Tổng quan nghiên cứu 2.1 Các nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của DemirgUẹ-Kunt và Huizinga 1998 với chủ đề “Các yếu tốquyết định tới tỷ suất lợi nhuận và khả năng sinh lời của ngân h
Trang 2HỌC VIỆN NGÂN HÀNG CHƯƠNG TRÌNH CỬ NHÂN CHẤT LƯỢNG CAO
Hà Nội, 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠNTrong thời gian học tập tại Học viện Ngân hàng, em xin gửi lời bày tỏ tới cácgiảng viên tại trường đã được trang bị rất nhiều kiến thức quý báu và là hành trangquý giá để có thể vững bước trong tương lai.
Để có thể hoàn thành được bài khóa luận ngày hôm nay, em xin chân thànhcảm ơn sự giúp đỡ của TS Phạm Thu Thủy đã hướng dẫn chi tiết, tỉ mỉ giúp cho bàikhóa luận có được kết quả tốt nhất
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình đãluôn ở bên cạnh động viên em, giúp đỡ em mọi điều kiện để em được hoàn thiện bàikhóa luận này
Cuối cùng, do kiến thức chuyên môn và thực tế còn nhiều hạn chế nên bàiviết còn có thể có những thiếu sót Em rất mong nhận được những đóng góp ý kiếncủa thầy cô để bài viết được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 21 tháng 05 năm 2021
Sinh viên
Hà Thiên Hải
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC ĐỒ THỊ vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ’ 8
1.1 Giới thiệu về hoạt động của NHTM 8
1.1.1 Khái niệm và chức năng của NHTM 8
1.1.2 Các hoạt động kinh doanh chính của NHTM 9
1.2 Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 10
1.3 Các chỉ số đánh giá khả năng sinh lời của NHTM 10
1.4 Các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 12
1.4.1 Các nhân tố bên trong ngân hàng 12
1.4.2 Các nhân tố bên ngoài ngân hàng 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI V IỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2019 20
2.1 Thực trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2012-2019 20
2.1.1 Giới thiệu về hệ thống các NHTM tại Việt Nam 20
2.1.2 Các biến số kinh tế vĩ mô giai đoạn 2012-2019 21
2.1.3 Quy mô hệ thống ngân hàng thương mại 22
2.1.4 Hoạt động cấp tín dụng 24
2.1.5 Huy động vốn 27
2.1.6 Rủi ro tín dụng 29
2.2 Thực trạng về khả năng sinh lời tại các NHTM Việt Nam 30
2.2.1 ROA 30
2.2.2 ROE 31
2.2.3 NIM 31
CHƯƠNG 3: CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Cơ sở dữ liệu và xử lý dữ liệu 33
3.2 Mô hình nghiên cứu 33
3.3 Các biến trong mô hình nghiên cứu 34
ii
Trang 5Từ viết tắt Nguyên nghĩa
3.3.1 Biến phụ thuộc 34
3.3.2 Biến độc lập 35
3.4 Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu 39
3.5 Kiểm định lựa chọn các biến trong mô hình hồi quy 40
3.5.1 Tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình 40
3.5.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến cho mô hình Pooled OLS 41
3.6 Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp cho các biến phụ thuộc 42
3.7 Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi 43
3.8 Kiểm định hiện tượng tự tương quan 43
3.9 Khắc phục mô hình 44
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
4.1 Kết quả của mô hình 45
4.2 Phân tích các kết quả nghiên cứu 47
4.2.1 Nợ xấu 47
4.2.2 Tỉ lệ tổng dư nợ tín dụng trên vốn huy động (LDR) 47
4.2.3 Tỉ lệ chi phí hoạt động (CIR) 47
4.2.4 Tỉ lệ dư nợ tín dụng trên tổng tài sản (LTA) 48
4.2.5 Tính thanh khoản của ngân hàng ( LIQ) 48
4.2.6 Tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EAR) 48
4.2.7 Quy mô ngân hàng 48
4.2.8 Thị phần tổng tài sản của 4 NHTM có vốn Nhà nước (CR4) 49
4.2.9 Các yếu tố kinh tế vĩ mô 49
CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 51
5.1 Tăng tỉ lệ dư nợ tín dụng trên vốn huy động 51
5.2 Quản trị rủi ro tín dụng 51
5.3 Cơ cấu các chi phí hoạt động 52
5.4 Phân tích và thích ứng những biến động của kinh tế vĩ mô 52
KẾT LUẬN 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC THAM KHẢO 60
DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 6MTV Một thành viên
ROA Tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
BIDV Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt NamVietinbank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam
Vietcombank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam
VPBank Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng
Techcombank Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam
EAR Tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
POOLED OLS Mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất
FGLS Mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát
Trang 7Tên bảng Số trang
Bảng 2.2: Tình hình tổng dư nợ cấp tín dụng các NHTM Việt Nam
Bảng 3.5: Kết quả kiêm định lựa chọn mô hình phù hợp giữa mô hình
Pooled OLS và mô hình REM
42
Bảng 3.6: Kết quả kiêm định phù hợp giữa mô hình FEM và mô hình
REM
42
Bảng 4.1: Kết quả ước tính các nhân tố ảnh hưởng tới ROA 45Bảng 4.2: Kết quả ước tính các nhân tố ảnh hưởng tới ROE 46
DANH MỤC BẢNG
Trang 8Tên đồ thị Số trang
Đồ thị 2.1: Tăng trưởng GDP của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn
2012-2019
21
Đồ thị 2.2: Tình hình lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2012-2019 22
Đồ thị 2.3: Tông tài sản của 22 NHTM Việt Nam giai đoạn
Đồ thị 2.4: So sánh tỷ trọng tông tài sản nhóm NHTM có vôn Nhà
Đồ thị 2.5: So sánh tỷ trọng dư nợ cấp tín dụng nhóm NHTM có vôn
Đồ thị 2.6: So sánh tỉ lệ tông dư nợ tín dụng nhóm NHTM có vôn
Đồ thị 2.7: So sánh tỷ trọng vôn huy động nhóm NHTM có vôn Nhà
Đồ thị 2.8: So sánh về tỉ lệ nợ xấu nhóm NHTM có vôn Nhà nước
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự thăng tiến vượt bậc của nền kinh tế trong những năm vừa qua là thành tựu
to lớn trong sự phát triển của nước Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hóa Trong
đó, vai trò của ngành ngân hàng là không thể phủ nhận,và là đầu tàu quan trọng của
hệ thống tài chính trong nước dù cho còn gặp nhiều thách thức từ khi nền tài chínhnhiều quốc gia gặp khủng hoảng trước đó Ngân hàng cung ứng những dịch vụ tàichính cho mọi chủ thể trong xã hội và đảm bảo tính lưu thông và thanh khoản củadòng tiền, phục vụ cho các hoạt động thanh toán, sản xuất, giao lưu thương mại giữacác nước trong khu vực hay trên thế giới
Hoạt động của ngân hàng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới bản thân ngânhàng mà còn ảnh hưởng tới doanh nghiệp do thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫnchưa phát triển nên đây vẫn là nơi cung cấp vốn cho các doanh nghiệp Với chứcnăng quan trọng của mình, hoạt động của ngân hàng được rất nhiều đối tượng quantâm, đặc biệt là liên quan tới lợi nhuận Thông qua các bảng báo cáo tài chính, khảnăng sinh lời chính là một thước đo đánh giá phản ánh năng lực của ngân hàng.Nâng cao và cải thiện khả năng sinh lời là mục tiêu mà các nhà quản trị, ban lãnhđạo trong mỗi ngân hàng thương mại và các nhà hoạch định chính sách tại các cơquan chính phủ đặt ra hàng đầu
Trước đây, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về các tác nhân tác động đến sựthay đổi trong lợi nhuận của ngân hàng được đưa ra và chủ yếu là các bài viết từnước ngoài Một số các bài viết trong nước cũng đã phân tích về khả năng sinh lờicủa một hay nhiều ngân hàng trong các giai đoạn trước đây Tuy vậy, số lượng bàinghiên cứu trong nước hiện nay vẫn còn hạn chế, cũng như chưa có nhiều bài nghiêncứu về những ảnh hưởng tới lợi nhuận của NHTM Việt Nam trong những năm gầnđây
Trong tình hình và xu thế hội nhập như hiện nay, và với sự cạnh tranh về tiềmlực tài chính, về công nghệ và các sản phẩm dịch vụ, khả năng sinh lời có thể nói làmột thước đo phù hợp để đánh giá sự phát triển trong ngân hàng Việc tìm ra và xácđịnh các nhân tố dẫn đến khả năng sinh lời chính là việc đi tìm những nguyên nhân
và giải pháp giúp các NHTM Việt Nam có được sự tăng trưởng bền vững trong
1
Trang 11những năm sắp tới Vì vậy, tôi đưa ra quyết định nghiên cứu đề tài: “Các nhân tố ảnhhưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng trong giai đoạn 2012-2019” để nghiêncứu về các vấn đề được nhắc đến nêu trên.
