, chúng ta thấy được rằng, sự kết hợp khoa học, hài hòa giữa giáo viên và học sinh; kết hợp phân tích đồng bộ các yếu tố văn bản, ngoài văn bản sẽ giúp cho việc dạy học các tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông đạt được hiệu quả như mong muốn
1.1.2.2 Các phương pháp dạy học văn
Phương pháp dạy học văn bao gồm các phương pháp đặc trưng là phương pháp đọc
sáng tạo, phương pháp gợi tìm, phương pháp nghiên cứu, phương pháp tái tạo [7, tr.19-27]
Phương pháp đọc sáng tạo lấy hoạt động trung tâm là hoạt động đọc nhằm “phát triển
được sự cảm thụ sâu sắc và tạo được sự cảm thụ trực tiếp của trò với tác phẩm văn học nghệ thuật” [7, tr.19]
Phương pháp gợi tìm dựa trên phương pháp nêu vấn đề, chủ yếu giúp người học đi tìm để tự chiếm lĩnh lấy tri thức của mình Phương pháp này giúp cho học sinh nỗ lực hơn trong việc chiếm lĩnh tác phẩm văn học, làm cho sự cảm thụ văn học của các em sâu sắc hơn
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp giúp học sinh tìm ra những yếu tố mới của
đối tượng mà trước đó chưa biết “Phương pháp này nhằm phát triển kĩ năng tự phân tích tác
phẩm, tự đánh giá về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm” [7, tr.25]
Phương pháp tái tạo là phương pháp nhớ những cái cũ và tiếp thu tri thức mới một cách sáng tạo, tăng cường hoạt động của tư duy để thuộc nhớ bài đạt kết quả tối đa [7, tr.26]
Trong 4 phương pháp này thì phương pháp đọc sáng tạo là phương pháp dựa trên đặc trưng riêng của bộ môn, có ưu thế hơn các phương pháp khác Chúng tôi sẽ trình bày về phương pháp này kĩ hơn tại mục 1.1.3
1.1.3 Phương pháp đọc sáng tạo
1.1.3.1 Đặc điểm của phương pháp đọc sáng tạo
Đọc một tác phẩm văn chương hoàn toàn khác biệt với đọc một bài diễn văn, một báo cáo khoa học vì nó tác động tới người đọc cả bằng âm thanh và tư tưởng, đọc sáng tạo thể hiện rõ ưu thế trong dạy học văn trong nhà trường Một đặc điểm nữa của đọc sáng tạo là tính
Trang 4ứng dụng cao của nó Đọc sáng tạo còn là phương pháp huy động tổng lực các biện pháp hỗ trợ khác nhằm kích thích tư duy hình tượng ở cả người đọc và người nghe Đọc sáng tạo còn gắn liền với năng khiếu văn chương của người dạy
1.1.3.2 Yêu cầu của phương pháp đọc sáng tạo
Thứ nhất, cần đọc giản dị và tự nhiên Thứ hai, khi đọc cần phát âm rõ ràng, chính xác, đúng giọng của mình, biểu cảm được thái độ của mình với tác phẩm Thứ ba, đọc đúng đặc điểm thể loại tác phẩm và phong cách tác giả để toát lên được tư tưởng của tác phẩm Thứ tư, thể hiện được thái độ tiếp xúc nhiệt tình đối với người nghe
Những yêu cầu trên là những yêu cầu nền tảng, cơ sở để đảm bảo hai yêu cầu quan trọng và cốt yếu nhất:
Một là, đọc sáng tạo cần tái hiện được giọng điệu tình cảm của tác giả thông qua tác
phẩm Hai là, đọc sáng tạo tái hiện được cảm xúc của nhân vật trong tác phẩm Cảm xúc của
nhân vật chính là tấm gương phản chiếu tình cảm của tác giả
1.1.3.3 Các biện pháp đọc sáng tạo
Đọc diễn cảm là trung tâm của phương pháp đọc sáng tạo Đọc diễn cảm thể hiện được năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm văn chương Đọc nghệ thuật là mức cao hơn đọc diễn cảm, thể hiện ở các hình thức biểu diễn như ngâm thơ, hát ru, hát quan họ, hò… Đọc nghệ thuật là một thứ “gia giảm” để giúp cho giờ học thêm phong phú chứ không thay thế được đọc diễn cảm và phải tiết chế nó trong một thời gian hợp lí, phù hợp với hoàn cảnh thì giờ giảng mới có hiệu quả
