1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng biện pháp khái quát hóa trong dạy học chương 2, phần năm, sinh học 12 trung học phổ thông

22 814 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng biện pháp khái quát hóa trong dạy học chương 2, phần năm, sinh học 12 trung học phổ thông
Tác giả Nguyễn Thị Thuy
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Đức Thành
Trường học Trường Đại học Giáo dục
Chuyên ngành Lí luận và phương pháp giảng dạy
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 487,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát chỉ là những kết quả thí nghiệm về hiện tượng di truyền được nêu trong SGK, các em phải phân tích để tìm ra tính quy luật của hiện tượng di truyền, sau đó các em còn phải biết

Trang 1

Sử dụng biện pháp khái quát hóa trong dạy học chương 2, phần năm, sinh học 12 Trung học

phổ thông Nguyễn Thị Thuy

Trường Đại học Giáo dục Luận văn Thạc sĩ ngành: Lí luận và phương pháp giảng dạy

Mã số: 60 14 10 Người hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Đức Thành

Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Hệ thống hóa cơ sở lí luận về khái quát hóa (KQH) trong dạy học Xác định

thực trạng vận dụng KQH trong dạy học chương 2 phần di truyền học lớp 12 THPT Phân tích nội dung chương 2 làm cơ sở đề xuất biện pháp KQH trong dạy học chương

2 phần di truyền học, sinh học 12 THPT Sử dụng biện pháp KQH để hướng dẫn HS tìm ra tính quy luật của các hiện tượng di truyền, mối tương quan giữa các hiện tượng

di truyền trong chương 2 phần di truyền học sinh học 12 THPT Thực nghiệm sư phạm

nhằm kiểm tra giả thuyết khoa học đã nêu

Keywords: Phương pháp giảng dạy; Lớp 12; Sinh học

vụ quan trọng là: Đào tạo nhân lực đảm bảo yêu cầu của thời kì hội nhập, muốn vậy việc đào tạo phải bắt đầu từ bậc phổ thông Đây không phải của riêng nước ta mà đang được quan tâm

ở mọi quốc gia trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội

Ngày nay, Sinh học hiện đại không chỉ dừng lại ở các sự kiện mô tả hiện tượng, đối

tượng sống mà đang bước vào giai đoạn phát triển lí thuyết Đặc điểm của Sinh học hiện đại

Trang 2

là mức độ khái quát cao của các lí thuyết về thế giới sống Điều này buộc phải có những thay đổi cơ bản nội dung Sinh học trong chương trình phổ thông cho phù hợp với nội dung và yêu cầu của thời đại Chương trình Sinh học THPT mới do Bộ giáo dục và đào tạo ban hành tháng

11 năm 2002 đã được thiết kế theo quan điểm tiếp cận hệ thống từ Sinh học tế bào (lớp 10) lên sinh học cơ thể (lớp 11) đến sinh học cấp trên cơ thể (lớp 12) Đặc biệt chương trình sinh học lớp 12 được xây dựng với khối lượng kiến thức rất lớn thuộc ba lĩnh vực rất rộng nhưng cũng rất phức tạp: Di truyền, tiến hóa và sinh thái Trong đó, khối kiến thức về tính quy luật của hiện tượng di truyền luôn là kiến thức khó trừu tượng đối với HS mặc dù HS đã được tiếp cận từ lớp 9 Xuất phát chỉ là những kết quả thí nghiệm về hiện tượng di truyền được nêu trong SGK, các em phải phân tích để tìm ra tính quy luật của hiện tượng di truyền, sau đó các

em còn phải biết vận dụng kiến thức đã được học ở chương 1 để giải thích cơ sở tế bào học cho hiện tượng DT và rút ra dấu hiệu riêng của từng hiện tượng DT, mối quan hệ giữa các quy luật

Qua điều tra cho thấy thực tiễn dạy học sinh học hiện nay nói chung và chương 2: Tính quy luật của hiện tượng di truyền nói riêng chưa thực sự chú trọng rèn luyện kĩ năng cho

HS Phần lớn GV trong giảng dạy vẫn nặng về phương pháp “Thầy đọc – trò ghi” Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển tư duy của HS, không những thế còn ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của HS và chất lượng giáo dục nói chung

