1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kế toán định giá bán sản phẩm tại công ty cổ phần RIO book việt nam

116 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kế Toán Định Giá Bán Sản Phẩm Tại Công Ty Cổ Phần RIO Book Việt Nam
Tác giả Bùi Thị Ngọc
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Phương Dung
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc ứng dụng phương pháp kế toán quản trị hiện đại trong việc địnhgiá sản phẩm tại các doanh nghiệp xuất bản sách là một vấn đề then chốt giúpnhà quản trị kiểm soát được chi phí và đưa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-BÙI THỊ NGỌC

KẾ TOÁN ĐỊNH GIÁ BÁN SẢN PHẨM

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN RIO BOOK VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Trang 2

Hà Nội - 2021 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưađược công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác.Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng cácquy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thôngtin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tàiliệu tham khảo của luận văn

Hà Nội, tháng 11 năm 2021

Tác giả

Bùi Thị Ngọc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành suốt quá trình 2 năm học tập tại Trường Đại học Kinh tế,ĐHQGHN, trước hết Tôi xin được trân trọng cảm ơn tập thể quý Thầy/Côgiáo là giảng viên của Khoa Kế toán - Kiểm toán của Trường Đại học Kinh tế

- Đại học Quốc gia Hà Nội

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đến TS.Nguyễn Thị Phương Dung, cô đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và động viên tôitrong suốt quá trình nghiên cứu và làm Luận văn

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ lãnh đạo công ty CP RIOBook Việt Nam nơi tôi đang làm việc, đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong côngtác, trong nghiên cứu và cung cấp các thông tin cần thiết để tôi có thể hoànthành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, nhất là tập thểlớp Kế toán 1 khóa QH2019 đã động viên, khích lệ, hỗ trợ tôi trong suốt quátrình thực hiện và hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng 11 năm 2021

Tác giả

Bùi Thị Ngọc

Trang 5

MỤC LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 CPMT Chi phí mục tiêu

2 ABC Phương pháp kế toán chi phí theo hoạt

động (Activity - Based Costing)

3 ABM Quản trị dựa trên hoạt động (Activity -

Based Management )

4 DN Doanh nghiệp

5 KTQT Kế toán quản trị

6 NCTT Nhân công trực tiếp

7 NVLTT Nguyên vật liệu trực tiếp

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 1.1 Các phương pháp tiếp cận giá

2 Bảng 2.1 Kết quả thống kê bảng hỏi như sau :

3 Bảng 3.1 Tính giá thành tháng từ ngày 01/01/2021 đến 31/01/2021

4 Bảng 3.2 Sổ chi phí sản xuất, kinh doanh

5 Bảng 3.3 Sổ chi phí sản xuất, kinh doanh

6 Bảng 3.4 Phân tích biến động chi phí qua các cùng kỳ

7 Bảng 4.1 Sổ chi phí sản xuất, kinh doanh

8 Bảng 4.2 Thông tin về giá sách “Cờ đến tay phải phất”

9 Bảng 4.3 Đánh giá của khách hàng về đặc điểm dòng sảnphẩm Hashtag Inspiration

10 Bảng 4.4 Xếp hạng chi tiết về cấu tạo dòng sản phẩm

Hashtag Inspiration

11 Bảng 4.5 CPMT một đơn vị sản phẩm sách mới - Công

Ty RIO Book

12 Bảng 4.6 Chi tiết cắt giảm chi phí sản xuất

13 Bảng 4.7 Chi tiết cắt giảm chi phí bán hàng

14 Bảng 4.8 Chi tiết cắt giảm chi phí quản lý

15 Bảng 4.9 So sánh các thông tin sách cũ và sách mới

16 Bảng 4.10 Tổng hợp chi phí vận chuyển bán hàng theo mặt hàng - kênh phân phối

17 Bảng 4.11 Đánh giá chi phí vận chuyển theo phương pháphiện tại và tiêu thức phân bổ mới

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ ST

Tran g

2 Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức, quản lý Công ty 54

3 Sơ đồ 3.2 Quy trình sản xuất sách tại Công ty CP RIO

4 Sơ đồ 3.3 Quy trình tính giá thành theo phương pháp giản

đơn tại công ty CP RIO Book Việt Nam 64

DANH MỤC HÌNH ST

Tran g

1 Hình 3.1 Phần mềm kế toán Misa công ty CP RIO Book

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tự do cạnh tranh và pháttriển Để đảm bảo cho mỗi doanh nghiệp của mình tồn tại và phát triển bềnvững đòi hỏi các nhà quản trị phải đưa ra quyết định tối ưu cho mọi hoạt độngsản xuất kinh doanh của mình Trong đó, quyết định về định giá bán sản phẩm

là một trong những quyết định đầy khó khăn đối với nhà quản trị của mọi loạihình doanh nghiệp Quyết định này nếu không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến lợinhuận, ảnh hưởng tới khối lượng sản phẩm tiêu thụ và đặc biệt ảnh hưởngđến uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp trong dài hạn

Trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, mục tiêu cuối cùng

là tối đa hóa lợi nhuận, do vậy khi đưa ra quyết định về định giá bán sản phẩmphải đảm bảo nguyên tắc tối thiểu là bù đắp các khoản chi phí và thu được lợinhuận Do vậy để đưa ra giá bán vừa phù hợp với thị trường vừa có lợi nhuậncác nhà quản trị cần phải biết được mức chi phí giới hạn của các sản phẩm sảnxuất là bao nhiêu Chính vì vậy, việc vận hành hệ thống kế toán quản trị nhằmcung cấp thông tin chi phí trong việc định giá sản phẩm là vấn đề cốt lõi đểduy trì và phát triển doanh nghiệp

Tại các nước phát triển trên thế giới các doanh nghiệp đã xây dựng quytrình định giá và sử dụng hệ thống kế toán quản trị chi phí, cung cấp thông tinhữu ích trong việc định giá sản phẩm Tuy nhiên các doanh nghiệp xuất bảnsách Việt Nam hầu như mới chỉ tập trung vào kế toán tài chính để cung cấpthông tin chi phí phục vụ cho việc định giá sản phẩm Hệ thống kế toán nàykhông thể cung cấp các thông tin chi phí phù hợp, kịp thời và tin cậy cho việc

ra các quyết định về giá sản phẩm Ngoài ra, định giá bán sản phẩm trong cácdoanh nghiệp sách Việt Nam chưa có quy trình, phòng ban về định giá Vớiphương pháp kế toán truyền thống hiện tại khi doanh nghiệp tính giá thành và

Trang 10

xác định giá bán sản phẩm thì cao hơn đối thủ cạnh tranh rất nhiều Vì vậy,tính cạnh tranh giá trên thị trường thấp

Việc ứng dụng phương pháp kế toán quản trị hiện đại trong việc địnhgiá sản phẩm tại các doanh nghiệp xuất bản sách là một vấn đề then chốt giúpnhà quản trị kiểm soát được chi phí và đưa ra các quyết định về giá tính cạnhtranh hơn trên thị trường Là cơ sở để các doanh nghiệp vừa có thể đưa cácsản phẩm ra thị trường với giá bán hợp lý, vừa có nguồn ngân sách đầu tư chohoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, lựa chọn các biện phápmarketing phù hợp, từ đó tạo ra nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp Nhận thấyviệc định giá sản phẩm tại công ty cổ phần RIO Book còn nhiều bất cập Do

đó, tôi lựa chọn đề tài: “ Kế toán định giá bán sản phẩm tại công ty cổ phần

RIO Book Việt Nam”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu của đề tài:

- Nghiên cứu thực trạng định giá sản phẩm tại công ty CP RIO Book

VN, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện định giá bán sản phẩm tại công ty

3 Câu hỏi nghiên cứu

Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, luận văn trả lời các câu hỏi chính sau:Hạn chế của phương pháp truyền thống trong việc kế toán định giá bánsản phẩm như thế nào?

Trang 11

Giải pháp hoàn thiện định giá sản phẩm tại công ty cổ phần RIO Book

là gì?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Quy trình và phương pháp định giá bán sản

phẩm hiện tại của công ty cổ phần RIO Book Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Doanh nghiệp xuất bản sách RIO Book

+ Về thời gian: Số liệu của công ty CP RIO Book Việt Nam 3 năm : từnăm 2018 đến 2020

+ Về mặt nội dung, bao gồm 4 phương pháp kế toán định giá bản sảnnhư sau:

- Phương pháp định giá bán sản phẩm trên cơ sở chi phí biến đổi

- Phương pháp định giá bán sản phẩm trên cơ sở chi phí đầy đủ

- Phương pháp định giá bán sản phẩm trên cơ sở chi phí theo hoạt động

- Phương pháp định giá bán sản phẩm theo chi phí mục tiêu

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, luận văn bao gồm 4chương như sau :

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về kế toán định giá

bán sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng kế toán định giá sản phẩm tại công ty cổ phần

RIO Book Việt Nam

Chương 4: Đề xuất một số giải pháp ứng dụng các phương pháp kế

toán định giá bán sản phẩm hiện đại tại công ty cổ phần RIO Book Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN ĐỊNH GIÁ SẢN PHẨM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1 Tổng quan nghiên cứu

1.1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước

Các công trình nghiên cứu trong nước vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá bán sản phẩm ra ngoài

Đoàn Ngọc Phi Anh và cộng sự (2011) nghiên cứu các phương pháp kếtoán quản trị đang được sử dụng rộng rãi tại các doanh nghiệp Việt Nam Kếtquả cho biết phương pháp tính giá thành truyền thống như phương pháp tínhgiá thành toàn bộ chiếm tỷ trọng rất cao với tỷ lệ áp dụng 93.9%, các phươngpháp hiện đại như tính giá thành theo CPMT tỷ lệ áp dụng khá thấp