1.2 Lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong tương quan các phương pháp dạy học Ngữ văn khác
Phương pháp đọc sáng tạo dựa trên đặc trưng bộ môn và thể hiện rõ ưu thế của nó trong tương quan với các phương pháp dạy học Ngữ văn khác Chính vì phương pháp đọc sáng tạo dựa trên việc truyền cảm xúc, khơi dậy cảm xúc, khơi dậy sự tương thông giữa học sinh – tác phẩm – giáo viên – nhà văn, sự say mê, hứng thú tìm hiểu, tìm cái hay cái đẹp của tác phẩm, cảm nhận, hòa mình vào không khí tình cảm của tác phẩm nên nó có những lợi thế
mà không phương pháp nào có được đặc biệt là khi dạy các tác phẩm trữ tình
1.3 Đọc sáng tạo và thơ, Thơ mới
1.3.1 Đặc trưng của thơ, Thơ mới
1.3.1.1 Đặc trưng của thơ
Nhân tố trực tiếp xây dựng hình tượng thơ chính là tình cảm Khác với tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, thơ chú trọng đến cái đẹp truyền cảm của đối tượng phản ánh, tới vẻ đẹp của hiện thực chứ không ở chỗ sự kiện, xung đột, tích cách nhân vật… đồng thời lại thể hiện
cá tính sáng tạo độc đáo của chủ thể sáng tạo Có thể nói, thơ chính là tình cảm, cảm xúc được thể hiện qua sáng tạo ngôn từ
1.3.1.2 Đặc trưng của Thơ mới
Một đặc trưng có thể thấy đầu tiên ở Thơ mới, đó là Thơ mới đã thực hiện cuộc chuyển mình ngoạn mục bằng việc xuất hiện cái tôi cá nhân cá thể Trong Thơ mới, âm nhạc
là vị cứu tinh giúp thơ đạt tới quyền lực siêu nhiên, đi sâu khám phá bản chất của tạo vật và nội tâm
Thơ mới đã khiến cho diện mạo thi ca Việt Nam thay đổi Sự bứt phá của nó về nội dung, hình thức thể hiện, thi hứng, bút pháp đã khiến cho vị trí của nó ở một tầm cao, khó có điều gì có thể thay thế được
1.3.2 Các tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ văn, trung học phổ thông
1.3.2.1 Về phân phối chương trình
Theo Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo (ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 05 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), các tác phẩm Thơ mới được đưa vào chương trình Trung
Trang 5học phổ thông là 3 tác phẩm: 1 Vội vàng – Xuân Diệu; 2 Tràng giang – Huy Cận; 3 Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử, được bố trí trong khung chương trình Ngữ văn lớp 11
1.3.2.2 Các tác giả, tác phẩm tiêu biểu được chọn lựa vào chương trình dạy học Ngữ văn
a Xuân Diệu – Ông hoàng thơ tình
Trong quy trình sáng tạo thơ, theo Xuân Diệu cái chính không phải là vấn đề kỹ thuật
mà cái chính phải là chất cảm xúc Nhưng nói như thế không có nghĩa là ông không coi trọng
kỹ thuật làm thơ Trái lại, Xuân Diệu là một trong những nhà thơ có quan niệm hết sức nghiêm túc, công phu, tỉ mỉ và sâu sắc về nghề thơ, “công việc bếp núc” của nhà thơ Có thể nói, Xuân Diệu là một nhà thơ luôn sáng tạo nên một thế giới hình ảnh phong phú, giàu có về ý tưởng Ông quan niệm mỗi nhà thơ “phải là nhà kĩ thuật lớn của ngôn ngữ” “Ông có lối viết như cựa quậy trong từng chữ” Ngôn ngữ của ông vừa uyên bác, lại vừa tự nhiên, bình dị Điều đó làm nên thơ Xuân Diệu đặc biệt là các tác phẩm Thơ mới sự độc đáo, truyền cảm mà không ai có thể theo kịp ông
b Hàn Mặc Tử - Thi sĩ Đồng trinh
Với Hàn Mặc Tử, thơ liên quan tới đức tin, tới những cảm xúc huyền diệu và những trạng thái phi thường của con người Thi sĩ làm thơ và thơ là một tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ, ước ao trở lại trời, là nơi đã sống ngàn kiếp vô thủy vô chung, với những hạnh phúc bất tuyệt…