2 Tổng quan nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của DemirgUẹ-Kunt và Huizinga (1998) với chủ đề “Các yếu tốquyết định tới tỷ suất lợi nhuận và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại: Một
số bằng chứng quốc tế” đã sử dụng dữ liệu ngân hàng của 80 quốc gia trong giaiđoạn từ 1988- 1995 Hai tác giả đã phản ánh sự khác biệt giữa các ngân hàng về khảnăng sinh lời và tỷ suất lợi nhuận qua nhiều yếu tố khác nhau như: đặc điểm ngânhàng, điều kiện kinh tế vĩ mô, sự minh bạch thuế của ngân hàng, quy định về bảohiểm tiền gửi, cấu trúc tài chính tổng thể và các chỉ số pháp lý Sự thay đổi tronghoạt động ngân hàng và thay đổi môi trường kinh tế vĩ mô xuất phát từ việc tỷ lệ tàisản của ngân hàng trên GDP cao và việc tỷ lệ tập trung thị trường thấp dẫn đến lợinhuận của ngân hàng thấp hơn Ngoài ra, khi so sánh với các ngân hàng nước ngoài
và các ngân hàng trong nước, ở các nước phát triển thì tỷ suất lợi nhuận của ngânhàng nước ngoài thấp hơn so với các ngân hàng trong nước ở các nước phát triển,trong khi ở các nước đang phát triển thì cho ra kết quả trái ngược
Almazari (2014) đã nghiên cứu về các nhân tố bên trong ảnh hưởng tới khảnăng sinh lời của các ngân hàng và so sánh với các ngân hàng tại A Rập Xê út vàJordan trong các năm 2005-2011 Bài viết chỉ ra sự tương đồng và khác nhau giữacác ngân hàng tại 2 quốc gia này thông qua việc phân tích hồi quy và sự tương quancủa Pearson Kết quả nói lên rằng tại các ngân hàng Ả Rập Xê Út, ROA có mốitương quan tích cực với tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tổng đầu tư trên tổngtài sản và rủi ro tín dụng; đồng thời ROA cũng có mối quan hệ tương quan tiêu cựcvới các biến: dư nợ tín dụng ròng trên tổng tài sản, dư nợ tín dụng ròng trên tiền gửi,
tỉ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh và quy mô ngânhàng Với các ngân hàng tại Jordan, thì ROA có mối quan hệ tương quan tích cựcvới: rủi do tín dụng, dư nợ tín dụng ròng trên tổng tài sản , tỉ lệ vốn chủ sở hữu trêntổng tài sản và dư nợ tín dụng ròng trên tổng tiền gửi, đồng thời chỉ tiêu đánh giá này
Trang 12có mối quan hệ tương quan nghịch với chỉ số chi phí trên thu nhập, tỉ lệ tổng đầu tư
trên tổng tài sản và quy mô ngân hàng
Bojare và Romanova (2017) đã nghiên cứu về các nhân tố chính tác động đếnkhả năng sinh lời và mức độ ảnh hưởng tới lợi nhuận của các ngân hàng tại Latviadựa trên báo cáo kinh tế vĩ mô và báo cáo tài chính tại các ngân hàng Nghiên cứucủa các tác giả chỉ ra lợi nhuận của ngân hàng chủ yếu bị ảnh hưởng bởi các nhân tốnhư: môi trường vĩ mô, lạm phát và chênh lệch lãi suất và sự cạnh tranh trong ngànhcũng như là hiệu quả tổng thể của từng ngân hàng Ngoài ra, các tác giả tìm ra sựkhác biệt trong các mô hình kinh doanh của các ngân hàng và mô tả sự đặc trưng tạithị trường Latvia
Bài nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của 10 ngânhàng lớn nhất tại ASEAN trong giai đoạn 2012-2016 được nghiên cứu bởi Satria vàcộng sự (2018) Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với dữ liệu đượcchạy trên phần mềm thống kê Eviews-9 Các ngân hàng mà nhóm tác giả lựa chọn sửdụng dữ liệu bao gồm có: 3 ngân hàng tại Singapore, 3 ngân hàng tại Indonesia, 2ngân hàng tại Malaysia và 2 ngân hàng tại Thái Lan Kết quả chạy trên phần mềmEviews- 9 cho thấy khoảng 87.03% khả năng sinh lời đánh giá bởi ROA được giảithích bằng tỷ lệ dư nợ tín dụng trên vốn huy động (LDR), vốn chủ sở hữu, đầu tưvào tài sản và tổng sản phẩm trong nước (GDP)
2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng của Phan Thị Xuân (2017) đã tập trungnghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của các ngân hàngthương mại nhà nước tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong giai đoạn 2010-2016 Bàiviết đã sử dụng các chỉ tiêu làm thành các biến phụ thuộc là ROA, ROE và NIMtrong các mô hình hồi quy khác nhau và ứng dụng phương pháp ước lượng GMM đểxây dựng độ tin cậy và làm tăng hiệu quả của các giá trị ước lượng Tác giả đã đưa
ra kết luận các nhân tố như tổng tài sản, tỉ lệ nợ xấu, thu nhập ngoài lãi trên tổng tàisản, tỉ lệ chi phí trên tổng tài sản và tỉ lệ lạm phát có mối quan hệ tương quan vớiROA và NIM Trong khi đó, các biến như tỉ lệ tổng cho vay khách hàng trên tổng tàisản, rủi ro thanh khoản hay tốc độ tăng trưởng GDP Thông qua việc nghiên cứuphân tích cũng như đưa ra thêm những nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách
3
Trang 13quan, tác giả đã đưa ra những giải pháp, định hướng phát triển cho các ngân hàngtrên địa bàn của tỉnh Bà Rịa Vũng tàu Đầu tiên, các ngân hàng cần mở rộng và pháttriển quy mô hoạt động gồm cả về vật chất, tài sản và nâng cao năng lực và đạo đứccủa đội ngũ nhân lực nhưng cần kèm theo đó là phải có chiến lược quản lý chặt chẽ.Thứ hai, các ngân hàng cần phải quản lý rủi ro và quan tâm tới chiến lược tín dụng.Hơn nữa, tác giả cũng đưa ra các giải pháp thực tế như: cơ cấu hợp lí chi phí hoạtđộng, hoạt động kinh doanh cần được đa dạng hóa hay tập trung tăng cường vào việc
dự báo các chỉ số kinh tế vĩ mô
Bài viết của Nguyễn Thị Cảnh và cộng sự (2018) đã cho ra bài viết với chủ đề
“ Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của ngân hàng Việt Nam” trên tạp chíBanking Technology Bài viết được nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2005- 2013.Kết quả thu được từ việc sử dụng phương pháp SGMM cho thấy việc đa dạng hóathu nhập, tỷ lệ tiền gửi trên tổng nợ phải trả có tác động tích cực tới lợi nhuận củangân hàng (đo lường bởi ROA với ROE) Ngược lại, tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ vốn chủ sởhữu trên tổng tài sản lại có ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng sinh lời Các tác giảcũng chỉ ra rằng không có bằng chứng thuyết phục cho thấy các yếu tố kinh tế vĩ mônhư tăng trưởng kinh tế và lạm phát ảnh hưởng tới lợi nhuận của các ngân hàngthương mại tại Việt Nam trong giai đoạn này Các tác giả cũng phát hiện rằng cácngân hàng quy mô lớn với thu nhập từ nhiều nguồn hơn sẽ có nhiều lợi nhuận hơn sovới các ngân hàng khác
Hai tác giả Phan Thị Hằng Nga và Nguyễn Thị Mỹ Linh (2019) đã nghiêncứu với chủ đề “Tác động của công nghệ tới khả năng sinh lời của các ngân hàngthương mại tại Việt Nam” Bài viết dựa trên dữ liệu của 21 ngân hàng trong giaiđoạn 2008-2017 và dựa trên các mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS), mô hìnhFEM, mô hình REM và sử dụng phương pháp GMM để đưa ra mô hình phù hợp.Kết quả ước tính chỉ ra khả năng sinh lời của ngân hàng thường bị ảnh hưởng bởicác yếu tố: sử dụng công nghệ trong hoạt động kinh doanh, công nghệ thanh toán
tự động qua điện thoại và máy tính, và việc đổi mới công nghệ tại ngân hàng Kếtquả nghiên cứu cũng chỉ ra các nhân tố như: tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản,năng lực quản lý chi phí, rủi to tín dụng hay lạm phát là những nhân tố tác động tớilợi nhuận của ngân hàng Từ đó, nhóm tác giả đưa ra đề xuất trong việc nâng cao
Trang 14và khai thác hiệu quả sử dụng của công nghệ trong thời kì cách mạng công nghiệp4.0 như hiện tại.