Nguyễn Thị Mai Anh (2014) điều tra về các công ty nhựa được niêm yếttrên thị trường chứng khoán ở Việt Nam đã chỉ ra rằng thông tin chi phí cung cấpcho nhu cầu ra quyết định của công ty với quyết định quan trọng nhất là để xácđịnh giá bán sản phẩm (100%), tiếp theo là chấp nhận hay từ chối một đơn hàng(66,7%) Chi phí sản xuất chung được phân bổ theo chi phí nguyên vật liệuchính là 57,14% và theo chi phí nhân công trực tiếp là 42,86%

Đào Thúy Hà (2015) trong nghiên cứu của mình về các doanh nghiệpsản xuất thép ở Việt Nam chỉ ra rằng phương pháp chi phí đầy đủ thực tế vẫnđang được áp dụng phổ biến hơn phương pháp chi phí thông thường và chiphí tiêu chuẩn Khi tính giá thành sản phẩm các doanh nghiệp sản xuất thépđều phân bổ chi phí chung theo các phương pháp phân bổ truyền thống nhưchi phí nguyên vật liệu trực tiếp, sản lượng… Nghiên cứu cũng đề xuất cácdoanh nghiệp thép sẽ áp dụng thí điểm ABC tại giai đoạn luyện thép với mụcđích là cung cấp thông tin chi phí về các hoạt động nhằm loại bỏ những hoạtđộng gây lãng phí, cải tiến quy trình, đánh giá kết quả hoạt động và trách

Trang 13

nhiệm nhà quản lý Trong nghiên cứu này cũng đã trình bày về việc sử dụngthông tin chi phí trong việc định giá sản phẩm bán ra bên ngoài Tuy nhiênnghiên cứu mới chỉ đề cập đến vấn đề này một cách khái quát, không đi sâuvào việc phân tích phương pháp định giá trên cơ sở chi phí.

Nguyễn Thị Phương Dung và Masaaki Aoki (2014) tiến hành khảo sátcác doanh nghiệp thực phẩm và đồ uống Việt Nam bằng bảng hỏi và thu được

54 bảng trả lời ( tỷ lệ trả lời 37,2%) Phương pháo tính giá thành toàn bộ làphương pháp được sử dụng rộng rãi nhất (83.3%) Các phương pháp tính giáthành hiện đại như phương pháp tính giá thành theo CPMT tỷ lệ áp dụng chỉ

là 7.4%

Hoàng Khánh Vân (2017) trong nghiên cứu của mình về vận dụngphương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá sản phẩm tại các doanhnghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam Nghiên cứu cũng đề xuấtdoanh nghiệp canhđầu tư vào hệ thống kế toán quản trị chi phí để cung cấpthông tin chi phí hữu ích cho nhà quản trị trong việc đưa ra quyết định về giábán sản phẩm, đặc biệt là khi thông tin chi phí là nhân tố có ảnh hưởng lớnnhất đến phương pháp định giá trong các doanh nghiệp chế biến thức ăn chănnuôi ở Việt Nam Bên cạnh việc sử dụng thông tin chi phí đầy đủ, cần sử dụngthông tin chi phí biến đổi khi định giá sản phẩm trên cơ sở chi phí Đề xuấtcác doanh nghiệp có hoạt động chuyển nhượng nội bộ nên sử dụng phươngpháp định giá chuyển nhượng trên cơ sở chi phí sản xuất và lợi nhuận cộngthêm, đồng thời cần tham chiếu giá chuyển nhượng nội bộ với giá thị trường

có điều chỉnh.

Nguyễn Thị Phương Dung và Nguyễn Thị Sơn Bình (2019) trong tạpchí nghiên cứu khoa học kiểm toán nêu kinh nghiệm áp dụng phương pháp kếtoán chi phí theo hoạt động tại doanh nghiệp dịch vụ tại Việt Nam Nghiêncứu đã chỉ ra rằng người đứng đầu các doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm

Trang 14

và ủng hộ ứng dụng các phương pháp quản trị chi phí đem lại hiệu quả chodoanh nghiệp, giúp nâng tầm xếp hạng của doanh nghiệp Việc tối ưu chi phíthông qua việc áp dụng phương pháp quản trị chi phí theo hoạt động (ABC vàABM) là một trong những cách làm cần được tiếp tục trao đổi, thảo luận, chia

sẻ trong cộng đồng quản trị doanh nghiệp Việt Nam

1.1.2 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài

Các công trình nghiên cứu nước ngoài vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá bán sản phẩm ra ngoài

