Sử dụng phương pháp đàm thoại phát hiện nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua dạy học hóa học vô cơ lớp 11 chương trình nâng cao trung học phổ thông đắn, hiệu quả củ
Trang 1Sử dụng phương pháp đàm thoại phát hiện nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua dạy học hóa học vô cơ lớp 11 chương trình nâng cao trung học phổ thông
đắn, hiệu quả của các nội dung nghiên cứu
Keywords: Phương pháp giảng dạy; Hóa học; Lớp 11; Trung học phổ thông; Hóa học
điều 28: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh" Theo Socrates-
một triết gia Hi Lạp cổ đại - thế kỷ thứ III trước CN đã nói “ Dạy học là nghệ thuật đặt câu
Trang 2hỏi” “ Học tốt bắt đầu bằng câu hỏi chứ không phải câu trả lời”- Gayclaxton- GS Giáo dục
và giám đốc phát triển của CLIO Đại học Bristol
Vì vậy dạy học phải chú trọng vào việc đặt ra những cơ hội, điều kiện học tập thuận lợi cho học sinh Hầu hết các giáo viên có kinh nghiệm đều sử dụng rất nhiều kỹ thuật đặt câu hỏi khi giảng dạy trên lớp, tại nhóm cũng như khi giảng cho từng cá nhân HS Câu hỏi được
sử dụng thường xuyên trong dạy học, nó xâm nhập vào tất cả các phương pháp dạy học, với nhiều mục đích khác nhau như kiểm tra, đánh giá, tổ chức nghiên cứu tài liệu mới, hoàn thiện củng cố kiến thức Nhiều chuyên gia giáo dục, các GV giỏi, nhiều kinh nghiệm đều cho rằng câu hỏi giữ vai trò quan trọng trong dạy học, là một trong các công cụ đắc lực cho GV; đặt câu hỏi là “một trong những cách cơ bản để GV kích thích HS suy nghĩ và học tập” Tuy nhiên để đặt được những câu hỏi phù hợp, tạo cơ hội cho học sinh tham gia lĩnh hội kiến thức một cách tích cực nhất, kích thích và phát triển tư duy, đồng thời tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh không phải là việc đơn giản Trong thực tế, thường những giáo viên nhiều kinh nghiệm sẽ làm việc này tốt hơn những giáo viên ít kinh nghiệm; rất nhiều giáo viên thường chỉ dừng lại ở việc sử dụng câu hỏi để tái hiện kiến thức, như vậy chưa kích thích được học sinh tư duy
Phương pháp đàm thoại (PPĐT) phát hiện là một trong những phương pháp dạy học tích cực, HS không những lĩnh hội được nội dung trí dục một cách tích cực mà còn học được
cả PP nhận thức và diễn đạt tư tưởng bằng lời nói Trong phương pháp dạy học này hệ thống câu hỏi có vai trò vô cùng quan trọng, có tính chất quyết định đến chất lượng lĩnh hội của cả lớp, do đó, phải hướng tư duy của HS đi theo một logic hợp lí, kích thích tích cực tìm tòi, trí
tò mò khoa học và cả sự ham muốn giải đáp
Vậy làm thế nào để xây dựng được hệ thống câu hỏi hợp lí, tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh khi sử dụng phương pháp đàm thoại phát hiện? Đó chính là lí do
chúng tôi lựa chọn, nghiên cứu đề tài: “Sử dụng phương pháp đàm thoại phát hiện nhằm
phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua dạy học hóa học vô cơ lớp 11 chương trình nâng cao trung học phổ thông”
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi theo phương pháp đàm thoại phát hiện cho các bài lên lớp phần hóa học vô cơ lớp 11, chương trình nâng cao , nhằm tích cực hóa hoạt động
của người học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường phổ thông
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
1 Nghiên cứu về cơ sở lí luận và thực tiễn củ a quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông :
+ Cơ sở lí luận về phương hướng đổi mới PPDH hóa học