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của bài khóa luận làm xác định và chỉ rõ các nhân tố tác động đến khảnăng sinh lời của các NHTM Việt Nam thông qua phương pháp phân tích định lượng
và phân tích định tính Từ đó, bài viết phân tích mức độ ảnh hưởng và nguyên nhâncủa các nhân tố bên trong và các yếu tố vĩ mô tới lợi nhuậncủa NHTM Ngoài ra, bàinghiên cứu cũng đề cập đến thực trạng hoạt động của các NHTM trong giai đoạn2012-2019 Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra thêm những kiến nghị, giải pháp nhằm cảithiện khả năng sinh lời và cũng như cho sự thăng tiến của toàn ngành ngân hàng
4 Câu hỏi nghiên cứu
Bài nghiên cứu tập trung phân tích và trả lời các câu hỏi sau:
- Về lý luận chung, những nhân tố nào quyết định tới khả năng sinh lời củacác NHTM?
- Các nhân tố ảnh hưởng như thế nào tới hiệu quả sinh lời của các NHTM tạiViệt Nam giai đoạn 2012-2019
- Giải pháp nào giúp cho các NHTM gia tăng khả năng sinh lời và phát triểnmột cách bền vững?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu tập trung vào đối tượng là khả năng sinh lời của các NHTM vàthông qua phân tích những yếu tố tác động tới khả năng sinh lời của các ngân hàngnói trên bằng mô hình hồi quy và phân tích định tính
Phạm vi nghiên cứu của bài này là 22 NHTM có số vốn điều lệ trên 5000 tỉđồng với thời gian nghiên cứu là trong giai đoạn 2012-2019 Dữ liệu của bài nghiêncứu là theo các báo cáo tài chính riêng lẻ các năm của các ngân hàng nêu trên và dữliệu của nền kinh tế Việt Nam tại Worldbank
22 NHTM được lựa chọn là những ngân hàng có sự ổn định về mặt tài chính và
có sự ổn định về mặt cơ cấu tổ chức trong giai đoạn này
Giai đoạn 2012-2019 cũng là giai đoạn hoạt động của các NHTM Việt Nam đivào ổn định, cùng với đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 - 2015"của Ngân hàng Nhà nước, hoạt động của các NHTM đã được cải thiện một cách rõ
5
Trang 15rệt Ngoài ra, giai đoạn này cũng không có xuất hiện những biến động quá lớn từ vĩ
mô nên giai đoạn từ 2012-2019 rất phù hợp để nghiên cứu
6 Khoảng trống nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu này, tác giả quyết định nghiên cứu trong khoản thời gian
từ năm 2012-2019, trong đó năm 2019 là khoảng thời gian chưa có nhiều bài nghiêncứu nào
Các bài nghiên cứu trước cũng chưa chỉ ra sự tác động của nhân tố là mức độtập trung của ngành NHTM Việt Nam ảnh hưởng tới như thế nào tới khả năng sinhlời Vì vậy, tác giả đã đưa mức độ tập trung ngành bằng biến thị phần của 4 NHTM
có vốn Nhà nước để đề cập trong bài nghiên cứu và đưa vào mô hình
7 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng các phương pháp chính sau đây:
- Thông qua số liệu được thu thập, bài nghiên cứu sử dụng kết hợp giữaphương pháp định lượng và phương pháp định tính Trong phương pháp định lượng,bài viết ước lượng các mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hồiquy tác động ngẫu nhiên (REM), mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) và môhình hồi quy theo phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (FGLS) để đo lườngcác chỉ tiêu sinh lời và phân tích và chỉ ra sức ảnh hưởng của các nhân tố đó
- Sử dụng hệ số nhân tử phóng đại VIF để kiểm định hiện tượng đa cộngtuyến
- Bài sử dụng kiểm định Breusch và Pagan để lựa chọn mô hình phù hợp giữa
mô hình Pooled OLS và mô hình REM
- Kiểm định Hausman được sử dụng để lựa chọn mô hình phù hợp giữa môhình REM và mô hình FEM
- Mô hình FGLS được sử dụng để khắc phục những khuyết tật của mô hìnhREM và mô hình FEM
8 Ket cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Bài khóa luận được chia thành 5 chươngchính:
Chương I: Cơ sở lí luận về khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại
Trang 16Chương II: Thực trạng khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam trong giaiđoạn 2012-2019
Chương III: Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương IV: Ket quả nghiên cứu
Chương V: Giải pháp nâng cao khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam
7
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Giới thiệu về hoạt động của NHTM
1.1.1 Khái niệm và chức năng của NHTM
Theo giáo trình Tiền tệ Ngân hàng của PGS.TS Tô Kim Ngọc và TS NguyễnThanh Nhàn (2018), ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính hoạt động vìmục tiêu lợi nhuận, thông qua việc kinh doanh từ việc huy động vốn từ nền kinh tế,chủ yếu tới từ khoản vốn ngắn hạn Đối với loại hình sở hữu, ngân hàng thương mạitồn tại ở nhiều dạng như: NHTM tư nhân, NHTM cổ phần, NHTM quốc doanh,NHTM liên doanh và chi nhánh NHTM nước ngoài
Hoạt động của NHTM được thể hiện rõ nhất qua ba chức năng:
- Chức năng làm thủ quĩ cho xã hội:
Với vai trò làm thủ quĩ xã hội, NHTM sẽ nhận tiền gửi, và giữ tiền từ công chúng,đồng thời đáp ứng những nhu cầu chi tiêu hay rút tiền từ phía khách hàng Chứcnăng này đối với ngân hàng là cơ sở, là bước đầu tiên trong việc thực hiện các hoạtđộng chức năng thanh toán và tạo nguồn vốn cho các chức năng trung gian tíndụng
- Chức năng làm trung gian tín dụng
Đây là chức năng cơ bản và được coi là quan trọng nhất của ngân hàngthương mại Đối với chức năng này, ngân hàng sẽ đi huy động nguồn vốn từ cáckhoản tiền nhàn rỗi của các cá nhân và các tổ chức, và từ đó ngân hàng sẽ thựchiện các hoạt động cho vay đối với những cá nhân và tổ chức cần thêm nguồn vốn
để thực hiện nhu cầu Thông qua chức năng này, ngân hàng sẽ đem lại lợi ích chobản thân ngân hàng, cho những người gửi tiền, cho những người đi vay và cả nềnkinh tế:
+ Người gửi tiền sẽ được đảm bảo an toàn khoản tiền nhàn rỗi của mình và thuđược lợi nhuận từ việc hưởng lãi suất tiền gửi Ngoài ra, khách hàng còn được cungcấp những dịch vụ thanh toán và những tiện ích khác từ phía ngân hàng
+ Người đi vay sẽ được tiếp cận một cách thuận lợi đến nguồn vốn hợp phápvới mức lãi suất hợp lý để giải quyết về các nhu cầu kinh doanh, nhu cầu chi tiêu củamình
Trang 18+ Ngân hàng cũng sẽ được hưởng lợi thông qua việc kinh doanh chênh lệchgiữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, ngoài ra là các khoản hoa hồng dành choviệc môi giới.