c Huy Cận – Linh hồn vũ trụ cô đơn
Có thể nói, là một nhà thơ xuất sắc trong phong trào Thơ mới mà “Tràng giang” là một tác phẩm tiêu biểu, là sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại, giữa con người và thiên nhiên, giữa con người – vũ trụ… con người thơ Huy Cận luôn tạo nên những điều bất ngờ khi chúng ta thực sự cảm và hiểu con người ấy – một linh hồn vũ trụ cô đơn
1.3.2 Lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm thơ trữ tình, Thơ mới
Đọc chính là hoạt động cần và luôn luôn phải có trong việc cảm thụ một tác phẩm
văn học Đọc để nắm bắt được nội dung tác phẩm đó Hoạt động đó là nền tảng, cơ bản cho quá trình cảm thụ, tưởng tượng, xúc cảm của người đọc để cảm nhận được ý nghĩ, tình cảm, thái độ của nhà văn, cảm nhận được những cung bậc cảm xúc của tác giả
Chương 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC THƠ MỚI VÀ GIẢI PHÁP TẬN DỤNG LỢI THẾ CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC THƠ MỚI 2.1 Đối tượng, tư liệu và quá trình điều tra, khảo sát thực trạng dạy học Thơ mới trong trường trung học phổ thông
Chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi 2 đối tượng là giáo viên và học sinh tại trường Trung học phổ thông Quỳnh Thọ, Quỳnh Phụ, Thái Bình; Trung học phổ thông Quỳnh Côi, Quỳnh Phụ, Thái Bình
Về phía đối tượng là học sinh, phát 120 phiếu hỏi (xem phụ lục) cho 3 lớp 11A1, 11A4, 11A8 tại trường Trung học phổ thông Quỳnh Thọ, Quỳnh Phụ, Thái Bình, thu được
107 phiếu
Về phía đối tượng là giáo viên, phát 10 phiếu hỏi (4 thầy cô dạy văn của trường Trung học phổ thông Quỳnh Thọ, Quỳnh Phụ, Thái Bình và 6 thầy cô dạy văn của trường Trung học phổ thông Quỳnh Côi, Quỳnh Phụ, Thái Bình) thu về đủ 10 phiếu
Thời gian khảo sát là vào tháng 3/2009
2.2 Kết quả điều tra và phân tích kết quả điều tra về thực trạng dạy học Thơ mới trong trường trung học phổ thông
Sau khi phát phiếu điều tra, thu về rồi xử lý, chúng tôi thu được kết quả điều tra như sau:
2.2.1 Kết quả điều tra từ phía học sinh
2.2.1.1 Các tác phẩm Thơ mới được học sinh yêu thích nhất
Trang 6Trong số các học sinh thích học các tác phẩm Thơ mới có tới 60 em thích các tác phẩm thơ Vội vàng - Xuân Diệu, còn lại nằm rải rác thích các tác phẩm khác: Đây thôn Vĩ Dạ
- Hàn Mặc Tử (23 em), Tràng giang - Huy Cận (12 em) Còn một số các em thích đọc các tác phẩm khác thuộc phong trào Thơ mới
2.2.1.2 Mức độ tham gia của học sinh trong các tiết học Thơ mới
Mức độ tham gia của học sinh trong các tiết học Thơ mới là bình thường (69,17%); 1,86% học sinh có cảm giác bắt buộc khi phải tham gia
2.2.1.3 Tỉ lệ học sinh đọc trước các tác phẩm Thơ mới trước khi có tiết học về các tác phẩm này
Hơn nửa số học sinh (65.4%) được điều tra cho biết các em đều luôn đọc các tác phẩm trước khi tới lớp Số học sinh không đọc chiếm số ít (7.6%)
2.2.1.4 Mức độ được gọi đọc diễn cảm của học sinh trong tiết học văn
Mức độ được gọi đọc diễn cảm ở mức có nhưng ít lớn nhất (46.7%), mức độ không gọi chiếm 35.6%, con số này là khá lớn
2.2.1.5 Tỉ lệ học sinh tự nhận hiểu bài sau khi học các tác phẩm Thơ mới
Nổi bật lên là con số 40/107 học sinh chiếm 37.4% học sinh là hiểu các ý chính nhưng chưa đầy đủ Hiểu và cảm nhận hoàn toàn vẻ đẹp của nội dung và nghệ thuật của tác phẩm chiếm con số cũng không nhỏ là 25/107 học sinh chiếm 23.4% số học sinh được điều tra Nhưng số học sinh hoàn toàn không hiểu giá trị của tác phẩm sau khi được học cũng chiếm tới 11.2%