+ Cơ sở lí luận về phát huy tính tích cực học tập của HS trong QTDH
+ Cơ sở lí luận về PPĐT trong đó đi sâu vào PPĐT phát hiện
+ Nghiên cứu cơ sở thực tiễn: Tiến hành điều tra thực tế việc thiết kế và sử dụng câu hỏi trong dạy học hóa học của giáo viên dạy hóa học ở trường THPT
Trang 32 Nghiên cứu mục tiêu, chương trình sách giáo khoa, đặc biệt là ba chương đầu của lớp 11 nâng cao
3 Nghiên cứu nguyên tắc, quy trình, phương pháp thiết kế câu hỏi trong phương pháp đàm thoại phát hiện
- Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp theo phương pháp đàm thoại phát hiện cho một
số nội dung phần hóa học vô cơ lớp 11 - nâng cao
- Thiết kế hoạt động dạy học cho một số bài học có sử dụng phương pháp đàm thoại phát hiện phần hoá học vô cơ lớp 11 - nâng cao
4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm khẳng định tính đúng đắn, hiệu quả của các nội
dung nghiên cứu
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học hóa Học ở trường phổ thông
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Nghiên cứu phương pháp đàm thoại phát hiện thông qua dạy học phần hoá học vô
cơ lớp 11trình nâng cao - THPT
5 Giả thuyết khoa học
Xây dựng và sử du ̣ng hệ thống câu hỏi đàm thoa ̣i phát hiện mô ̣t cách khoa học, hợp lí trong các bài lên lớp thì sẽ phát huy được tính tích cực của học sinh (HS) trong việc lĩnh hội kiến thức đồng thời còn hướng dẫn các em phương pháp giải quyết một vấn đề nhận thức, cách thức diễn đạt bằng lời nói, phát triển tư duy logic, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường phổ thông
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
+ Phương pháp phân loại, hệ thống hóa
- Nhóm các phương pháp thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp toán học : áp dụng Toán thống kê xác xuất để xử lý các số liệu TNSP
Trang 49 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Tổng quan về cơ sở lí luận và thực tiễn của phương pháp đàm thoại phát hiện trong dạy học ở trường phổ thông
Chương 2: Sử dụng phương pháp đàm thoại phát hiện trong dạy học phần hoá học vô
cơ lớp 11 chương trình nâng cao trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI PHÁT HIỆN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
Phương pháp đàm thoại phát hiện có từ thời Socrate, thế kỉ thứ III trước công nguyên Phương pháp này dựa trên các câu hỏi - đáp, học sinh không tự khám phá mà chỉ theo từng bước lý luận do giáo viên đưa ra Bởi vậy, phương pháp này có thể gọi là phương pháp khám phá thụ động
Các phương pháp dạy học truyền thống được chia thành ba nhóm là nhóm các phương pháp dùng lời, nhóm các phương pháp trực quan, nhóm phương pháp thực hành Trong nhóm các phương pháp dùng lời có phương pháp vấn đáp được sử dụng nhiều hơn trong dạy học
1.2 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hoá học
1.2.1 Cơ sở Tâm lý học và Lí luận dạy học hiện đại
Tâm lí học và Lí luận dạy học hiện đại khẳng định: Con đường có hiệu quả nhất để làm cho HS nắm vững kiến thức và phát triển năng lực sáng tạo là phải đưa HS vào vị trí của chủ thể nhận thức, thông qua hoạt động tự lực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực sáng tạo và hình thành quan điểm đạo đức
Xu hướng đổi mới PPDH hiện nay: Tổ chức cho người học được học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo trong đó cốt lõi là xây dựng PP hoạt động sáng tạo
1.2.2 Phương hướng đổi mới dạy học hoá học