+ Với nền kinh tế, chức năng này đảm bảo cho mối quan hệ cung cầu tín dụng,gia tăng khả năng luân chuyển vốn từ nguồn tiền nhàn rỗi chưa hoạt động để thúcđẩy những hoạt động sản xuất được diễn ra liên tục và mở rộng quy mô
- Chức năng làm trung gian thanh toán:
Với chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thực hiện thanh toán theoyêu cầu của khách hàng thông qua nhiều hình thức khác nhau như: trích từ tài khoảntiền gửi của khách hàng có tại ngân hàng, thanh toán qua các công cụ thanh toánđiện tử, qua ủy nhiệm chi, qua Séc, Việc ngân hàng đóng vai trò làm trung gianthanh toán giúp làm giảm thiểu đáng kể các chi phí lưu thông tiền mặt, giảm thiểucác rủi ro trong việc vận chuyển tiền và thực hiện được những giao dịch một cáchnhanh chóng và hiệu quả
Ngoài ra, việc thực hiện trung gian thanh toán và cung ứng những dịch vụthanh toán tiện ích và không dùng tiền mặt chất lượng sẽ giúp cho ngân hàng giatăng độ uy tín và tạo điều kiện để thu hút thêm khách hàng, mở rộng quy mô
1.1.2 Các hoạt động kinh doanh chính của NHTM
Dựa vào luật tổ chức tín dụng năm 2010, các hoạt động kinh doanh chínhcủa NHTM bao gồm các hoạt động sau đây:
+) Nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức: tiền gửi không kỳ hạn,tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tínphiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác
+) Cấp tín dụng thông qua các hình thức: Cho vay, bao thanh toán, bảo lãnh ngânhàng, chiết khấu và tái chiết khấu các công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giákhác, phát hành thẻ tín dụng
+) Ngân hàng cũng cung cấp các dịch vụ như: mở tài khoản thanh toán cho kháchhàng, cung cấp các dịch vụ thanh toán (bao gồm thẻ ngân hàng, séc, ủy nhiệm chi,
ủy nhiệm thu, lệch chi, nhờ thu, thanh toán quốc tế)
9
Trang 191.2 Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại
Phan Thị Xuân (2017) cho biết: “Khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả bằngtiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính Việc đánh giá khảnăng sinh lời phải dựa trên việc đánh giá mức độ rủi ro Khái niệm khả năng sinh lờiđược áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, conngười và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện Ở góc độ của ngân hàng,khả năng sinh lời đo lường khả năng tạo ra lợi nhuận từ việc sử dụng các tài sản vậtchất và tài sản tài chính trong hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro.”
Theo như TS Nguyễn Thị Thu Hiền (2017) thì khả năng sinh lời là một thước
đo đánh giá tài chính của NHTM dựa trên cơ sở kết hợp nguồn lực sử dụng và kếtquả kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó tạo nền tảng giúp các ngân hàng đổi mới,
đa dạng hóa sản phẩm và tăng được lợi nhuận
Ngoài ra, Al-Abedallat (2017) cũng cho rằng khả năng sinh lời là một trongnhững mục tiêu quan trọng nhất của ngân hàng và là bằng chứng cho về hiệu quảquản lý và thu hút dòng tiền của ngân hàng
Đối với ngân hàng thương mại, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và khả năngsinh lời luôn là mục tiêu quan trọng nhất mà NHTM luôn hướng tới Việc đánh giákhả năng sinh lời giúp cho ngân hàng có thể nhìn nhận lại tình hình kinh doanh củamình và đưa ra những kế hoạch phù hợp
Khả năng sinh lời cao là điều kiện thuận lợi để ngân hàng tăng thêm nguồnvốn, tăng thêm vào việc đầu tư vào nguồn tài sản tạo ra lợi nhuận, đầu tư phát triểncông nghệ Nâng cao khả năng sinh lời cũng giúp ngân hàng gia tăng độ uy tín trênthị trường, củng cố lòng tin của các khách hàng và giúp họ thu hút thêm nhữngkhách hàng mới và mở rộng thị phần của mình
Ngân hàng là một trong những ngành nghề quan trọng của nền kinh tế Vớikhả năng sinh lời hiệu quả, đảm bảo sự tăng trưởng ổn định từ phía ngân hàng, nềnkinh tế sẽ có thêm động lực, nguồn tiền để thúc đẩy phát triển sản xuất
1.3 Các chỉ số đánh giá khả năng sinh lời của NHTM
Đối với khả năng sinh lời, nhiều chỉ tiêu khác nhau có thể đánh giá được vềkhả năng sinh lời là: tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ( ROA), tỷ suất lợi nhuận trênvốn chủ sở hữu (ROE), biên độ lãi ròng (NIM), , dựa vào đó mà các cổ đông, các
Trang 20nhà đầu tư, các nhà quản lý kinh tế có thể hình dung ra một bức tranh tổng quát nhất
về hoạt động của ngân hàng
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
ROA = Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản
ROA phản ánh việc ngân hàng sử dụng tài sản của mình để có thể tạo ra đượcbao nhiêu đồng lợi nhuận, qua đó có thể phản ánh khả năng quản lý và cơ cấu tài sảncủa các nhà quản trị ngân hàng Đối với một ngân hàng, tỉ lệ ROA cao khẳng địnhngân hàng đang có một kết quả kinh doanh tốt, khả năng cơ cấu và sử dụng tài sảncủa mình một cách hợp lý để tạo ra lợi nhuận Ngược lại, ROA thấp có thể là dodanh mục cho vay và đầu tư thiếu tính năng động hoặc do chi phí hoạt động quá cao(Nguyễn Việt Hùng, 2008)
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE = Lợi nhuận sau thuế/ Vốn chủ sở hữu
ROE đo lường tỷ lệ thu nhập trên vốn của các cổ đông nắm giữ cổ phiếu phổthông của ngân hàng ROE chứng minh cho thấy hiệu quả tạo ra lợi nhuận của mộtngân hàng với trên những đồng vốn chủ sở hữu ( Vốn chủ sở hữu được tính bằngcách lấy Tổng tài sản trừ đi Tổng nợ phải trả của ngân hàng) Theo Faisal, Khan vàMiah (2018), ROE cho biết khả năng ngân hàng sử dụng vốn chủ sở hữu của mình
để tạo ra sự tăng trưởng về thu nhập
Trước đó, các nghiên cứu của Ong Tze San và Teh Boon Heng (2012), Saeed(2014), Abuzar (2013), tỷ lệ này được sử dụng như một biến phụ thuộc và chịu ảnhhưởng bởi các biến độc lập để đo lường khả năng sinh lời Tuy nhiên đối với ROE, tỉ
lệ này cao thì chưa thể khẳng định NHTM hoạt động kinh doanh tốt Dựa theo phântích 3 Dupont, chúng ta có cách tính ROE như sau:
ROE = ( Lợi nhuận sau thuế/ Thu nhập hoạt động)x
( Thu nhập hoạt động/ Tổng tài sản) x ( Tổng tài sản/ Vốn chủ sở hữu)Đối với phân tích 3 Dupont, tỉ lệ ROE cao chưa thể chứng minh được khả năngtạo thu nhập từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng là tốt Nguyên nhân đến từ yếu
tố đòn bẩy tài chính cao của ngân hàng khi ngân hàng chủ yếu sử dụng nguồn tiềngửi từ phía khách hàng Vậy nên, ROE cao có thể không đến từ các phần thu nhập và
11
Trang 21lợi nhuận mà do đến từ yếu tố vay nợ từ nguồn tiền gửi vốn là hoạt động chính củangân hàng.