Muc tiêu định giá

Nghiên cứu của Shipley (1981) tìm hiểu về mục tiêu định giá trong cácdoanh nghiệp sản xuất ở Anh Nghiên cứu đã gửi bảng hỏi đến các giám đốcbán hàng và tiếp thị của 728 doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằngcác mục tiêu thay đổi theo quy mô và số lượng của đối thủ cạnh tranh Cáccông ty theo đuổi nhiều mục tiêu trong định giá sản phẩm của họ Một phần

ba các công ty trong nghiên cứu không đưa ra các mục tiêu về lợi nhuận

Jobber và Hooley (1987) tìm hiểu các mục tiêu giá cả trong các công tysản xuất và dịch vụ, sự khác nhau theo thị trường, quy mô doanh nghiệp, vàcác mối quan hệ giữa các mục tiêu và việc thực hiện các mục tiêu đó Nghiêncứu đã gửi phiếu khảo sát tới 1775 doanh nghiệp ở Anh, bảng hỏi được sửdung để phỏng vấn 150 giám đốc điều hành Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằngcác mục tiêu về giá trong các công ty là thay đổi khác nhau theo từng thời kì

và quy mô của doanh nghiệp Ví dụ mục tiêu tối đa hóa doanh thu bán hàngđược tìm thấy trên các thị trường mới so với các thị trường tăng trưởng Cácdoanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa thường tối đa hóa lợi nhuận và coi đó làmục tiêu trong định giá so với các doanh nghiệp lớn

Để có thể thực hiện được các mục tiêu định giá doanh nghiệp cần cónhững chiến lược định giá phù hợp với từng mục tiêu đó Do đó mục tiêu vềgiá chính là nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược định giá

Trang 15

Chiến lược định giá

Nghiên cứu của Noble, P.M và Gruca, T.S (1999) về chiến lược giá cả

và các yếu tố của giá Nghiên cứu này được tiến hành thông qua một cuộckhảo sát với 270 nhà quản lý trong các hãng công nghiệp ở Mỹ Nghiên cứukết luận rằng các chiến lược định giá sản phẩm mới như giá lướt sóng, giáthâm nhập, giá theo đường cong kinh nghiệm đã được sử dụng trên các thịtrường mới Các chiến lược giá cả cạnh tranh như giá dẫn đầu, giá tương tự,giá thấp đã được sử dụng tại các thị trường sẵn có Chiến lược định giá phântầng, phân bậc đối với dòng sản phẩm như gói sản phẩm, sản phẩm bổ sung,

và giá trị của khách hàng được sử dụng bởi các công ty mà bán những sảnphẩm thay thế hoặc sản phẩm bổ sung Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng định giátrên cơ sở chi phí là chiến lược phổ biến nhất và được ưa thích hơn cả tại cácthị trường nơi mà nhu cầu là rất khó ước tính Nghiên cứu kết luận rằng khi có

ít hoặc không có thông tin về nhu cầu thì việc định giá trên cơ sở chi phí có ýnghĩa rất lớn

Chiến lược giá được đề xuất bởi Simmonds (1982), chiến lược định giátập trung vào định nghĩa chiến lược về giá có tính đến cả hành động, phảnứng của đối thủ cạnh tranh, độ co giãn của giá cả, sự tăng trưởng của thịtrường dự báo, và các lợi ích kinh tế theo quy mô và kinh nghiệm trong quátrình định giá (Guilding và cộng sự, 2000; Cadez và Guiding, 2008) Chiếnlược định giá đòi hỏi nhà quản lý chịu trách nhiệm thiết lập các chính sách vàthủ tục giá cả thống nhất, phù hợp với mục tiêu chiến lược của DN

Các nhân tố ảnh hưởng đến phương pháp định giá

Guilding và cộng sự (2005) thu thập dữ liệu từ một cuộc khảo sát của

280 công ty Anh và công ty Australia để tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đếntầm quan trọng của phương pháp định giá dựa trên chi phí cộng thêm Nghiêncứu đưa ra các yếu tố đó là quy mô DN, mức độ cạnh tranh và ngành nghề

Trang 16

kinh doanh sẽ ảnh hưởng đến tầm quan trọng của phương pháp định giá dựavào chi phí Nghiên cứu kết luận rằng mức độ cạnh tranh và ngành nghề kinhdoanh có ảnh hưởng đến tầm quan trọng của phương pháp định giá dựa trênchi phí cộng thêm Quy mô DN không có ảnh hưởng đến tầm quan trọng củaphương pháp định giá này.

Trong khi đó, nghiên cứu của Huda (2006) chỉ ra 7 yếu tố tác động đếntầm quan trọng của phương pháp định giá dựa trên chi phí cộng thê Đó là:chiến lược kinh doanh của DN, quy mô DN, thị phần của DN, mức độ cạnhtranh, mức độ sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng, mức độ ảnh hưởngtrong việc xác định giá bán và tầm quan trọng của thông tin chi phí

Nghiên cứu của Huda (2006) sử dụng mô hình SEM để phân tích và kếtluận rằng: Các công ty có thị phần thấp hơn chú trọng nhiều hơn đến phươngpháp định giá theo chi phí cộng thêm Những công ty có thị phần thấp hơnthường hoạt động tại thị trường nhỏ hơn, nơi mà sản phẩm có thể có xu hướngsản xuất theo yêu cầu và không được thiết lập giá