2.2.1.6 Kết quả bài trắc nghiệm đánh giá hiệu quả giảng dạy các tác phẩm Thơ mới
Số lượng học sinh đạt điểm trên trung bình chiếm 81.3% Số học sinh đạt điểm dưới trung bình tập trung nhiều nhất tại lớp 11A8 là 9 em Số học sinh đạt điểm giỏi ở lớp 11A1 là cao nhất Tổng số học sinh đạt điểm giỏi của 3 lớp là 12 em chiếm 11.2% Học sinh đạt điểm 5-6 là nhiều nhất, chiếm 41.1% tổng số học sinh làm phiếu điều tra
2.2.2 Kết quả điều tra từ phía giáo viên
Chúng tôi tiến hành phát phiếu hỏi cho 10 giáo viên dạy Văn thuộc 2 trường Trung học phổ thông: Quỳnh Thọ và Quỳnh Côi, Quỳnh Phụ, Thái Bình, thu được về cả 10 phiếu, tiến hành xử lí thông tin trong phiếu điều tra và thu được kết quả:
2.2.1.1 Thực trạng tổ chức hoạt động học tập cho học sinh trong các tiết học Thơ mới
Có 80% tổng số giáo viên được điều tra có tổ chức hoạt động học tập cho học sinh Còn 20% trong tổng số giáo viên không tổ chức hoạt động nào mà chỉ dạy học theo kiểu thầy đọc, trò ghi chép
2.2.2.2 Các yếu tố quan trọng để học sinh thích học các tác phẩm Thơ mới
100% số giáo viên được điều tra đều cho rằng, phương pháp dạy học của các thầy cô
là yếu tố quan trọng nhất khiến học sinh thích học các tiết dạy về tác phẩm Thơ mới Sau đó mới đến nội dung, tư tưởng của tác phẩm
2.2.2.5 Biện pháp các thầy cô thường sử dụng khi giảng dạy các tác phẩm Thơ mới
Các giáo viên chủ yếu sử dụng một trình tự quen thuộc khi giảng dạy các tác phẩm Thơ mới là đi từ chủ đề tới chia đoạn sau đó phân tích theo các ý, sau khi phân tích các ý của tác phẩm thì đi vào tổng kết, có tới 60% các giáo viên được điều tra sử dụng cách này Không giáo viên nào khi giảng dạy chú ý tới tình huống cảm thụ nghệ thuật Chỉ có 1 giáo viên sử dụng câu hỏi cảm thụ 30% giáo viên là đi phân tích nghệ thuật và nội dung đặc sắc của các tác phẩm Thơ mới
2.2.2.4 Thứ tự ưu tiên sử dụng các phương pháp dạy học
Các giáo viên được phát phiếu điều tra chú trọng phương pháp gợi tìm và phương pháp tái tạo hơn các phương pháp khác trong các tiết dạy học văn Hầu như giáo viên nào cũng sử dụng phương pháp gợi tìm và phương pháp tái tạo Phương pháp nghiên cứu được giáo viên sử dụng ít nhất Phương pháp đọc sáng tạo cũng chưa được chú trọng nhiều
2.2.2.5 Các hình thức đọc mà giáo viên sử dụng trong các tiết học Thơ mới
Trang 7Các giáo viên đều sử dụng mức thấp nhất của đọc sáng tạo đó là đọc đúng, tròn vành
rõ chữ Còn đọc nghệ thuật chiếm tỉ lệ khá ít Các hình thức đọc thường xuyên được sử dụng bao gồm các hình thức như đọc nhanh, đọc chậm, đọc lướt, đọc to, đọc thầm, đọc nghiên cứu Đọc diễn cảm chỉ có hai giáo viên sử dụng trong số 10 giáo viên được điều tra chiếm tỉ lệ khá
ít
2.2.3 Kết luận thực trạng
Chất lươ ̣ng, hiệu quả các giờ dạy học Thơ mới ở học sinh và giáo viên được điều tra chưa cao, chưa gây hứng thú và học sinh chưa cảm nhận được sâu sắc giá trị của tác phẩm Thơ mới nói riêng và của cả một “thời đại” văn học rực rỡ nói chung
2.3 Phân tích nguyên nhân
Kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng, giáo dục của Việt Nam trong những năm gần đây
có nhiều thay đổi đặc biệt trong việc đào tạo nguồn nhân lực Một nguyên nhân khác khiến cho học sinh không hứng thú với môn Văn là do việc dạy văn trong nhà trường không gây được hứng thú Nguyên nhân khác nữa là ở lứa tuổi trung học phổ thông, các em có quá nhiều cái mới lạ để tiếp nhận thông qua các kênh truyền thông, nhiều hoạt động trong cuộc sống hàng ngày chi phối