Mặt khác, với nội dung kiến của chương đòi hỏi khả năng khái quát cao ở HS Cụ thể,

từ những kết quả thí nghiệm của những hiện tượng di truyền được tiếp cận qua SGK, HS cần phân tích để tìm ra tính quy luật của hiện tượng di truyền đó, đồng thời vận dụng kiến thức đã được học để giải thích cơ sở tế bào học cho hiện tượng di truyền và rút ra dấu hiệu riêng của từng hiện tượng di truyền, mối quan hệ giữa các hiện tượng di truyền Nhưng khi GV sử dụng biện pháp KQH trong dạy học kiến thức của chương thì HS không những tích cực chủ động tìm tòi kiến thức mà còn hứng thú học tập, giờ học sôi nổi hơn các em nắm vững kiến thức hơn

Vì vậy, nếu GV lựa chọn và sử dụng biện pháp KQH thường xuyên sẽ giúp HS rèn luyện tư duy phân tích tổng hợp, từ đó HS có thể chủ động phát hiện được tính quy luật của những hiện tượng di truyền, từ đó hứng thú học tập hơn, các em sẽ nắm vững kiến thức hơn

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài:

“Sử dụng biện pháp khái quát hóa trong dạy học chương 2, phần năm, sinh học 12 trung học phổ thông”

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 3

Sử dụng hợp lí biện pháp KQH trong dạy học chương 2: Tính quy luật của các hiện tượng di truyền nhằm nâng cao chất lượng dạy học phần di truyền học, sinh học 12 THPT

3 Giả thuyết khoa học

Nếu dạy cho HS biết KQH từ các dấu hiệu thực nghiệm thì chẳng những HS tự rút ra kết luận

về tính quy luật của mỗi hiện tượng nghiên cứu mà còn nắm vững hệ thống kiến thức của cả chương

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về KQH trong dạy học

- Xác định thực trạng vận dụng KQH trong dạy học chương 2 phần di truyền học lớp 12 THPT

- Phân tích nội dung chương 2 làm cơ sở đề xuất biện pháp KQH trong dạy học chương 2 phần di truyền học, sinh học 12 THPT

- Sử dụng biện pháp KQH để hướng dẫn HS tìm ra tính quy luật của các hiện tượng DT, mối tương quan giữa các hiện tượng DT trong chương 2 phần di truyền học sinh học 12 THPT

- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thuyết khoa học đã nêu

5 Đối tượng nghiên cứu

Cách sử dụng biện pháp KQH để hướng dẫn HS hình thành kiến thức tính quy luật của các hiện tượng di truyền trong chương trình sinh học 12 THPT

6 Khách thể nghiên cứu Học sinh lớp 12 – THPT

7 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lí thuyết

Nghiên cứu tài liệu về KQH, các tài liệu về tính quy luật của các hiện tượng di truyền và các tài liệu về lí luận dạy học Sinh học là cơ sở lí luận cho đề tài

Nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo, từ đó xác định chính xác nội dung, mục tiêu, các cách giải bài tập mà học sinh cần phải nắm được khi học phần tính quy luật của các hiện tượng di truyền

- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

Nghiên cứu quá trình dạy học phần tính quy luật của các hiện tượng di truyền trong trường THPT nói chung, trường THPT Cổ Loa và trường THPT Liên Hà, Đông Anh Hà Nội nói riêng thông qua các hoạt động: giảng dạy, dự giờ, thảo luận với các đồng nghiệp và đánh giá kết quả học tập của học sinh Trên cơ sở kết quả thu được tiến hành đánh giá tình hình dạy, học đồng thời xây dựng quy trình khái quát hóa để giảng dạy phần tính quy luật của các hiện tượng DT cho học sinh THPT

8 Những đóng góp mới của đề tài

Trang 4

- Xác định được thưc trạng rèn luyện kĩ năng KQH cho HS trong dạy học Sinh học 12 – THPT

- Xây dựng được biện pháp hướng dẫn học sinh KQH kiến thức trong dạy học chương 2 tính quy luật của các hiện tượng di truyền, phần năm sinh học 12 THPT