Biên độ lãi ròng (NIM — Net interest margin)
NIM = Thu nhập lãi thuần / Tài sản sinh lãi
Chỉ tiêu biên độ lãi ròng được tính bằng cách lấy tổng thu nhập từ hoạt độngkinh doanh lãi và các khoản thu nhập tương tự chia cho các tài sản sinh lãi Các tàisản sinh lãi của ngân hàng bao gồm có: tiền gửi từ NHNN, tiền gửi từ các tổ chức tíndụng, đầu tư chứng khoán, các khoản cấp tín dụng cho khách hàng, các khoản đầu tưdài hạn, các công cụ tài chính phái sinh và các tài sản có khác
NIM được coi như là một chỉ số hữu dụng để theo dõi được về khả năng sinhlời trong hoạt động đầu tư và cấp tín dụng của ngân hàng thương mại trong một chu
kì hoạt động Chỉ số này phản ánh thực tế sự chênh lệch giữa các khoản cho vay vàkhoản tiền gửi ngoài các chi phí giao dịch và thuế phải trả cho những người đi vay
và người gửi tiền tiết kiệm (Hijazeen, 2017)
1.4 Các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại
1.4.1 Các nhân tố bên trong ngân hàng
Quy mô hệ ngân hàng
Trong các nghiên cứu trước đây, đa số các nhà nghiên cứu đều lựa chọn quy
mô của ngân hàng là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh lời Trongđiều kiện bình thường, các ngân hàng với quy mô lớn thường sẽ có sự đa dạng tronghoạt động kinh doanh, về dịch vụ, nâng cao điều kiện về cơ sở vật chất và côngnghệ Từ đó, các ngân hàng lớn sẽ có sự tăng trưởng trong lợi nhuận lớn hơn so vớicác ngân hàng quy mô nhỏ Theo như các nghiên cứu, để giải thích cho sự tác độngcủa quy mô ngân hàng, các nhà nghiên cứu đã sử dụng logarit tự nhiên của tổng tàisản của ngân hàng
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô ngân hàng có mối quan hệ tích cực vớikhả năng sinh lời của ngân hàng Bùi Ngọc Toàn và Đoàn Thị Thu Trang (2020) quanghiên cứu bằng phương pháp GMM tại các ngân hàng thương mại Việt Nam tronggiai đoạn 2013-2018 cho thấy quy mô ngân hàng có chiều tác động tích cực tớiROA Điều này minh chứng cho việc các ngân hàng thương mại lớn tại Việt Nam
Trang 22trong giai đoạn này có lợi thế trong việc mở rộng thị phần và nâng cao khả năngcạnh tranh nhằm gia tăng khả năng sinh lời.
Tuy vậy, theo Phan Thị Xuân (2017), đối với những ngân hàng có quy mô quálớn, họ sẽ phải mất rất nhiều chi phí quản lý, nếu bộ máy quản lý hoạt động khôngtốt sẽ rất dễ xảy ra những xung đột lợi ích giữa các bên và dẫn tới việc lợi ích nhómdẫn tới lợi ích hoạt động kinh doanh của ngân hàng sụt giảm
Nghiên cứu của Kosmidou và cộng sự (2006) lại chỉ ra rằng sau khi chia racác ngân hàng thương mại tại Vương Quốc Anh thành hai nhóm theo khối lượngtài sản là lớn và nhỏ, họ kết luận rằng các ngân hàng nhỏ có hiệu quả hoạt độngcao hơn so với ngân hàng lớn, và hiệu quả hoạt động của ngân hàng cũng nhưtính khả dụng của các khoản đầu tư luôn được đánh giá thông qua xu hướng và
mô hình sinh lời
Trong khi đó, nghiên cứu của Tharu và Shretha (2019) dựa trên dữ liệu của 28ngân hàng tại Nepal lại cho chúng ta thấy rằng quy mô ngân hàng không có ảnhhưởng gì đáng kể tới khả năng sinh lời
Chiphí hoạt động (CIR)
Chỉ số chi phí hoạt động (CIR) là một chỉ tiêu đánh giá và đo lường chi phíhoạt động của ngân hàng trong mối quan hệ với tổng thu nhập trong hoạt động củangân hàng Tỉ lệ CIR được tính theo công thức:
CIR = Chi phí hoạt động/ Tổng thu nhập hoạt động
Trong hoạt động của ngân hàng, chi phí hoạt động bao gồm các hạng mụcnhư: thuế, chi trả cho công nhân viên, chi phí cho các tài sản, chi phí bảo hiểm tiềngửi cho khách hàng và các chi phí khác Thông thường, chi phí càng cao thì lợinhuận của các ngân hàng càng giảm
Nguyễn Văn Thép và Liu (2020) đã cho ra bài nghiên cứu về “ Tác động của
cơ cấu sở hữu đối khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam” Ngoàiviệc phân tích các nhân tố khác, bài viết cũng chỉ ra sự ảnh hưởng của chi phí hoạtđộng tới khả năng sinh lời Mặc dù chi phí khi trả cho nhân viên giúp cho họ có thểtạo ra lợi nhuận cao hơn nhưng khi tỉ lệ CIR tăng lên 1% thì mức sinh lời của cácngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2010-2017 này vẫn giảm ở mức 0,03%, chothấy sự ảnh hưởng không tốt của chỉ số này
13
Trang 23Phan Thị Xuân (2017) với bài nghiên cứu của mình tại các NHTM Nhà nước ởtỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu lại cho rằng việc trả lương, thưởng hấp dẫn dành cho cácnhân viên sẽ thu hút được lượng những người lao động có trình độ cao sẽ mang lạilợi ích nhờ năng suất làm việc cao Điều đó sẽ giúp đẩy được lợi nhuận cho cácNHTM.