Do đó, họ có thể chú trọng nhiều hơn đến giá theo chi phí cộng thêm.Nghiên cứu chỉ ra giá theo chi phí cộng thêm quan trọng hơn với các sảnphẩm sản xuất theo yêu cầu, và không quan trọng đối với các sản phẩm tiêuchuẩn Mức độ ảnh hưởng trong việc xác định giá bán có ảnh hưởng tích cựcđến tầm quan trọng của phương pháp định giá dựa trên chi phí cộng thêm.Nghiên cứu không tìm thấy có sự ảnh hưởng nào của quy mô DN đến tầmquan trọng của phương pháp định giá dựa trên chi phí cộng thêm

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tầm quan trọng của thông tin chi phí vàchiến lược khác biệt có ảnh hưởng tích cực đến tầm quan trọng giá theo chiphí cộng thêm còn cường độ cạnh tranh có tác động tiêu cực đến tầm quantrọng của định giá theo chi phí cộng thêm

Nghiên cứu của Peter Lane, Chris Durden (2013) tìm hiểu về tầm quan

Trang 17

trọng của thông tin chi phí trong các quyết định về giá bán và tầm quan trọngcủa phương pháp định giá dựa trên chi phí trong các tổ chức du lịch ở Anh.

Dữ liệu thu thập được thông qua cuộc khảo sát trực tuyến trong các tổ chức

du lịch ở Anh Nghiên cứu cho thấy rằng chi phí vẫn là một yếu tố quan trọng

để quyết định giá của các DN du lịch Các kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằngquy mô của một DN có ảnh hưởng đến tầm quan trọng đối với các loại thôngtin giá cả Đồng thời, trong DN lớn định giá dựa trên chi phí đầy đủ cộngthêm có tầm quan trọng hơn so với các DN nhỏ Các phương pháp định giákhác không tìm thấy có một mối quan hệ đáng kể với quy mô DN

Dựa trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu và việc vận dụng lý thuyết bấtđịnh, tác giả xác định ra các nhân tố ảnh hưởng đến tầm quan trọng củaphương pháp định giá dựa vào chi phí Các nhân tố này bao gồm: Chiến lượckinh doanh của DN; Quy mô DN; Thị phần của DN; Mức độ cạnh tranh; Mức

độ đáp ứng sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng; Mức độ ảnh hưởng trongviệc xác định giá bán; và Tầm quan trọng của thông tin chi phí, cụ thể:

Thứ nhất, chiến lược kinh doanh: Porter (1985) cho rằng sự khác biệt dẫn

tới hiệu quả Trong một thị trường mà sản phẩm có sự khác biệt với các sảnphẩm cùng loại khác thì phương pháp định giá dựa trên chi phí cộng thêm sẽ trởnên quan trọng trong việc thiết lập giá bán nhằm đảm bảo doanh thu của các sảnphẩm hoặc dịch vụ có sự khác biệt sẽ cao hơn các chi phí bỏ ra để tạo ra sự khácbiệt đó Hơn nữa, nếu các sản phẩm là khác biệt so với các sản phẩm của đối thủcạnh tranh thì giá dựa trên cạnh tranh sẽ không thể cung cấp thông tin cho các

DN về phạm vi giá Do đó, khi sản phẩm có sự khác biệt cao, giá dựa trên cạnhtranh sẽ yếu Vì vậy, trong những trường hợp này, sự khác biệt về sản phẩm caothì tầm quan trọng của định giá dựa vào chi phí là cao

Thứ hai, quy mô DN: Gordon và cộng sự (1981) cho rằng, các công ty có

doanh thu và tài sản lớn có xu hướng thiết lập giá cao hơn mức giá cạnh tranh

Trang 18

trong khi các công ty có quy mô nhỏ có xu hướng định giá ở mức cạnh tranh.Guiding và cộng sự (2005) khi xét đến mối quan hệ giữa quy mô DN và định giácho rằng định giá theo chi phí chỉ phù hợp với các DN thiết lập giá, chủ yếu là

DN có quy mô lớn và sản phẩm có sự khác biệt Các DN lớn thường chi phối thịtrường, có khả năng ấn định giá cho thị trường và có khả năng sử dụng thông tinchi phí để định giá Hơn nữa, theo Guiding và cộng sự (2005), các DN lớn sẽ cónguồn lực để xây dựng hệ thống chi phí hiện đại phục vụ cho định giá dựa vàochi phí có hiệu quả Ngược lại, các DN nhỏ thường là các DN chấp nhận giá, họthường đưa ra giá bán của họ theo giá trị trường

Thứ ba, thị phần: Những công ty có thị phần thấp hơn có xu hướng hoạt

động trong những khu vực ngách nơi mà các sản phẩm có thể có xu hướng đượclàm theo yêu cầu của khách hàng Do đó, có thể tập trung nhiều hơn vào tầm quantrọng của giá dựa trên chi phí cộng thêm Gorden và cộng sự (1981) chỉ ra rằngcác công ty mong muốn thâm nhập thị trường nhằm tối đa hóa thị phần có xuhướng định giá dựa trên các yếu tố thị trường chứ không phải dựa trên chi phí