- Thiết kế các bài soạn thể hiện biện pháp hướng dẫn học sinh KQH

- Kết quả thực nghiệm là tư liệu để đồng nghiệp tham khảo nhằm nâng cao chất lượng dạy học sinh học 12 – THPT

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Sử dụng biện pháp khái quát hóa trong dạy học chương 2, phần di truyền học, sinh học 12 trung học phổ thông

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan về quá trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Khái niệm về khái quát

1.2.1.1 Khái niệm về khái quát

Khái quát là một hình thái vận động của tư duy khoa học, thực hiện việc trừu tượng hóa, loại bỏ những mặt những thuộc tính và những đặc điểm riêng lẻ của một nhóm sự vật, hiện tượng, quá trình cùng loại đang nghiên cứu, rút ra những đặc trưng chung, bản chất của chúng và phản ánh những đặc trưng chúng ấy bằng một khái niệm, một phán đoán khoa học hoặc bằng một quy luật Đó là quá trình đi từ cái cụ thể, cảm tính đơn giản nhất đến cái lí tính, cái chung, từ một tri trức ít chung hơn đến một chi thức chung hơn Việc tách các thuộc tính chung và hình thành lớp đối tượng có liên quan đến sự trừu tượng hóa ( trong tư duy con người) khỏi tập hợp các thuộc tính khác của các sự vật có thực và liên quan đến việc đưa các

Trang 5

thuộc tính chung này thành đối tượng tư duy đặc biệt Việc tách trong tư duy một số thuộc tính của các đối tượng và trừu tượng hóa khỏi các sự vât cụ thể được gọi là trừu tượng hóa

1.2.1.2 Khái niệm về khái quát hóa

KQH là quá trình làm cho tri thức nhận thức của con người trở nên khái quát hơn, chung hơn Thao tác tư duy của con người, dùng trí óc để tập hợp nhiều đối tượng khác nhau nhưng có chung những thuộc tính, liên hệ, quan hệ chung thành một nhóm một loại Sự KQH đem lại một cái chung, nhưng nếu chỉ dựa trên những dấu hiệu chung giống nhau thì thường hay dẫn đến sai lầm Muốn vạch ra được nhưng dấu hiệu chung bản chất thì phải có sự phân tích – tổng hợp sâu sắc đối với sự vật, hiện tượng định khái quát

1.2.2 Các dạng khái quát hóa

1.2.2.1 Khái quát hóa kinh nghiệm đơn giản

KQH kinh nghiệm đơn giản được tiến hành nhờ so sánh các tính chất chung giống nhau, trong đó các hiện tượng được so sánh gặp nhau Con đường này có thể được sử dụng trên thực tế và thường được sử dụng ở giai đoạn nhận thức ban đầu, nhưng nó chưa nâng tới trình độ nhận thức lí luận Sự KQH này chỉ là sự lựa chọn từ các tính chất đã cho một cách cảm tính trực tiếp, mang tính kinh nghiệm vì thế nó không có khả năng phát minh ra một cái

gì đó từ cái đã cho Thực hiện KQH mang tính kinh nghiệm và phân loại hiện tượng Con đường KQH này dựa theo quan điểm logic hình thức, đặc điểm cơ bản của phương pháp này

là tìm kiếm cái chung mang tính hình thức Con đường từ cái riêng đến cái chung, tạo ra cái khung của quy nạp, được những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm duy cảm dựng lên, dường như ngang hàng với phương pháp cơ bản và duy nhất của KQH Trên thực tế đó chỉ là phương pháp khái quát đơn giản, cung cấp khái quát kinh nghiệm cấp thấp Thuyết KQH thông qua so sánh – trong trường hợp tốt nhất chỉ là thuyết khái quát cảm tính đơn giản, không vượt ra khỏi giới hạn của cái cảm tính và không dẫn tới các khái niệm trừu tượng, không phải là lí thuyết chung của KQH bào hàm các hình thức khoa học cấp thấp

1.2.2.2 KQH thông qua phân tích – tổng hợp và trừu tượng hóa

Đó là “KQH mà trước đó đã được nổi bật tư duy lí luận nhờ phát hiện các mối liên hệ tất yếu mang tính quy luật của hiện tượng”