Tỉ lệ dư nợ tín dụng trên vốn huy động (LDR)
Đối với các ngân hàng thương mại, hoạt động chính đem lại lợi nhuận làviệc cấp tín dụng từ nguồn huy động tiền gửi từ nền kinh tế Tỉ lệ LDR là một chỉtiêu đại diện cho tính thanh khoản của ngân hàng và là một nhân tố quan trọng tácđộng đến khả năng sinh lời của ngân hàng Tỉ lệ LDR được tính theo công thức:LDR = Tổng dư nợ tín dụng/ Tổng tiền gửi
Mục tiêu của các ngân hàng thương mại là có thể tạo ra được một tỉ lệ LDRhợp lý Nếu như tỉ lệ LDR là quá thấp, nghĩa là khả năng cấp tín dụng của ngân hàng
so với nguồn vốn ngân hàng huy động không cao thì bản thân ngân hàng sẽ khôngthể tối đa hóa được lợi nhuận từ phần nguồn vốn họ có Ngược lại, nếu một tỉ lệLDR quá cao thì ngân hàng sẽ gặp rủi ro về tính thanh khoản khi những người đi vaykhông trả được nợ dẫn đến ngân hàng sẽ gặp rủi ro khi khách hàng rút tiền gửi củahọ
Nghiên cứu của Rengasamy (2014) phân tích chủ yếu tác động của nhân tốLDR tới khả năng sinh lời của 8 ngân hàng tại Malaysia trong giai đoạn từ 2009-
2013 Bài viết sử dụng biến LDR là biến độc lập và biến ROA làm biến phụ thuộccùng với sử dụng phân tích mô hình hồi quy, kiểm định T để mô tả sự tương quan.Kết quả chỉ ra trong số 8 ngân hàng thì LDR tại 5 ngân hàng tại Malaysia có mốitương quan tích cực nhưng không đáng kể với tỉ lệ ROA Trong khi, một ngân hànglại có kết quả là tỷ lệ LDR có tác động tiêu cực nhưng không đáng kể đối với ROA,
và LDR của 1 ngân hàng có tác động tích cực và đáng kể tới khả năng sinh lời
Bài viết với chủ đề “ Tác động của rủi ro ngân hàng về phát triển ngân hàng tạiIndonesia” của Karamoy và Tulung (2020) cũng đã nêu ra tác động của LDR tới khảnăng sinh lời của 26 ngân hàng Indonesia trong các năm từ 2013 cho đến năm 2015.Bên cạnh các nhân tố khác, LDR cũng được chọn làm biến độc lập để nêu ra sự ảnhhưởng tới tỷ lệ ROA Các tác giả đã đặt giả thuyết rằng LDR sẽ có mối tương quan
Trang 24tích cực tới khả năng sinh lời Tuy nhiên qua phân tích mô hình hồi quy, kết quả lạichỉ ra LDR có ảnh hưởng tiêu cực tới ROA, và giá trị LDR càng cao thì khả năngsinh lời của các ngân hàng Indonesia lại càng thấp Từ đó, tác giả đưa ra khuyếnnghị rằng các ngân hàng tại Indonesia nên giảm thiểu tỉ lệ LDR nhằm nâng cao lợinhuận.
Rủi ro tín dụng
Trong ngân hàng, hoạt động chủ yếu đem lại doanh thu chính là từ hoạt độngtín dụng Tuy nhiên, đây là một hoạt động mà chứa đựng nhiều rủi ro và liên quantới nhiều thành phần trong nền kinh tế Đại lượng mà đại diện cho rủi ro tín dụng củangân hàng là tỷ lệ nợ xấu Theo thông tư 02 của Ngân hàng Nhà nước, việc phân loại
nợ được chia ra làm 5 nhóm:
+ Nợ nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn ( là các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày)
+ Nợ nhóm 2: Nợ cần chú ý ( là các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến dưới 30ngày)
+ Nợ nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn ( là các khoản nợ quá hạn từ 30 ngày đếndưới 90 ngày)
+ Nợ nhóm 4: Nợ nghi ngờ mất vốn ( là các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đếndưới 180 ngày)
+ Nợ nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn ( là các khoản nợ quá hạn trên 180ngày)
Trong đó, nợ xấu là các khoản nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năngmất vốn ( là các nhóm 3,4,5)
Nghiên cứu của Afriyie và Akotey (2012) về các ngân hàng nông thôn tạiGhana trong giai đoạn 2006-2010 đã cho ra một kết quả bất ngờ Kết quả cho thấy, tỉ
lệ nợ xấu của các ngân hàng có một mối quan hệ cùng chiều và có một sự liên kếtmạnh mẽ đối với khả năng sinh lời Nhóm tác giả nhận xét rằng tỷ lệ nợ xấu và lợinhuận tăng lên tương ứng dù cho còn những khoản nợ lớn chưa được trả Điều nàyminh chứng cho việc các ngân hàng không có các biện pháp đủ mạnh để quản lý rủi
ro tín dụng Các ngân hàng tại Ghana chỉ làm đó chính là chuyển những khoản vaysang một dạng khoản vay khác với một mức lãi suất cao hơn Điều này sẽ làm chonhững người muốn đi vay khác không thể tiếp cận được khoản nguồn vốn tại ngân
15
Trang 25hàng, và ngăn cản việc thúc đẩy phát triển kinh doanh và công nghiệp hóa nông thôntại Ghana.
Sự ảnh hưởng của yếu tố nợ xấu tới lợi nhuận của ngân hàng thương mại tạiViệt Nam trong thời kì 2008-2017 được tác giả Đỗ Hoài Linh và cộng sự (2020)nghiên cứu trong bài viết của mình Sau khi sử dụng mô hình hồi quy với biến NPL
là biến độc lập để giải thích cho biến phụ thuộc là ROA đại diện cho khả năng sinhlời, nhóm tác giả cho thấy nợ xấu có tác động tiêu cực tới ROA Theo nhóm tác giả,cuộc khủng hoảng tài chính trong năm 2007-2009 đã khiến cho tỷ lệ nợ xấu tăng lên,khiến các ngân hàng cần phải gia tăng các khoản trích lập dự phòng và gặp nhiềukhó khăn cho ngân hàng trong nỗ lực phục hồi Ngoài ra, việc trả chậm nợ khiến chocác ngân hàng như Ngân hàng TMCP Nam Việt bị gia tăng nợ xấu ( từ 2.26% năm
2011 lên mức 6.68% năm 2013) khiến ngân hàng này gần như không thể có lãi trongcác năm tiếp theo Giải pháp mà nhóm tác giả đề xuất sau khi có kết quả là việc cácngân hàng cần sàng lọc và giám sát các rủi ro vỡ nợ để đạt được khả năng sinh lời tốtnhất
Tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EAR)
EAR = Tổng vốn chủ sở hữu/ Tổng tài sản
Tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản là tỉ lệ cho biết mức độ mà vốn chủ sở hữuđóng góp và tài trợ cho tài sản của ngân hàng Theo Budi và Amstrong TN (2018), tỉ
lệ vốn tự có càng cao cho thấy chủ sở hữu của ngân hàng có nhiều động lực gắn bóvới hoạt động kinh doanh của ngân hàng và ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt độngcũng như nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Cũng theo như bài nghiên cứu của Budi và cộng sự (2018) về chủ đề “ Ảnhhưởng của vốn chủ sở hữu trên tài sản, quy mô ngân hàng và tỉ lệ cho vay của ngânhàng trong hiệu quả hoạt động của ngân hàng”, tỉ lệ EAR có ảnh hưởng tích cực tớikhả năng sinh lời, điều đó cho thấy rằng vốn nội bộ là nguồn tiền cần thiết cho mọihoạt động của ngân hàng Shamki, Alulis và Sayari (2016) khi nghiên cứu về cácngân hàng thương mại tại Jordan trong giai đoạn 2005-2013 cũng chỉ ra tỉ lệ EAR cóảnh hưởng tích cực tới ROA và NIM
Rumler và Waschiczek (2012) khi nghiên cứu các ngân hàng tại Áo trong thờigian từ 1995 đến 2009 với chủ đề “ Cấu trúc tài chính của ngân hàng có ảnh hưởng
Trang 26đến lợi nhuận hay không? Bằng chứng thực nghiệm tại Áo” cho thấy một kết quảkhác về tỉ lệ EAR Tỉ lệ EAR có ảnh hưởng tích cực tới chỉ số sinh lời ROA nhưnglại có ảnh hưởng tiêu cực tới biên độ lãi ròng ( NIM).