Thơ mới mang trong mình một ý thức hệ Chính cái ý thức hệ của Thơ mới khiến chúng khó tiếp nhận đối với các em học sinh đang tuổi ăn tuổi chơi, vô lo vô nghĩ Một nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiệu quả các giờ dạy học các tác phẩm Thơ mới không cao là do giáo viên chưa sử dụng đúng phương pháp giảng dạy Nguyên nhân thứ nữa là giáo viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới Một nguyên nhân khiến cho phương pháp đọc sáng tạo không được áp dụng vào dạy học Thơ mới mặc dù lí thuyết chứng minh rằng, nó hoàn toàn phù hợp với đặc trưng bộ môn là do giáo viên còn loay hoay, không biết ứng dụng chúng như thế nào trong công tác giảng dạy của mình
2.4 Giải pháp tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học Thơ mới
2.4.1 Tính cấp thiết của việc phải tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo
Điều kì diệu mà phương pháp đọc sáng tạo có thể mang lại cho học sinh chính là cảm nhận trực tiếp tác phẩm, cảm xúc với tác phẩm để yêu mến tác phẩm, từ đó có thể hiểu và cảm tác phẩm, phát hiện ra giá trị của tác phẩm văn học đặc biệt là các áng Thơ mới
2.4.1.1 Tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới
sẽ nâng cao hiệu quả dạy học các tác phẩm Thơ mới
2.4.1.2 Đáp ứng đòi hỏi của đặc trưng bộ môn
2.4.2 Những yêu cầu có tính nguyên tắc khi tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học Thơ mới
2.4.2.1 Hoạt động đọc phải gắn liền với phong cách các nhà thơ trong phong trào Thơ mới 2.4.2.2 Đọc giảng phải kết hợp với các hướng tiếp cận tác phẩm Thơ mới
2.4.2.3 Đọc bình phải kết hợp tái hiện hình tượng cho “vang nhạc sáng hình”
2.4.2.4 Đọc diễn cảm kết hợp với hoạt động liên môn
2.4.2.5 Đọc sáng tạo có vận động kết hợp tư duy logic với tư duy hình tượng, giọng đọc và điệu bộ
2.4.3 Các biện pháp tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới
2.4.3.1 Đọc sáng tạo để giải mã thông tin nghệ thuật qua văn bản; tái hiện hình tượng, thâm nhập vào thế giới tình cảm của tác phẩm
2.4.3.2 Đọc sáng tạo kết hợp với các phương pháp dạy học khác
2.4.3.3 Đọc sáng tạo có sử dụng công nghệ thông tin hoặc các phương tiện hỗ trợ khác
1 Xây dựng một thư viện tư liệu về Thơ mới
2 Xây dựng bài giảng điện tử trong dạy học các tác phẩm Thơ mới
Trang 82.4.4 Xây dựng quy trình giảng dạy các tác phẩm Thơ mới có tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo
2.4.4.1 Quy trình chung cho bài học có tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới
- Bước 1: Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
- Bước 2: Tiến hành các biện pháp của đọc sáng tạo
- Bước 3: Đánh giá hiệu quả của các biện pháp của đọc sáng tạo đã sử dụng
- Bước 4: Tăng cường đọc sáng tạo sau giờ học
2.4.4.2 Quy trình tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học bài “Đây thôn Vĩ Dạ”
Chúng tôi cố gắng đưa ra một quy trình cụ thể cho việc tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới Quy trình trên thể hiện rõ các thao tác, hoạt động của giáo viên và học sinh dựa trên những biện pháp của đọc sáng tạo mà chúng tôi đã đưa ra Dựa trên quy trình chung đó, chúng tôi đã thể hiện cụ thể trong quy trình tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo vào dạy học bài Đây thôn
Vĩ Da ̣