Sự phân tích các tính chất bản chất từ các tính chất không bản chất, cái chung từ những cái riêng, chuyển sang cái trừu tượng Sự tổng hợp thể hiện ở việc chuyển từ nhưng cái cụ thể riêng biệt đến cái chung, khái quát trong tư duy Trong tư duy khoa học cái khái quát hướng vào phát hiện các tính chất riêng bên trong, bản chất của hiện tượng, trong sự phụ thuộc mang tính quy luật mà nó tiến hành tương ứng với chúng Như vậy KQH không phải là tách các tính chất chung nào đó mà KQH như là một hành động nhận thức thực sự và

Trang 6

có ý nghĩa khoa học KQH không phải là việc tách ra các tính chất chung bất kì mà là tìm và tách ra các tính chất bản chất của chúng nhờ phân tích và trừu tượng hóa

1.2.2.3.Khái quát hóa thông qua con đường chứng minh

Trên thực tế, KQH thông qua con đường chứng minh là diễn dịch, nếu hiểu nó như là

“Sự tách ra mang tính chứng minh một luận điểm dựa vào các luận điểm khác mà luận điểm

đó được suy ra một cách tất yếu” Sự tách ra về lí thuyết được thực hiện trong sự vận động gặp nhau từ hai phía – từ cái chung đến cái riêng và từ cái riêng đến cái chung KQH và nhận thức lí luận có liên quan tương hỗ với nhau Ở đây, cần phải phân biệt chính xác quá trình tách bằng kinh nghiệm cái chung bề ngoài và quá trình tách bằng lí luận những luận điểm nào

đó, trên cơ sở cái chung bản chất Khi đó lại xảy ra sự KQH đặc biệt nhiều trường hợp riêng

lẻ Mối liên hệ bên ngoài của các bước chuyển tiếp ngược chiều với quá trình tách cụ thể bằng

lí luận, với quá trình chứng minh, với sự suy diễn độc đáo, mà tự thân nó không loại trừ sự vận động từ cái riêng đến cái chung đồng thời trong sự vận động từ cái chung đến cái riêng Dạng khái quát này chỉ phù hợp với tư duy của các nhà nghiên cứu, không nên áp dụng với bậc THPT

1.2.3.Vai trò của khái quát hóa trong dạy học

KQH là thao tác tư duy làm rõ cái chung trong sự vật và hiện tượng đơn lẻ Trong lí luận dạy học và phương pháp dạy học: KQH là con đường cơ bản và là điều kiện bắt buộc để hình thành khái niệm Vì theo quan điểm duy vật biện chứng: Khái niệm là kết quả của quá trình KQH và trừu tượng hóa sự vật và hiện tượng Nghĩa là quá trình KQH và trừu tượng hóa dẫn đến hình thành khái niệm về sự vật hiện tượng nào đó Như vậy:

Hiện tượng (quan sát→ biểu tượng →KQH →trừu tượng hóa ) nhận thức

Nhận thức là một quá trình lịch sử, quá trình vận động từ chưa biết đến biết, từ chưa biết đầy

đủ đến biết đầy đủ và sâu sắc hơn KQH là khâu rất quan trọng trong quá trình hình thành khái niệm, hình thành quy luật Đặc biệt, với học tập đây là hoạt động nhận thức nhằm phản ánh có mục đích thế giới khách quan vào ý thức của mỗi người mà kết quả là hình thành hệ thống khái niệm về sự vật, hiện tượng, mối quan hệ nhân quả, quan hệ quy luật về quá trình từ

đó hình thành học thuyết khoa học KQH là phương tiện để giáo viên truyền thụ kiến thức mới cũng như để ôn tập, củng cố kiến thức cho HS, đồng thời KQH cũng có thể dùng để kiểm tra đánh giá trình độ nhận thức và mức độ nắm vững kiến thức của HS trong dạy học

Đặc biệt, khi dạy phần năm, chương 2: tính quy luật của hiện tượng DT trong chương trình sinh học 12 thì việc sự sử biện pháp KQH là rất cần thiết Vì nội dung kiến thức của chương trong sách giáo khoa mang tính khái quát cao, là kiến thức khó trừu tượng đối với HS, kiến thức cần hình thành cho HS là hệ thống quy luật của các hiện tượng DT có liên quan mật