Thanh khoản của ngân hàng
Tính thanh khoản của ngân hàng là khả năng đáp ứng tức thời nhu cầu rúttiền hay giải ngân vào các khoản cấp tín dụng của ngân hàng Rủi ro thanh khoảncủa ngân hàng phát sinh khi ngân hàng không thể đáp ứng được các khoản nợ phảitra khi phát sinh hay không thể tăng lượng tiền gửi huy động
Bài nghiên cứu của Sahyouni và Wang (2018) dựa trên dữ liệu của gần 5000ngân hàng thuộc nhóm 11 quốc gia phát triển và mới nổi giai đoạn 2011-2015 Bàiviết nhắc đến chi tiết về việc các ngân hàng tạo ra thanh khoản và lượng thanh khoản
mà ngân hàng tạo ra Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở các nước mới nổi, tỉ lệ tạo rathanh khoản chia cho tổng tài sản có tương quan nghịch đáng kể so với ROA và đingược lại với giả thuyết ban đầu của tác giả Mức độ rủi ro kém thanh khoản cao hơn
do tính thanh khoản sẽ làm tăng khả năng phá sản, do đó làm giảm khả năng sinh lờicủa ngân hàng Trong khi đó, việc tạo tính thanh khoản ở các nước phát triển lạikhông có ảnh hưởng tới khả năng sinh lời
Ngược lại, Charmler và cộng sự (2018) sau khi nghiên cứu về 21 ngân hàngtại Ghana giai đoạn 2007-2016 lại cho thấy sự tích cực của tính thanh khoản trongkhả năng sinh lời Bawacha và Xi (2018) cũng cho ra một kết quả tương tự khinghiên cứu về 50 ngân hàng tại châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ
Năng lực cạnh tranh của các NHTM
Bài nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong (2010) nói rằng: “ Năng lực cạnhtranh của NHTM là khả năng mà do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và pháttriển những lợi thế vốn có nhằm củng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và
có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động của bất lợi của môi trường kinhdoanh” Năng lực cạnh tranh của các NHTM có thể dựa trên những yếu tố như:nguồn nhân lực, khả năng tài chính, công nghệ, năng lực quản trị, quy mô ngân hàng
và nhiều yếu tố khác
Ths Nguyễn Văn Thụy và TS Đặng Ngọc Đại (2014) đã nghiên cứu năng lựccanh tranh của các ngân hàng với chủ đề: “Ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh đến
17
Trang 27kết quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh” Theo đó, thông qua mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), nhóm tácgiả chỉ ra rằng có 5 nhân tố ảnh hưởng tích cực và đáng kể tới kết quả kinh doanhcủa ngân hàng là: khả năng quản trị rủi ro, khả năng đổi mới và phát triển sản phẩmdịch vụ, khả năng tài chính, khả năng tổ chức và điều hành và khả năng Marketing.Trong 5 nhân tố này, khả năng quản trị rủi ro là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất tớikhả năng kinh doanh của ngân hàng
1.4.2 Các nhân tố bên ngoài ngân hàng
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa hàng năm ( Tốc độ tăng trưởng GDP)
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa thực tế hàng năm (RGDP) là thước
đo cho thấy sự thay đổi về GDP của một quốc gia trong một năm và điều điều chỉnhtheo mức lạm phát Đây là một công cụ phổ biến phản ánh sự phát triển về điều kiệnkinh tế và mức sống của một quốc gia
Mohanty và Krishnankutty (2018) khi phân tích về các nhân tố ảnh hưởng tớikhả năng sinh lời tại các ngân hàng Ản Độ chỉ ra mối quan hệ tiêu cực của tốc độtăng trưởng GDP tới ROA Khi nền kinh tế trong giai đoạn tăng trưởng, các ngânhàng thường có xu hướng sẽ mở rộng cho vay, việc không thể duy trì sự cảnh giáctrong công cuộc thẩm định sẽ làm tăng nợ xấu cho ngân hàng và làm suy giảm lợinhuận
Trong khi đó, các tác giả Bùi Ngọc Toàn và Đoàn Thị Thu Trang (2020) quanghiên cứu các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng tới các NHTM Việt Nam giai đoạn 2013-
2018 cho thấy khi nền kinh tế Việt Nam ngày càng tăng trưởng tốt sẽ là điều kiệnthuận lợi để các ngân hàng có thể tiếp tục gia tăng khả năng sinh lời của mình
Lạm phát
Lạm phát là hiện tượng thể hiện sự tăng lên của mức giá chung của hàng hóa
và dịch vụ trong nền kinh tế Sự tăng lên của mức giá làm giảm giá trị tiền tệ được
đo lường bằng sức mua đối nội của nó Thông thường, lạm phát sẽ được đo lườngthông qua chỉ số giá tiêu dùng CPI
Lạm phát cũng đã được đưa vào rất nhiều bài nghiên cứu để đánh giá về mức
độ tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng Nghiên cứu của Ishfaq và Khan(2015) về 26 ngân hàng tại Pakistan trong giai đoạn 2008-2012 cho thấy lạm phát cótác động tích cực tới các biến ROA và NIM Ở giai đoạn này, các ngân hàng tạiPakistan dường như đã lường trước được sự thay đổi về lạm phát và lãi suất được
Trang 28STT Tên ngân hàng
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triên Nông thôn Việt Nam ( Agribank)
Ngân hàng TNHH MTV Đại Dương (Oceanbank)
điều chỉnh để phù hợp với lợi nhuận Điều này sẽ giúp cho ngân hàng có doanh thutăng nhanh hơn so với chi phí
Tuy nhiên, nếu như lạm phát không đúng và xảy ra ngoài dự đoán của các ngânhàng thì sẽ khiến cho lãi suất các ngân hàng không được điều chỉnh một cách kịpthời Điều này sẽ dẫn đến mối quan hệ ngược chiều giữa lạm phát và lợi nhuận củangân hàng Nghiên cứu của Kanwal và Nadeem ( 2013) đã phân tích được mối quan
hệ tiêu cực của lạm phát và khả năng sinh lời Đồng thời, họ cho thấy không thể dựbáo trước được sự thay đổi về lạm phát dẫn đến những chi phí sẽ tăng nhanh hơn sovới doanh thu mà ngân hàng có được
Thị phần của các NHTM Nhà nước
Trong hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam, nhóm NHTM có lượngtổng tài sản, lượng tín dụng và lượng tiền gửi lớn nhất chính là nhóm NHTM có vốnNhà nước với bốn ngân hàng là: Agribank, Vietinbank, BIDV và Vietcombank.Trong nhiều bài nghiên cứu trước, thị phần của nhóm các ngân hàng lớn thườngđược biểu thị bằng biến CR4 để xác định sức ảnh hưởng của những ngân hàng hàngđầu tới khả năng sinh lời của toàn ngành
Bài nghiên cứu với tiêu đề “ Ảnh hưởng của thị phần đến lợi nhuận ngânhàng” của Genchev (2012) đã tìm hiểu về sự tác động nhân tố thị phần tập trung vàomột số ngân hàng lớn tại Bulgaria tới ROE của ngành trong giai đoạn 2006-2010.Kết quả cho thấy thị phần có mối quan hệ tích cực tới tỉ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sởhữu Tác giả nêu ra rằng các ngân hàng tại Bulgaria có thể mở rộng thị phần củamình để tìm kiếm lợi nhuận