- Hoàn thiện chất lượng các PPDH hiện có
- Sáng tạo ra các PPDH mới, bằng cách liên kết nhiều PPDH riêng rẽ thành những PPDH phức hợp có hiệu quả cao hơn
Trang 5Chuyển đổi chức năng: Chức năng PPDH từ thông báo tái hiện đại trà chung cho cả lớp chuyển sang tính chất tìm tòi- ơrixtic, phân hóa, cá thể hóa cao độ, tiến lên theo nhịp độ cá nhân,…
1.3 Phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh qua giảng dạy hoá học ở trường phổ thông
1.3.1 Tính tích cực nhận thức( TTCNT)
TTCNT là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua huy động ở mức cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập
1.3.1.1.Học tập của học sinh là quá trình nhận thức tích cực
1.3.1.2 Tính tích cực nhận thức- yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả quá trình học tập của học sinh
1.3.1.3 Tổ chức quá trình nhận thức của học sinh với tư cách là chủ thể hoạt động , chủ thể nhận thức trong quá trình học tập
1.3.2 Phương pháp dạy học tích cực
1.3.2.1 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực [6]
PPDH tích cực thực chất là các PPDH hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, giúp HS học tập chủ động, tích cực, sáng tạo chống lại thói quen học tập không hoạt động, thụ động
1.3.2.2 Những dấu hiệu đặc trưng của PPDH tích cực
a Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS
b Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
c Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
d, Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
1.4 Phương pháp đàm thoại ( phương pháp vấn đáp) [1],[4],[11],[17]
1.4.1 Khái niệm
Phương pháp đàm thoại là phương pháp hỏi và đáp Giáo viên tổ chức học sinh học tập thông qua sử dụng hệ thống các câu hỏi và trả lời Các câu hởi được sắp xếp theo một chủ
đề từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp để dẫn học sinh đến mục tiêu nắm vững kiến thức
1.4.2.Phân loại phương pháp đàm thoại
Trong QTDH, có nhiều cách phân loại các PPĐT tùy thuộc vào cơ sở lựa chon để phân loại
Dựa vào mục đích dạy học Dựa vào tính chất HĐ nhận thức của HS
- Đàm thoại gợi mở
- Đàm thoại củng cố
- Đàm thoại tổng két
- Đàm thoại kiểm tra
- Đàm thoại tái hiện
- Đàm thoại minh họa giải thích
- Đàm thoại phát hiện
Trang 61.4.3.Các loại câu hỏi sử dụng trong phương pháp đàm thoại [2, tr.41]
Có nhiều căn cứ để phân loại các câu hỏi sử dụng trong dạy học
Cơ sở phân loại Các loai câu hỏi
Dựa vào mục đích DH - Câu hỏi định hướng, câu hỏi gợi mở
Dựa vào nôi dung bài học - Câu hỏi đơn giản, câu hỏi phức tạp
Dựa vào chức năng - Câu hỏi phân tích tổng hợp,câu hỏi so sánh - đối
chiếu, câu hỏi hệ thống hóa kiến thức
- Câu hỏi yêu cầu thấp , câu hỏi yêu cầu cao
1.5 Phương pháp đàm thoại phát hiện
1.5.1 Khái niệm
“Vấn đáp tìm tòi (hay đàm thoại phát hiện, đàm thoại ơrixtic, đàm thoại gợi mở) là
PP trao đổi giữa GV với HS, trong đó GV nêu ra hệ thống câu hỏi “dẫn dắt” gắn bó logic với nhau để HS suy lí, phán đoán, quan sát, tự đi đến kết luận và qua đó lĩnh hội kiến thức” [11, tr.137]
1.5.2.Đặc điểm
- Thầy tổ chức, sự trao đổi giữa giáo viên và và cả lớp, có khi giữa trò với nhau, qua
đó học sinh tự khám phá ,lĩnh hội kiến thức
1.5.3.Ý nghĩa , tác dụng của phương pháp đàm thoại phát hiện
- PPĐT (vấn đáp) nếu được GV vận dụng khéo léo và có hiệu quả sẽ có tác dụng kích thích tính tích cực, độc lập và sáng tạo của HS, bồi dưỡng năng lực diễn đạt các vấn đề khoa học bằng lời nói, tạo ra hứng thú trong học tập, làm cho lớp học thêm sôi nổi