Trang 7

thiết với nhau.Từ phân tích vai trò của KQH trong dạy học nói chung và trong dạy học phần năm chương 2 nói riêng cho thấy sự cần tiết phải hình thành kĩ năng KQH cho HS và sự cần thiết phải vận dụng KQH khi dạy học chương này

Tóm lại: Biện pháp KQH là : Phân tích để tìm ra các thuộc tính của mỗi sự vật, hiện tượng riêng lẻ, rồi tổng hợp lại theo từng nhóm đem so sánh, tìm ra cái chung, cái cuối cùng trừu tượng hóa khỏi sự vật hiện tượng cụ thể

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Phương pháp xác định thực trạng

Để xác định thực trạng sử dụng biện pháp khái quát hóa trong dạy học sinh học phần

di truyền học nói chung cũng như dạy học chương 2 tính quy luật của các hiện tượng di truyền nói riêng, chúng tôi đã tiến hành bằng phiếu điều tra, dự giờ và nghiên cứu tham khảo giáo án của các GV đã và đang dạy sinh học 12, trong năm học 2010 – 2011 thuộc 6 trường THPT trong huyện Đông Anh và huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội

Chỉ khi thuận lợi

Không

sử dụng

Số GV lựa chọn

1 Khái quát hóa 2/24 8,3 16/24 66,7 6/24 25

2 Trừu tượng hóa 0/24 0 0/24 0 24/24 100

3 Phân tích 10/24 41,2 14/24 58,8 0/24 0

5 Tổng hợp 4/24 16,7 20/24 83,3 0/24 0

Bảng 1.2 Kết quả điều tra mức độ sử dụng biện pháp khái quát hóa vào các khâu của quá

trình dạy học chương 2, phần di truyền học, sinh học 12 THPT

Chỉ khi thuận lợi

Không

sử dụng

Số GV lựa chọn

Tỉ lệ

%

Số GV lựa chọn

Tỉ lệ

%

Số GV lựa chọn

Tỉ lệ

%

Trang 8

Dạy bài mới 2/24 8,3 17/24 70,8 5/24 20,9 Củng cố hoàn thiện kiến thức 4/24 16,7 16/24 66,6 4/24 16,7

Kết quả trên cho thấy tỉ lệ GV sử dụng biện pháp KQH thường xuyên là rất thấp, tỉ lệ

GV thường xuyên sử dụng biện pháp KQH khi dạy bài mới rất thấp, chủ yếu GV sử dụng khi

ôn tập cuối chương, cuối kì mà cũng chỉ sử dụng khi thuận lợi.Vì vậy HS khó có thể khái quát lên mối tương quan giữa các quy luật di truyền

CHƯƠNG 2

SỬ DỤNG BIỆN PHÁP KHÁI QUÁT HÓA TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG 2, PHẦN DI TRUYỀN HỌC, SINH HỌC 12

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Mục tiêu của chương

2.1.1 Về kiến thức

- Từ sự phân tích kết quả những thí nghiệm của Menđen trên đậu Hà lan, HS giải thích được

cơ sở tế bào học của quy luật phân li và quy luật phân li độc lập Chỉ ra được ý nghĩa của quy luật phân li và quy luật phân li độc lập của Menđen

- Nêu được bản chất của các kiểu tác động của gen đối với sự hình thành tính trạng: Tương tác gen alen, tương tác gen không alen, tính đa hiệu của gen Phân tích ví dụ minh họa Từ đó khái quát được mối quan hệ giữa gen và tính trạng hay giữa KG và KH, KQH phát biểu tính quy luật của hiện tượng tương tác gen

- Từ việc phân tích những thí nghiệm của Moocgan trên ruồi giấm HS giải thích và nêu được bản chất và ý nghĩa của sự DT liên kết hoàn toàn và sự DT liên kết không hoàn toàn (hoán vị gen) Giải thích được cơ sở tế bào học của hoán vị gen từ đó KQH phát biểu được tính quy luật của hiện tượng DT liên kết gen, hoán vị gen