Vì vậy, các DN có thị phần thấp hơn chú trọng nhiều hơn đến tầm quantrọng của định giá dựa trên chi phí cộng thêm Như vậy, thị phần càng thấp thìtầm quan trọng của phương pháp định giá dựa trên chi phí cộng thêm càng cao

Thứ tư, mức độ cạnh tranh: Guiding (2005) lập luận rằng khi môi

trường kinh doanh cạnh tranh ngày càng tăng, thì thông tin chi phí ngày càngđóng vai trò quan trọng Chi phí cần phải được tính toán chính xác nhằm xácđịnh mức giá thấp nhất mà DN có thể chấp nhận được Giá cao so với đối thủcạnh tranh sẽ làm DN mất khả năng cạnh tranh so với đối thủ trên trị trườngkhi mà các sản phẩm không có sự khác biệt

Nếu sản phẩm của DN có tính năng mới nhằm phục vụ nhu cầu củakhách hàng và làm gia tăng giá trị cho khách hàng thì DN phải cân nhắc đếnchi phí phát sinh thêm của việc đưa thêm tính năng mới vào sản phẩm Giá cả

Trang 19

và chất lượng của các sản phẩm cạnh tranh trở nên quan trọng đối với sự tồntại của dòng sản phẩm Đó chính là lý do cho việc sử dụng phương pháp địnhgiá có gắn với các điều kiện của thị trường chiếm ưu thế hơn so sới chi phí.

Điều này đặc biệt đúng trong môi trường cạnh tranh khốc liệt nơi mànhững sản phẩm có thể phải cần cạnh tranh nhiều hơn về giá Do đó, trongcác thị trường cạnh tranh mạnh, đặc biệt khi các sản phẩm của công ty không

có gì nổi trội khác biệt so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, với mục tiêunhằm chiếm lĩnh thị trường thì thông tin của đối thủ cạnh tranh là quan trọnghơn các thông tin chi phí

Thứ năm, mức độ đáp ứng sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng:

Gordon và cộng sự (1981) cho rằng các công ty sản xuất những sản phẩmtheo yêu cầu của khách hàng dựa nhiều hơn vào phương pháp định giá dựavào chi phí cộng thêm thay vì xác định giá dựa trên các yếu tố thị trường

Drury (2004) lập luận rằng các công ty kinh doanh những sản phẩmtheo yêu cầu riêng của khách hàng sẽ buộc khách hàng của họ chấp nhận mộtmức giá mà công ty đưa ra dựa trên chi phí cộng thêm bởi trên thị trườngkhông tồn tại giá cho những sản phẩm đặc thù như vậy Guilding và cộng sự(2005) lập luận rằng các sản phẩm hoặc dịch vụ làm theo nhu cầu đặc biệt củakhách hàng sẽ dẫn đến giá cao do đó nó có thể được mong đợi là tăng tầmquan trọng của phương pháp định giá dựa trên chi phí cộng thêm Mức độ sảnphẩm theo yêu cầu của khách hàng càng cao thì tầm quan trọng của phươngpháp định giá dựa trên chi phí cộng thêm càng lớn

Thứ sáu, mức độ ảnh hưởng trong việc xác định giá bán: Trong thị

trường cạnh tranh có một số công ty lớn là những người thống trị giá (marketleaders) Nhiều công ty nhỏ trở thành người theo đuổi giá và phải chấp nhậngiá được xác định bởi thị trường Do đó, đối với những công ty chấp nhận giáthì thông tin chi phí không được sử dụng để thiết lập giá bán, thay vào đó giá

cả được thiết lập theo giá thị trường

Trang 20

Gordon và cộng sự (1981) chỉ ra rằng, những công ty theo đuổi giáquan tâm đến các điều kiện của thị trường nhiều hơn là chi phí so với nhữngcông ty thiết lập giá Guilding và cộng sự (2005) cũng cho rằng những công

ty sản xuất những sản phẩm không có sự khác biệt là những người chấp nhậngiá thì thông tin chi phí sẽ không có giá trị trong việc xác định giá bán

Thứ bảy, tầm quan trọng của thông tin chi phí: Theo Kotler (1986), chi

phí được coi là quan trọng cho việc thiết lập mặt bằng giá Công ty đặt mụctiêu tính giá bao gồm tất cả chi phí: sản xuất, phân phối, và cộng với tỷ suấtlợi nhuận hợp lý Do đó, nhà quản lý nên theo dõi chi phí một cách cẩn thận

vì nếu các chi phí này nhiều hơn chi phí của đối thủ cạnh tranh, công ty sẽ đạt

ít lợi nhuận hơn và sẽ ở thế cạnh tranh bất lợi

Blois và cộng sự (2000) cho rằng, kiến thức về chi phí là đầu vào quantrọng để định giá Gotez (1985) cho rằng, đối với những công ty mà thông tinchi phí là yếu tố chi phối trong các quyết định về giá cả thì thông tin chi phí

có tầm quan trọng đáng kể trong khi thông tin chi phí được coi là ít quantrọng đối với các công ty thiết lập giá dựa trên thị trường