1.5.3.1 Tác dụng với học sinh
1.5.3.2 Tác dụng đối với giáo viên
- Tốn thời gian, thầy dễ bị động khi bị trò hỏi lại, kiến thức khó đi đến hệ thống, DH dễ rơi vào tình trạng cuộc đối thoại giữa thầy với một vài HS nhất định
1.5.5 Yêu cầu sư phạm
Để PPĐT phát hiện phát huy tốt được các ưu điểm trên, trong QTDH cần đảm bảo những yêu cầu sư phạm sau [11, tr.137 - 138]:
Trang 7- HS phải có ý thức về mục đích của toàn bộ hay một phần lớn cuộc đàm thoại
- Hệ thống câu hỏi của GV có tính chất quyết định đến chất lượng lĩnh hội của cả lớp,
do đó, phải hướng tư duy của HS đi theo một logic hợp lí, kích thích hướng tích cực tìm tòi, trí tò mò khoa học và cả sự ham muốn giải đáp
- Các vấn đề, câu hỏi phải được sắp xếp hợp lí Câu hỏi nên sắp xếp theo thứ tự từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với trình độ HS Với những câu hỏi quá phức tạp mà HS không thể trả lời được, có thể chia nhỏ nhưng không quá nhỏ và rời rạc Câu hỏi phải rõ ràng và chính xác
- Số lượng, tính phức tạp và mức độ phân chia của câu hỏi cần dựa vào:
+ Tính phức tạp của đối tượng nghiên cứu
+ Trình độ HS (nền kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của HS…)
- Tổng kết vấn đề: GV cần khéo léo kết luận dựa vào ý kiến, ngôn ngữ của HS, thêm kiến thức cho chính xác và kết cấu lại kết luận cho chặt chẽ, súc tích
- Quản lí lớp: Không trao đổi với từng HS riêng rẽ mà với cả lớp GV phải chủ động dẫn dắt lớp một cách sáng tạo, theo kế hoạch đã định trước
1.6 Thực trạng việc sử dụng câu hỏi trong dạy học của giáo viên hoá học
Qua thống kê phân tích các phiếu thăm dò HS chúng tôi nhận thấy: Các em rất thích thầy, cô hướng dẫn em thu nhận kiến thức mới thông qua hệ thống câu hỏi từ đơn giản đến phức tạp bởi lẽ HS ngày nay muốn tự mình chiếm lĩnh kiến thức Các em trở nên năng động và thích được khám phá tìm tòi kiến thức cho bản thân hơn là ngồi nghe GV dạy bảo một cách tỉ mỉ Vì vậy để thành công trong công việc giảng dạy của mình GV cần phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi thật tốt trong đó có những câu hỏi chính, có những câu hỏi phụ, câu hỏi gợi mở để giúp HS chiếm lĩnh kiến thức
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu và tổng quan các vấn đề nghiên cứu thông qua việc tham khảo các tài liệu về phương pháp dạy học đàm thoại phát hiện Bên cạnh đó chúng tôi đã trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn của của đề tài nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hoá học, cơ sở Tâm lý học và Lý luận dạy học hiện đại
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát huy tính tích cực của học sinh, trong đó học tập của học sinh là quá trình nhận thức tích cực Qúa trình nhận thức tích cực của học sinh là yêú tố quyết định chất lượng và hiệu quả của quá trình học tập , tổ chức qúa trình nhận thức của HS với tư cách là chủ thể hoạt động , chủ thể nhận thức trong quá trình nhận thức Cùng với việc phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh cũng chính là việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp đàm thoại, khái niệm , phân loại và các loại câu hỏi sử dụng trong phương pháp đàm thoại Khái niệm phương pháp đàm thoại phát hiện,
ý nghĩa và hạn chế của phương pháp đàm thoại phát hiện
Trang 8- Cuối cùng chúng tôi tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng câu hỏi ở trường THPT thông qua việc phát phiếu điều tra và rút ra những nhận xét và đề xuất khắc phục