Al Arif và Awwaliyah (2018) với bài viết “Thị phần, Mức độ tập trung, Tỷ lệ
và khả năng sinh lời: Bằng chứng từ ngành Ngân hàng Hồi giáo Indonesia” thì lạicho rằng thị phần và mức độ tập trung ( được đo lường bằng biến CR4) không cóảnh hưởng tới khả năng sinh lời Nhóm tác giả chỉ ra rằng với kết quả của mình thìcác ngân hàng Hồi giáo của Indonesia không có những hành vi bắt tay hay thôngđồng nhau tại đất nước này
Trong khi đó, Pahlevi và Ruslan (2019) trong bài viết “ Ảnh hưởng của cấutrúc thị trường và đặc điểm của ngành tài chính ngân hàng ở Indonesia” thì lại chorằng sự tập trung dẫn đến một thị trường độc quyền có tác động tiêu cực và làm giảm
đi khả năng của các ngân hàng trong việc thu được lợi nhuận
19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2019 2.1 Thực trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2012-2019
2.1.1 Giới thiệu về hệ thống các NHTM tại Việt Nam
Hiện nay, theo dữ liệu của Ngân hàng Nhà nước đưa ra, hệ thống các NHTMhoạt động tại Việt Nam được chia ra làm bốn nhóm là : NHTM Nhà nước, NHTM
Cổ phần, ngân hàng 100% vốn nước ngoài và ngân hàng liên doanh Trong đó, nhómNHTM Nhà nước và nhóm NHTM cổ phần chiếm nhiều nhất với 35 ngân hàng.Nhóm NHTM Nhà nước bao gồm có các ngân hàng: Agribank, GP Bank,
Oceanbank và Ngân hàng TNHH MTV Xây Dựng (VNCB) Trong nhóm 31 NHTM
cổ phần, ba ngân hàng hiện tại có vốn Nhà nước đóng góp bao gồm có: BIDV,Vietinbank, Vietcombank 28 NHTM còn lại đều là những ngân hàng có 100% vốn
cổ phần và không có sự tham gia của vốn Nhà nước
Trang 291 Ngân hàng TNHH MTV Xây dựng (VNCB)
~5 NHTM Cổ phần Công thương Việt Nam ( Viettinbank)
^6 NHTM Cổ phần Đầu tư và Phát triên Việt Nam (BIDV)
"7 NHTM Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank)
NHTM Cổ phần Á Châu (ACB)
^9 NHTM Cổ phần An Bình (ABBank)
lõ NHTM Cổ phần Bảo Việt (Baoviet bank)
H NHTM Cổ phần Bản Việt (Viet Capital Bank)
12 NHTM Cổ phần Bac Á (Bac A Bank)
13 NHTM Cổ phần Bưu điện Liên Việt ( Lienvietpostbank)
NHTM Cổ phần Đại Chúng Việt Nam (PvcomBank)
15 NHTM Cổ phần Đông Á (EAB)
16 NHTM Cổ phần Đông Nam Á (Seabank)
17 NHTM Cổ phần Hàng Hải (MSB)
18 NHTM Cổ phần Kiên Long (Kienlongbank)
19 NHTM Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank)
Trang 3020 NHTM Cổ phần Nam Á (NAM A BANK)
^21 NHTM Cổ phần Phương Đông (OCB)
^22 NHTM Cổ phần Quân Đội (MBBank)
~28 NHTM Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)
“29 NHTM Cổ phần Tiên Phong (Tpbank)
“3Õ NHTM Cổ phần Việt Á ( VietA Bank)
“31 NHTM Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank)
^32 NHTM Cổ phần Việt Nam Thương Tín (Vietbank)
“33 NHTM Cổ phần Xăng dầu Petrolimex (PGBank)
^34 NHTM Cổ phần Xuất Nhập Khẩu (Eximbank)
“35 NHTM Cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank)
20
Trang 31Bảng 2.1 : Danh sách các NHTM Việt Nam
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam )
2.1.2 Các biến số kinh tế vĩ mô giai đoạn 2012-2019 Tốc độ tăng trưởng GDP
Tăng trưởng GDP8.00%
Trang 32Lạm phát
Lạm phát10.00%
2.1.3 Quy mô hệ thống ngân hàng thương mại
Nhìn chung, tổng tài sản của tất cả 22 NHTM của bài nghiên cứu trong giaiđoạn 2012-2019 có xu hướng tăng trưởng theo từng năm Nếu trong năm 2012, tổngtài sản của cả 22 ngân hàng đạt mức 3,619,621,163 triệu đồng; thì đến năm 2019,con số này đã gấp 2.6 lần lên mức là 9,485,703,479 triệu đồng
22
10,000,000,000 9,000,000,000 8,000,000,000
Tổng tài sản
9,485,703,479 8,493,322,952
7,707,657,736
Đ ơn vị:
Tri ệu V N
Đồ thị 2.3: Tổng tài sản của 22 NHTM Việt Nam giai đoạn 2012-2019
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các BCTC của NHTM)
Tỷ trọng tổng tài sản120.00%
Trang 34Bảng 2.2: Tình hình tổng dư nợ cấp tín dụng các NHTM Việt Nam giai đoạn
2012-2019
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Dựa vào bảng số liệu 2.3, chúng ta có thể thấy tốc độ tăng trưởng về hoạt độngcấp tín dụng của toàn ngành là không đồng đều Trong giai đoạn từ năm 2013-2016,mức tăng trưởng của toàn ngành có chiều hướng đi lên, lần lượt các năm là 14.04%,14.83%, 19.66% và cao nhất là mức tăng của năm 2016 với 24.45% Tuy vậy trongcác năm sau đó, tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu dư nợ cấp tín dụng có dấu hiệuchững lại và giảm dần Cụ thể năm 2017, mức tăng chỉ là 18.75%, ít hơn 5.7% so vớinăm 2016 Đến các năm 2018 và 2019, mức tăng trưởng tín dụng giảm xuống dưới14% Theo TS Phan Thị Hoàng Yến và ThS Trần Hải Yến (2020), cuộc khủnghoảng kinh tế 2007-2008 khiến cho lượng tiền trên thị trường tài chính có nhiều daođộng, nhiều hoạt động thương mại bị đình trệ qua nhiều năm Đến năm 2014, sự tăng
24
Trang 35LTA80.00%
Trang 362.1.5 Huy động vốn
Trang 37Bảng 2.3: Tình hình huy động tiền gửi của 22 NHTM Việt Nam giai đoạn
Trang 39Dựa trên đồ thị 2.7, tỉ lệ nợ xấu của nhóm 4 NHTM có vốn Nhà nước luôn có
tỉ lệ thấp hơn so với nhóm các NHTM cổ phần Năm 2012, tỉ lệ nợ xấu trong toànngành ngân hàng ở mức cao nhất, với nhóm NHTM Nhà nước thì tỉ lệ nợ xấu trungbình là 3.2%, trong khi ở nhóm các NHTM cổ phần thì tỉ lệ này ở mức 4.25% Ở cảhai nhóm, nhìn chung tỉ lệ nợ xấu đều có xu hướng giảm theo từng năm Đến năm
2017, tỉ lệ nợ xấu ở cả 2 nhóm đều ở mức dưới 2% và đến năm 2019 thì tỉ lệ này làthấp nhất, với nhóm NHTM Nhà nước là 1.29% và nhóm các NHTM cổ phần là1.67% Điều đó cho thấy chất lượng tín dụng của các ngân hàng càng được nâng caocũng như từ sự kiểm soát chặt chẽ của chính phủ về mức tăng trưởng tín dụng Bêncạnh đó, hoạt động bán nợ xấu dành cho các tổ chức như VAMC, hay việc NHNNthực hiện đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 - 2015" cũng giúpcác ngân hàng giảm bớt rất nhiều lượng nợ xấu tồn đọng từ các năm trước
2.2 Thực trạng về khả năng sinh lời tại các NHTM Việt Nam
2.2.1 ROA
ROA1.40%
Trang 402.2.2 ROE
ROE16.00%