Có thể cho rằng, các công ty này ra các quyết định dựa rất nhiều vào dữliệu chi phí và do đó các công ty sử dụng thông tin chi phí thay cho các thôngtin thị trường để ra các quyết định về giá Vì vậy, điều này cho thấy tầm quantrọng của phương pháp định giá dựa vào chi phí cộng thêm phụ thuộc vào cácthông tin chi phí là rất lớn

1.1.3 Xác định khoảng trống nghiên cứu

Qua nghiên cứu trong và ngoài nước tác giả nhận thấy các nghiên cứu

đi sâu nghiên cứu nội dung kế toán quản trị chi phí như đối tượng tập hợp vàphân bổ chi phí, đối tượng và phương pháp tính giá thành … Những nghiêncứu trên đã tiếp cận, đề cập đến việc vận dụng kế toán quản trị chi phí trongviệc định giá Riêng vấn đề định giá bán sản phẩm tại một DN cụ thể liênquan đến số liệu bảo mật của công ty Do vậy, tính đến thời điểm hiện tại rất

Trang 21

ít các công trình nghiên cứu kế toán định giá bán sản phẩm tại Việt Nam Tạicông ty Cổ Phần RIO Book Việt Nam này chưa có đề tài nào được thực hiện

vì vậy tôi chọn đề tài “ Kế toán định giá bán sản phẩm tại công ty cổ phần

RIO Book Việt Nam”

1.2 Cơ sở lý luận về định giá bán sản phẩm tại doanh nghiệp sản xuất

1.2.1 Các quan điểm định giá bán sản phẩm

1.2.1.1 Định giá theo quan điểm của lý thuyết kinh tế

Phần lớn lý thuyết kinh tế được dành giới thiệu cấu trúc thị trường ảnhhưởng định giá sản phẩm của doanh nghiệp Đây chính là nguyên lý cơ bản đểnghiên cứu, phát triển quan điểm định giá trong các ngành khoa học khác.Theo nguyên lý này, giá cả do thị trường quyết định, tuy nhiên thị trường chỉgiữ vai trò định giá sản phẩm khi doanh nghiệp đã đưa giá sản phẩm của mình

ra thị trường Cấu trúc thị trường ảnh hưởng đến giá cả, cũng như các chi phícần thiết tạo nên giá đó

Cạnh tranh hoàn hảo

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo có nhiều người mua và người bán,không ai trong số đó là đủ lớn để ảnh hưởng đến thị trường; một sản phẩmđồng nhất; và dễ dàng gia nhập và rút khỏi thị trường Doanh nghiệp trongmột thị trường cạnh tranh hoàn hảo không thể tính giá cao hơn giá thị trường

vì không ai sẽ mua sản phẩm của họ, và họ sẽ không đặt một mức giá thấphơn vì họ có thể bán tất cả sản phẩm có thể sản xuất theo giá thị trường Vìthế, giá sẽ được xác định bởi các lực lượng cung và cầu

Độc quyền

Công ty độc quyền ngược lại so với công ty cạnh tranh Một công tycạnh tranh không có khả năng kiểm soát giá cả, vì vậy được gọi là công tychấp nhận giá Trong thị trường độc quyền, có duy nhất một người bán sảnphẩm trên thị trường; sản phẩm là duy nhất và không có sản phẩm thay thế;

và hàng rào gia nhập thị trường là rất lớn Điều kiện này cho phép các công ty

Trang 22

độc quyền là người thiết lập giá Tuy nhiên nhà độc quyền đặt ra giá không cónghĩa là họ có thể buộc người tiêu dùng phải mua Nghĩa là nhà độc quyền chỉđặt một mức giá cao hơn một chút so với mức giá trong thị trường cạnh tranh.Trong độc quyền, không xem xét phản ứng giá từ các công ty khác.

Độc quyền nhóm trong ngành công nghiệp khi số lượng các công ty đủnhỏ để bất kỳ hành động của một công ty có thể ảnh hưởng đến điều kiện thịtrường; nơi mà nhiều công ty chấp nhận giá muốn thoát khỏi cạnh tranh bằngcách hợp tác thành Cartel: sát nhập và hành động như một nhà độc quyền.Cartel là sự sắp xếp giữa các công ty chấp nhận giá khi sản lượng đầu ra giảm

và giá thị trường tăng Theo Gabor (1988), lý do này là cứng nhắc bởi vì sựcắt giảm giá sẽ theo ngay lập tức bởi các đối thủ cạnh tranh, và thị trường sẽkhông đủ rộng để làm giá thấp một cách đáng giá Mỗi công ty trong tìnhhuống này lo sợ nếu nó tăng giá, những công ty khác không làm theo thì nó sẽmất một tỷ lệ khách hàng đáng kể Trong một bối cảnh như vậy, các công ty