- Từ việc phân tích các thí nghiệm HS giải thích được cơ sở tế bào học và nêu được ý nghĩa của sự DT giới tính và liên kết với giới tính Từ đó KQH phát biểu được tính quy luật của hiện tượng DT giới tính, DT liên kết giới tính và DT ngoài nhân

- Phân tích được những ảnh hưởng của điều kiện môi trường trong và ngoài đến sự biểu hiện của gen, mối quan hệ giữa KG, môi trường và KH Phát biểu được khái niệm và đặc điểm của mức phản ứng

- Hiểu được hiện tượng biến dị là biểu hiện đồng thời với hiện tượng DT, hai thuộc tính này gắn liền với tự nhân đôi của ADN, tự nhân đôi phân li tổ hợp của NST

Trang 9

- KQH được sự vận động và tương tác của vật chất DT trong hình thành giao tử, qua thụ tinh quy định xu hướng biểu hiện tính quy luật của hiện tượng DT

2.1.2 Về kĩ năng

- Rèn luyện các kĩ năng tư duy như: Quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, KQH

- Rèn kĩ năng giải một số dạng bài tập về quy luật di truyền, biết cách xác định sự tương quan giữa các tỉ lệ KH với các tỉ lệ KG trong bài toán lai

- Rèn kĩ năng hệ thống hóa kiến thức: về mối tương quan giữa các quy luật di truyền, tương quan giữa gen và tính trạng Tập dượt được một số thao tác lai giống

2.1.3 Về thái độ

- HS được củng cố niềm tin vào khả năng của khoa học hiện đại trong việc nhận thức bản chất

và tính quy luật của các hiện tượng sinh học, trong viê giải thích sự đa dạng của sinh giới

- HS có ý thức vận dụng các tri thức kĩ năng học được vào nhận thức, giải thích các vấn đề sinh học tiếp theo trong học tập cũng như trong cuộc sống, lao động sản xuất trồng trọt chăn nuôi

- HS có ý thức tuyên truyền những hiểu biết của bản thân cho người thân và cộng đồng về các vấn đề di truyền mang tính quy luật từ đó nâng cao hiểu biết trong cộng đồng về các hiện tượng di truyền, nâng cao ý thức phòng tránh sự phát triển của các bệnh tật di truyền

- HS hình thành ý thức tự giác và thói quen bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống, có thái độ và hành vi đúng đắn đối với chính sách của Đảng và Nhà nước về dân số, sức khỏe sinh sản

- Bước đầu HS được làm quen với một số thao tác trong lai giống góp phần chuẩn bị cho HS tiếp tục theo học các ngành nghề có liên quan với khoa học tự nhiên nói chung và sinh học nói

riêng

2.2 Phân tích cấu trúc chương 2: Tính quy luật của hiện tượng di truyền

Thực chất của hiện tượng DT là truyền lại vật chất DT từ thế hệ này sang thế hệ khác Vật chất di truyền trong tế bào tồn tại trong nhân và tế bào chất Vật chất di truyền trong nhân

và ở tế bào chất được truyền lại cho thế hệ sau theo quy luật khác nhau Đầu tiên HS tiếp xúc với hiện tượng di truyền qua nhân sau đến di truyền qua tế bào chất Trong di truyền qua nhân, HS được nghiên cứu sự di truyền các tính trạng đơn gen rồi đến tính trạng đa gen, nghiên cứu sự di truyền các tính trạng do gen trên NST thường quy định đến sự di truyền các tính trạng do gen nằm trên NST giới tính quy định Trong đó đề cập sự di truyền các tính trạng do các gen nằm trên các cặp NST khác nhau quy định đến sự di truyền các tính trạng do các gen cùng nằm trên một cặp NST quy định… Trong mỗi hiện tượng di truyền, HS được nghiên cứu thí nghiệm, xác định nguyên nhân dẫn tới kết quả thí nghiệm và rút ra tính quy