Những nội dung trên là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu để xây dựng hệ thống câu hỏi sử dụng trong phương pháp đàm thoại phát hiện cho các bài dạy phần vô cơ hoá học lớp 11 nâng cao
CHƯƠNG 2
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI PHÁT HIỆN TRONG DẠY HỌC PHẦN
HOÁ HỌC VÔ CƠ LỚP 11-CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO THPT
2.1 Phân tích đăc điểm cấu trúc nội dung phần hóa học vô cơ lớp 11 chương trình nâng cao
Chương trình hoá học vô cơ lớp 11 nâng cao được chia làm 3 chương:
Chương1: Sự điện ly; chương 2:Nhóm Nitơ; chương 3:Nhóm Cacbon
2.2 Xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi theo phương pháp đàm thoại phát hiện trong dạy học hoá học
2.1.2 Một số đặc điểm và lưu ý khi dạy học phần hóa học vô cơ lớp 11 chương trình nâng cao
Chương 1: Sự điện ly
Mở đầu chương trình hoá học lớp 11 nghiên cứu về sự điện ly nhằm hoàn thiện khái niệm chất ( chất điện ly, chất không điện ly), khái niệm về axit, bazơ và muối Vai trò của nước được đề cập không chỉ là dung môi mà còn là chất tham gia vào tương tác với chất địên
ly Khái niệm tích số ion của nước, pH được nghiên cứu.Khái niệm phản ứng thuỷ phân của muối, phản ứng trao đổi cũng được nghiên cứu sâu về bản chất sự trao đổi các ion trong dung dịch chất điện ly và cơ sở để giải thích tính axit - bazơ của các dung dịch muối khác nhau
Chương 2 và 3: Nhóm cacbon và nitơ
Nội dung kiến thức trong 2 chương này nghiên cứu về hai nhóm phi kim nitơ và cacbon ở mức độ cơ bản và nâng cao Các nguyên tố trong nhóm và các hợp chất của chúng được nghiên cứu sâu sắc trên cơ sở lý thuyết chủ đạo của chương trình và lý thuyết về sự điện
ly
2.2 Các cơ sở khoa học của việc sử dụng phương pháp đàm thoại phát hiện trong dạy học hóa học ở trường THPT
2.2.1 Nguyên trắc lựa chọn PPĐT phát hiện trong dạy học hóa học ở trường THPT
Trong dạy học việc lựa chọn PPDH phù hợp rất quan trọng, muốn lựa chọn PPDH nói chung và PPĐT phát hiện nói riêng cần tuân theo các nguyên tắc chung :
Nguyên tắc 1: Căn cứ vào mục tiêu của bài học (Theo chuẩn kiến thức - kỹ năng) Với
mục tiêu của bài học đã được Bộ GD-ĐT ban hành theo chuẩn kiến thức kỹ năng Nhiệm vụ của GV cần phải biết phân tích cụ thể với mục tiêu đó để xác định mục tiêu trọng tâm kiến thức – kỹ năng cần hình thành trong chương , trong bài đó là gì để lựa chọn PPDH cho phù hợp
Trang 9Nguyên tắc 2: Căn cứ vào nội dung, kiến thức – kỹ năng được trình bày trong tài liệu
SGK để xác định xem những nội dung, kiến thức đã học có liên quan là những kiến thức – kỹ
năng nào ? Trên cơ sở những kiến thức – kỹ năng trọng tâm cần hình thành ( kiến thức – kỹ năng mới) là gì?
Nguyên tắc 3: Căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất như phương tiện dạy học, đối
tượng HS, kinh nghiệm sư phạm của GV
Nguyên tắc 4: Phối hợp hài hòa các PPDH khác
Không có một PPDH nào là tối ưu cho một bài lên lớp Vì vậy bên cạnh PPĐT phát hiện cần có sự phối hợp hài hòa với các PPDH khác như phương pháp thảo luận nhóm, sử
dụng các phương tiện trực quan,(thí nghiệm, biểu bảng, sơ đồ ) hay phương pháp Grap
2.2.2 Quy trình sử dụng PPĐT phát hiện trong dạy học hóa học phổ thông
Bước 1: GV nêu vấn đề đặt ra mục đích, nhiệm vụ của vấn đề cần nghiên cứu (câu hỏi
định hướng) để HS hiểu được nội dung nghiên cứu, giải quyết vấn đề gì?