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích thực nghiệm
Kết quả thực nghiệm sẽ chứng minh tính đúng đắn của các nguyên tắc, tính khoa học
và sự hợp lí khi tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo, là bằng chứng chứng minh tính khả thi, hiệu quả của những biện pháp sư phạm mà luận văn đề cập đến
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm
Đối tượng chọn để tiến hành thực nghiệm là học sinh 2 lớp 11A5 và 11A6 tại trường trung học phổ thông Quỳnh Thọ, Quỳnh Phụ, Thái Bình
3.3 Nội dung thực nghiệm
Chúng tôi đã tiến hành dạy học thực nghiệm bài: “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
Để tiến hành thực nghiệm, chúng tôi tiến hành soạn 2 giáo án:
- Giáo án thứ nhất: Soạn theo cách dạy học truyền thống, không sử dụng các biện pháp tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo cũng như không sử dụng các phương pháp kết hợp như theo nhóm, nêu vấn đề, thuyết trình, sử dụng công nghệ thông tin
- Giáo án thứ 2: Soạn theo quy trình dạy học có tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo Trong giáo án này chúng tôi chỉ rõ các thao tác mà học sinh cần thực hiện, các phương pháp giáo viên sử dụng
3.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm
Sau khi soạn xong giáo án thực nghiệm và giáo án đối chứng chúng tôi đã nhờ cô Nguyễn Thị Lưu là giáo viên dạy Ngữ văn của hai lớp thực nghiệm và đối chứng Trong quá trình trao đổi với cô Lưu, chúng tôi đã đưa ra các yêu cầu và mục đích của giờ thực nghiệm
và đối chứng, trao đổi về phương pháp đọc sáng tạo và các biện pháp sử dụng trong giáo án thực nghiệm Trong khi cô Lưu giảng dạy các giáo án đã soạn thì chúng tôi cùng giáo viên trong tổ văn dự giờ, quan sát thực tế học tập của học sinh và quan sát các phương pháp áp dụng trong bài học được tiến hành như thế nào để có những nhận xét, đánh giá khách quan hơn
Khi kết thúc bài học, chúng tôi cùng cô Lưu và các giáo viên dự giờ trao đổi, nhận xét, rút kinh nghiệm
Sau giờ học, học sinh 2 lớp đều thực hiện một bài trắc nghiệm khách quan nhằm thăm dò nhận thức, mức độ đạt mục tiêu bài học (xem phụ lục 3)
3.5 Kết quả thực nghiệm
Bài trắc nghiệm 15 phút gồm 10 câu hỏi từ dễ tới khó, kiểm tra 3 mức đạt mục tiêu bậc 1, bậc 2 và bậc 3 ở cả 2 lớp Chấm điểm theo thang điểm 10: Loại giỏi (đạt từ 9- 10
Trang 9điểm); Loại khá (7- 8 điểm); Loại trung bình (5-6 điểm); Loại yếu (3- 4 điểm); Loại kém
(0-2 điểm)
Qua kết quả của bài trắc nghiệm khách quan trên có thể nhận thấy, mức độ đạt được kiến thức của học sinh ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng có sự chênh lệch rất rõ ràng Ở lớp đối chứng, tỉ lệ học sinh có bài kiểm tra đạt loại giỏi và khá chỉ chiếm 53.2% trong khi đó
tỉ lệ này ở lớp thực nghiệm là 84.4%, chênh lệch tới gần 31.2% Ở lớp đối chứng, tỉ lệ học sinh có bài kiểm tra xếp loại trung bình chiếm nhiều nhất so với các mục xếp loại khác (42.2%) trong khi đó, ở lớp thực nghiệm, tỉ lệ học sinh có bài kiểm tra đạt loại giỏi lại cao nhất với 44,4%
Tiếp đó, chúng tôi tiến hành phương pháp phỏng vấn đối với một số học sinh lớp 11A5
Như vậy, qua thống kê kết quả điểm trắc nghiệm và phỏng vấn các em học sinh, bước đầu thấy rằng:
- Giờ học đã kích thích được hứng thú của học sinh
- Học sinh cảm hiểu tác phẩm sâu sắc hơn
- Giáo viên trở nên yêu nghề, nhiệt tình, tâm huyết với bài giảng của mình
- Chất lượng giờ học cải thiện đáng kể