luật của hiện tượng di truyền

Trang 10

Như vậy nội dung chương này xác định quân hệ giữa sự vận động của vật chất di truyềnvới xu thế biểu hiện tính trạng qua các thế hệ Tính quy luật của các hiện tượng di truyền bị chi phối bởi quy luật tất yếu trong sự vận động, trong sự tương tác lẫn nhau giữa các cấu trúc của vật chất di truyền Đó là sự tự nhân đôi của ADN, sự tự nhân đôi, sự phân li tổ hợp của NST dẫn tới sự phân li tổ hợp của các gen trên NST, sự tương tác giữa các gen alen, giữa các gen không alen với nhau và sự tương tác giữa kiểu gen với môi trường Do đó HS phải phân tích, tổng hợp, KQH mới có thể vận dụng kiến thức đã được học ở chương I làm cơ

sở để hiểu mối quan hệ nhân quả đã chi phối tính quy luật tất yếu của những hiện tượng di truyền và biến di trong chương 2

Ở cấp độ phân tử, sự vận động của ADN có liên quan chặt chẽ đối với các hiện tượng

di truyền và biến dị:

Trang 11

GenF giống P PM mARNF DM prôtêin F phát sinh Tính trạng ởF hình thái giống P

Gen P PM mARNP DM prôtêin P phát sinh Tính trạng ở P

hình thái

GenF khác P PM mARNF DM prôtêin F phát sinh Tính trạng ở F

Như vậy thông tin di truyền trên ADN được truyền chính xác qua các thế hệ nhờ khả năng tự

nhân đôi của ADN Sau đó nhờ cơ chế phiên mã dịch mã và phát sinh hình thái, thông tin di

truyền trên ADN được biểu hiện thành tính trạng đặc thù của cơ thể và mang tính di truyền

Mặt khác, gen quy định tính trạng thông qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn đều chịu chi phối

của môi trường trong và ngoài cơ thể, nếu quá trình tự nhân đôi của ADN không chính xác thì

đột biến gen sẽ xảy ra làm phát sinh hiện tượng biến dị

Xét ở cấp độ tế bào, hoạt động của gen nằm trong nhân gắn liền với sự vận động của

NST từ đó chi phối hệ thống di truyền và biến dị qua nhân:

Tự nhân đôi

Hiện tượng biến dị

Tự nhân đôi xảy ra đột biến gen

Hiện tượng DT

Ngày đăng: 09/02/2014, 15:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Kết quả điều tra mức độ sử dụng biện pháp khái quát hóa trong dạy học chương 2, - Sử dụng biện pháp khái quát hóa trong dạy học chương 2, phần năm, sinh học 12 trung học phổ thông
Bảng 1.1. Kết quả điều tra mức độ sử dụng biện pháp khái quát hóa trong dạy học chương 2, (Trang 7)
Bảng 1.2. Kết quả điều tra mức độ sử dụng biện pháp khái quát hóa vào các khâu của quá - Sử dụng biện pháp khái quát hóa trong dạy học chương 2, phần năm, sinh học 12 trung học phổ thông
Bảng 1.2. Kết quả điều tra mức độ sử dụng biện pháp khái quát hóa vào các khâu của quá (Trang 7)
Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả các bài kiểm tra trong thực nghiệm - Sử dụng biện pháp khái quát hóa trong dạy học chương 2, phần năm, sinh học 12 trung học phổ thông
Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả các bài kiểm tra trong thực nghiệm (Trang 16)
Bảng 3.2. Tần xuất cộng dồn trong thực nghiệm - Sử dụng biện pháp khái quát hóa trong dạy học chương 2, phần năm, sinh học 12 trung học phổ thông
Bảng 3.2. Tần xuất cộng dồn trong thực nghiệm (Trang 16)
Đồ thị 3.1. Đồ thị biểu diễn tần xuất cộng dồn trong thực nhiệm. - Sử dụng biện pháp khái quát hóa trong dạy học chương 2, phần năm, sinh học 12 trung học phổ thông
th ị 3.1. Đồ thị biểu diễn tần xuất cộng dồn trong thực nhiệm (Trang 17)
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả các bài kiểm tra sau thực nghiệm - Sử dụng biện pháp khái quát hóa trong dạy học chương 2, phần năm, sinh học 12 trung học phổ thông
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả các bài kiểm tra sau thực nghiệm (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w