Bước 2: GV lần lượt đưa ra hệ thống câu hỏi – HS trả lời
- Câu hỏi gợi mở vấn đề
- Câu hỏi tái hiện kiến thức cũ có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- GV gợi mở vấn đề cần tìm kiếm những mối liên hệ nảy sinh ra từ câu hỏi trước
- GV hướng dẫn HS quan sát thí nghiệm, biểu đồ , làm thí nghiệm hoặc đưa ra các phương trình hóa học, các dẫn chứng để HS suy lý , phán đoán
Bước 3:GV tiếp tục gợi mở cho HS bằng các kiến thức có liên quan để có thể giải
thích được các vấn đề đã nêu ở trên
Bước 4: GV hướng dẫn HS rút ra những nhận xét, kết luận từ những vấn đề đã nêu ở
trên HS tự thu nhận kiến thức
Bước 5: Vận dụng những kiến thức đã nghiên cứu vào giải quyết những bài tập cụ thể
có liên quan và vấn đề thực tiễn ( Bước này có thể có, có thể không tùy thuộc vào kiếm thức nội dung nghiên cứu)
2.2.3 Kỹ thuật đặt câu hỏi trong PPĐT phát hiện
2.2.3.1 Vai trò của kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại phát hiện
Kỹ thuật đặt câu hỏi là một công cụ vô giá của việc dạy và học Bởi vì Đặt câu hỏi
giúp giáo viên :
- Đòi hỏi HS suy nghĩ và dạy HS biết cách suy nghĩ
- Hỗ trợ HS “kết nối, chuyển giao” từ những hiểu biết sẵn có ban đầu sang kiến thức mới một cách tích cực
- Thúc đẩy sự chú ý, lôi cuốn sự tập trung của HS
- Kích thích hứng thú học tập của HS Do HS phải suy nghĩ, kích thích tính tò mò, được
sự động viên kịp thời của GV
- Thu được những thông tin phản hồi tức thì về hiểu biết của HS, kịp thời có giải pháp khắc phục những sai lầm, khó khăn của HS
- Đánh giá mức độ hiểu bài của HS
Trang 10Đặt câu hỏi giúp học sinh :
- Làm sáng tỏ vấn đề còn chưa rõ
- Rèn luyện tư duy phê phán và tư duy sáng tạo
- Thúc đẩy việc học hỏi lẫn nhau theo cặp, nhóm
2.2.3.2 Một số yêu cầu sư phạm về kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại phát hiện
- Câu hỏi phải kích thích trí thông minh và tư duy sáng tạo
- Câu hỏi đặt ra phải có nội dung chính xác, dễ hiểu, thống nhất
- Câu hỏi đặt ra phải đảm bảo tính hệ thống, phù hợp với lứa tuổi và mối quan tâm của
- Dạng bài về thuyết và định luật (chương: Sự điện ly)
- Dạng bài về chất và nguyên tố hoá học (chương2,3 :Nhóm nitơ và nhóm cacbon)
Bước 2: GV lần lượt đưa ra hệ thống câu hỏi – HS trả lời
GV: Yêu cầu HS quan sát thí nghiệm về tính dẫn điện của các dd muối, axit, bazơ,
nước cất, rượu etylic
Hãy nêu hiện tượng thí nghiệm mà em quan sát được và rút ra nhận xét?
HS: Dd muối, axit, bazơ đèn sáng Các dd này dẫn được điện
Nước cất, rượu etylic đèn khồn sáng Các dung dịch này không dẫn được điện GV nêu câu hỏi nhớ lại kiến thức cũ đã học
Em hãy nhớ lại kiến thức vật lý lớp 7 giải thích tại sao dd có khả năng dẫn điện ?
HS: Dd dẫn được điện là do trong dd có các tiểu phân mang điện tích di chuyển tự do
trong dd ( gọi là các ion)
GV: Vậy nguyên nhân dẫn tính dẫn điện của dung dịch muối, axit, bazơ là gì ?
HS: Do trong dd muối, axit, bazơ có sự tồn tại của các ion ( mang điện tích di chuyển
tự do ) nên dd dẫn được điện
Trang 11Bước 3: GV tiếp tục gợi mở cho HS các kiến thức liên quan để giải quyết được các vấn đề đã nêu ở trên
GV: Dd axit, bazơ, muối dẫn được điện là do trong dd có các ion tự do Vậy các ion này được sinh ra từ đâu?
Đây là câu hỏi phát hiện
HS:Các dd dẫn được điện là do khi hòa tan trong nước chúng phân ly tạo ra các ion
làm cho dd dẫn được điện
Bước 4: GV hướng dẫn HS rút ra những nhận xét , kết luận
GV: Qúa trình các chất muối, axit, bazơ tan trong nước phân ly ra các ion được gọi là
sự điện ly Axit, bazơ, muối khi tan trong nước phân ly ra ion gọi là các chất điện ly
Từ ví dụ trên em hãy rút ra nhận xét về sự điện ly và chất điện ly là gì?