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Với đề tài trên, chúng tôi đã giải quyết được các vấn đề sau:
- Đưa ra được một hệ thống lí thuyết về việc tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo dựa trên những đặc trưng của Thơ mới trong giảng dạy các tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông
- Đồng thời đưa ra được các nguyên tắc, biện pháp đọc sáng tạo: đó là đọc sáng tạo để giải mã thông tin nghệ thuật, tái hiện hình tượng nghệ thuật của tác phẩm, đọc sáng tạo kết hợp với các phương pháp khác, đọc sáng tạo kết hợp với công nghệ thông tin và các phương tiện hỗ trợ
- Tiến hành thực nghiệm và khẳng định tính khả thi của các biện pháp đọc sáng tạo trong dạy học Thơ mới
Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết và thực nghiệm sư phạm, chúng tôi có một số các kết luận như sau:
Thơ mới đóng vai trò quan trọng trong tiến trình văn học của nước nhà, không thể phủ nhận những cách tân táo bạo về nghệ thuật và tư tưởng của các nhà thơ trong phong trào Thơ mới Chỉ từ Thơ mới, văn học Việt Nam mới bước sang một diện mạo khác, đó là thơ đã thoát khỏi những cùm kẹp của hệ tư tưởng cũ Hiểu về Thơ mới là hiểu cả về một thế hệ, một thời đại văn học nước nhà Việc đưa giảng dạy Thơ mới vào trong trường phổ thông để có hiệu quả cần có sự đồng bộ từ trên xuống dưới, từ ngành giáo dục tới người học
Thứ nhất, ở quan điểm, chỉ đạo của ngành giáo dục thể hiện rõ nhất trong việc lựa chọn các tác phẩm Thơ mới đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông, việc soạn sách giáo khoa, ban hành các sách tham khảo và việc kiểm soát các nguồn thông tin cần được thực hiện một cách hiệu quả Đưa các tác phẩm nào vào giảng dạy để thể hiện được cả một thời đại văn học và thể hiện được hết những tư tưởng, thành tựu nghệ thuật giữa vô vàn các tác phẩm nổi tiếng là một điều vô cùng khó cho các nhà soạn sách giáo khoa Ngoài ra, việc lên chương trình khung, mục tiêu cần đạt ở mỗi bài giảng, kế hoạch kiểm tra, giảng dạy do Bộ và Sở ban hành cũng cần quan tâm tới đặc trưng của các tác phẩm Thơ mới với lứa tuổi học sinh, điều kiện cơ sở vật chất, trình độ giảng dạy hiện tại của giáo viên
Thứ hai, các nhà trường cần tập huấn cho giáo viên thực hiện đúng các mục tiêu dạy học đề ra khi dạy học các tác phẩm Thơ mới Ngoài ra, tổ chức các buổi ngoại khóa giúp giáo viên và học sinh hiểu hơn về một giai đoạn phát triển rực rỡ của thơ ca Việt Nam hiện đại Với chương trình bố trí có quá ít tiết học các tác phẩm Thơ mới, thời gian giảng dạy trên lớp
Trang 10quá ít như thế không thể khiến giáo viên thể hiện được những ý tưởng dạy học sáng tạo Thơ mới là một địa hạt văn học thu hút sự chú ý, hứng thú của khá nhiều giáo viên Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực cũng được các giáo viên áp dụng nhiều trong các giờ dạy Nhà trường cần tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất, tài lực để giúp giáo viên thực hiện ý tưởng của mình, giúp chất lượng dạy học Thơ mới đạt hiệu quả cao
Thứ ba, để có một tiết dạy học hiệu quả, giáo viên cần đầu tư nhiều công sức ở khâu chuẩn bị kiến thức, phương tiện dạy học như soạn giáo án, các dụng cụ hỗ trợ như tranh ảnh, máy chiếu… Ngay cả việc soạn giáo án và thiết kế tiến trình dạy học, phương pháp dạy học