HS: Qúa trình các chất hoà tan trong nước phân ly ra các ion là sự điện ly
Những chất tan trong nước phân ly ra ion được gọi là những chất điện ly
GV Kết luận: Đó chính là nội dung của thuyết sự điện ly
2.3.3.Vận dụng quy trình sử dụng PPĐT phát hiện trong dạy học dạng bài luyện tập
2.3.4 Vận dụng quy trình sử dụng PPĐT phát hiện trong dạy học dạng bài thực hành
2.4 Xây dựng hệ thống câu hỏi sử dụng trong PPĐT phát hiện cho một số bài phần hóa học vô cơ lớp 11 chương trình nâng cao
2.4.1 Cơ sở sắp xếp hệ thống câu hỏi
Hệ thống câu hỏi được sắp xếp :
- Theo cấu trúc chương trình ( chương; bài)
- Theo quy trình sử dụng PPĐT phát hiện
- Theo thang nhận thức của Bloom chủ yếu sử dụng câu hỏi ở mức độ : Biết, hiểu, vận dụng và sáng tạo
2.4.2 Hệ thống câu hỏi sử dụng trong PPĐT phát hiện
Chúng tôi đã xây dựng được hệ thống câu hỏi sử dụng trong PPĐT phát hiện ở các chương 1,2,3 phần hóa học vô cơ lớp 11 chương trình nâng cao
Ví dụ : Hệ thống câu hỏi cho bài axit, bazơ và muối
ND1:Định nghĩa
Câu 1: Hãy nhắc lại khái niệm về axit, bazơ mà em đã biết? Cho ví dụ
Trang 12Đây là câu hỏi tái hiện, củng cố Học sinh sẽ dễ dàng nêu được khái niệm về axit ,bazơ
HS: Axit là hợp chất mà phân tử có một hay nhiều nguyên tử H kết hợp với gốc axit
Ví dụ: H2SO4, H2PO4, H2CO3, HCl, HNO3
Bazơ là hợp chất mà phân tử gồm nhiều nguyên tử kim loại kết hợp với một hay nhiều nhóm hidroxyl
Ví dụ: NaOH, KOH, Ba (OH)2, Fe (OH)3
Câu 2 Các axit, bazơ là những chất điện ly, hãy viết phương trình phân ly của các axit, bazơ đó
HS viết phương trình phân phân ly của dd các axit HCl, HNO 3 , CHCOOH ; dd bazơ KOH NaOH, Ba(OH) 2
Câu 3 Em có nhận xét gì về sự phân ly của các ion trong dd axit và dd bazơ.?
Đây là câu hỏi so sánh, phân tích, tổng hợp, từ các phương trình điện ly HS dễ dàng rút ra nhận xét:
- Các axit khi hoà tan trong H2O đều phân ly ra các cation H+
- Các bazơ khi hoà tan trong H2O đều phân ly ra các anion OH
-GV nêu khái niệm axit, bazơ theo thuyết điện ly của A-re-ni-ut
- Axit là những chất tan trong H2O phân ly ra các cation H+
- Bazơ là những chất tan trong H2O phân ly ra các ion OH-
Câu 4 Dựa vào phương trình điện ly của các axit, bazơ hãy giải thích vì sao các
dung dịch axit đều có tính chất chung của axit và dung dịch bazơ có tính chất hóa học chung của bazơ?
Đây là câu hỏi phát hiện, học sinh so sánh, phân tích tổng hợp để giải thích được vì sao các dung dịch axit có tính chất chung của axit, các dung dịch bazơ
HS : Các dung dịch axit có tính chất hóa học giống nhau vì đó là tính chất của cation
H+, các dung dịch bazơ đều có một số tính chất chung đó là tính chất của các anion OH-
trong dung dịch
2.4.3 Tổ chức hoạt động học tập của học sinh trong phương pháp đàm thoại phát hiện
Một số phương án tổ chức dạy học theo PP đàm thoại phát hiện:
Phương án 1: GV đặt ra những câu hỏi nhỏ, riêng rẽ, sau đó chỉ định từng HS trả lời
(hoặc lấy tinh thần xung phong) Mỗi HS trả lời một câu hỏi GV tổ hợp các câu trả lời của
HS thành nguồn tri thức cho cả lớp
Phương án 2: GV đưa ra một câu hỏi lớn, một vấn đề lớn kèm theo những gợi ý có liên
quan đến câu hỏi GV để HS lần lượt trả lời từng vấn đề của câu hỏi lớn, người sau bổ sung để hoàn chỉnh câu trả lời của người trước cho đến khi tổ hợp các câu trả lời của HS đủ giải quyết được vấn đề lớn do GV đặt ra
Phương án 3: GV đưa ra một câu hỏi chính kèm theo các gợi ý nhằm tổ chức cho HS
thảo luận hoặc đưa ra những câu hỏi phụ để giúp HS tìm lời đáp