sử dụng cũng phải đồng bộ và thể hiện được sự mới mẻ, độc đáo, có tính ứng dụng, áp dụng đạt được hiệu quả cao Hiện nay, một số giáo viên chạy theo hình thực, soạn giáo án giảng dạy, áp dụng các phương pháp dạy học mới nhưng lại không đạt được chất lượng giờ dạy mong muốn Nhiều giáo viên phủ nhận hoàn toàn các phương pháp cũ, khiến giờ giảng nhiều công nghệ, học sinh chỉ chăm chăm nhìn xem hình chứ không ghi chép được gì cả, đến khi hỏi đến thì không nắm được kiến thức Nhiều giáo viên thì lại ngại thay đổi, ngại mày mò, nghiên cứu nên cứu thao thao thuyết trình khiến học sinh buồn ngủ Vấn đề đặt ra là, làm sao giảng dạy các tác phẩm Thơ mới vừa gây được hứng thú cho học sinh vừa giúp các em nắm được những cái cốt lõi nhất về tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm, tác giả đồng thời giúp các
em có được năng lực cảm thụ văn học Để làm được điều này, cần sự cố gắng không ít của các giáo viên, mà chìa khóa chính là sự dung hòa mọi thứ, có riêng cho mình một phong cách, phương pháp giảng dạy hiệu quả
Thứ tư, học sinh thời đại ngày nay không phải là cái phễu để giáo viên rót tri thức mà phải tự lực chiếm lĩnh lấy nó thông qua sự hướng dẫn của giáo viên Học sinh cần có động cơ học tập, không thể làm một việc mà không có động cơ Hiện nay, nhiều học sinh không tìm được động cơ học tập các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng Chính vì không tìm được động cơ nên học sinh không hứng thú, không hứng thú dẫn tới chán ghét học bộ môn và
có thái độ bất cần, chống đối Hơn thế nữa, các nguồn thông tin ngày càng nhiều, gây nhiễu
và không tìm được nguồn thông tin chính thống cho việc học bộ môn Trước đây, học sinh cho rằng, tất cả các lời thầy cô giảng là hoàn toàn đúng, không phản biện nhưng nay học sinh nhờ các kênh thông tin đã biết được những thông tin khác ngoài các thông tin giáo viên trang
bị Cho nên sự “vênh” giữa giáo viên và học sinh ngày càng xảy ra gay gắt hơn
Chúng tôi đã chứng kiến một giờ học tác phẩm “Vội vàng” (Xuân Diệu) tại một trường ở Hà Nội, giáo viên ở trên thao thao diễn giảng còn học sinh ở dưới thì truyền nhau tin
về cuộc đời riêng của Xuân Diệu, học sinh truyền nhau đường dẫn của một trang web có những thông tin riêng về Xuân Diệu qua điện thoại Những em không có điện thoại thì túm tụm nhau lại để xem… Trước tình huống này, giáo viên và học sinh có thể xảy ra những xung đột khó giải quyết
Đối với việc tận dụng các lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo:
Pương pháp đọc sáng tạo bằng việc tổ chức các hoạt động đọc và nhờ vào lực tác động của nhiều hoạt động khác khiến học sinh hứng thú và động não suy nghĩ nhiều hơn đã phát huy tác dụng của nó trong việc dạy học các tác phẩm Thơ mới Thiết nghĩ, cần nhân rộng các giáo án dạy học Thơ mới kiểu này để các giáo viên có thể tham khảo, làm cẩm nang cho mình và cũng là một cách để góp phần chấn hưng nền giáo dục của nước nhà
Phương pháp đọc sáng tạo không được dừng lại ở lí thuyết suông mà cần được đưa vào thực tiễn giảng dạy trong nhà trường, bởi vì nó là phương pháp phù hợp với đặc trưng bộ môn, phương pháp khơi gợi tình cảm trực tiếp từ học sinh Đọc sáng tạo cần được giáo viên thể hiện thành thao tác, thành các hoạt động cho học sinh để học sinh thực hiện chứ không phải là những hoạt động đơn độc của giáo viên
Sự kết hợp phương pháp đọc sáng tạo với các phương pháp dạy học khác nếu khéo léo sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp của nó, nâng cao hiệu quả học tập và chất lượng giảng dạy