có thể thông đồng tăng giá và hạn chế sản xuất như là độc quyền Tuy nhiên,

có những hạn chế pháp lý cho sự thông đồng ở hầu hết các quốc gia Các công

ty độc quyền nhóm có một số sức mạnh thị trường để định giá, nhưng nó liêntục phải nhận thức được hành động của đối thủ cạnh tranh Thông thường, cómột công ty lãnh đạo giá, đặt một mức giá mà những công ty khác làm theo.Các công ty lãnh đạo giá có thể tăng giá và xem liệu công ty khác có làmtheo Nếu họ không làm, công ty đặt giá đầu tiên - không còn là một nhà lãnhđạo, thường giảm giá ngay lập tức

1.2.1.2 Định giá theo quan điểm của marketing

Mục tiêu định giá

Diamantopoulos (1991) chỉ ra rằng mục tiêu giá cả có thể gồm cả haimục tiêu định lượng và định tính Các mục tiêu định lượng có thể đo đượcmột cách dễ dàng và bao gồm những mục tiêu có liên quan đến công ty nhưlợi nhuận, doanh thu, thị phần và bù đắp chi phí Các mục tiêu định tính có

Trang 23

liên quan như các mối quan hệ với khách hàng, đối thủ cạnh tranh, các nhàphân phối, sự tồn tại lâu dài của công ty và đạt được các mục tiêu xã hội.Theo Diamantopoulos (1991) mục tiêu định giá có thể chia thành định giátrong ngắn hạn và định giá trong dài hạn Các mục tiêu ngắn hạn là những nỗlực để đáp ứng các mục tiêu cụ thể trong một khoảng thời gian ngắn (trongvòng 1 năm), trong khi mục tiêu dài hạn chỉ có thể được thực hiện sau mộtthời gian dài (hơn 1 năm) Diamantopoulos cho rằng nếu doanh nghiệp quáchú trọng vào nhiều mục tiêu ngắn hạn thì doanh nghiệp có thể gặp các nguy

cơ trong dài hạn

Chiến lược định giá

Trong marketing, khi thiết lập giá công ty xem xét các yếu tố: chi phísản phẩm, giá của đối thủ cạnh tranh, nhận thức của người tiêu dùng Mỗi yếu

tố tương ứng với một phương pháp tiếp cận giá

Bảng 1.1 Các phương pháp tiếp cận giá

Yếu tố trong

thiết lập giá

Chi phí sản phẩm

Giá của đối thủ

Nhận thức người tiêu dùng

Nguồn: Mills và Sweeting (1988)

Mô hình dựa trên nhận thức người tiêu dùng để định giá đã được pháttriển từ giữa những năm 1970 Các công ty sử dụng phương pháp này phảitìm ra giá trị trong tâm trí của người mua ở mức giá khác nhau Nếu giá báncao hơn giá trị nhận được của người mua, doanh thu công ty sẽ bị ảnh hưởng

Qua khảo sát vận dụng các chiến lược định giá, Hinterhuber (2008) đãnhận thấy tầm quan trọng của giá trị sản phẩm dưới góc nhìn của người tiêudùng Ông cho rằng nếu bản thân một công ty không biết được giá trị sảnphẩm cung cấp cho khách hàng thì làm sao công ty có thể tính giá cho kháchhàng dựa trên giá trị này Một biểu cầu (phân tích nhu cầu của khách hàng vớicác ước tính có bao nhiêu đơn vị sản phẩm sẽ bán với giá khác nhau) cho các

Trang 24

sản phẩm là cần thiết cho cách tiếp cận giá này Các biểu cầu trở thành cơ sở

để xác định mức độ sản xuất và bán hàng sẽ có lợi nhuận cao nhất cho công

ty Giá được thiết lập để phù hợp với mức lợi nhuận cao nhất, hoặc một trongnhững mục tiêu mong muốn của công ty

Chiến lược sản phẩm mới

Chiến lược sản phẩm mới là chiến lược được áp dụng trong giai đoạnđầu chu kỳ sống của sản phẩm Đối với nhiều sản phẩm, giai đoạn này là thờiđiểm mức độ khác biệt cao Sản phẩm cung cấp tính năng độc đáo mà sảnphẩm khác chưa có Nếu các tính năng có tiện ích đáng kể cho người sử dụng,người sử dụng thường ít nhạy cảm về giá hơn các trường hợp khác Chiếnlược sản phẩm mới gồm: (1) giá hớt váng, (2) giá thâm nhập

Giá hớt váng

Giá hớt váng sữa có nghĩa là thiết lập mức giá cao hơn khi một sảnphẩm được giới thiệu lần đầu tiên Nó được sử dụng một cách hiệu quả nhấtkhi sản phẩm mới, một nhóm nhỏ của người tiêu dùng đánh giá cao, và cáccông ty được hưởng lợi thế độc quyền Các công ty lựa chọn chính sách hớtváng sữa hy vọng sẽ bù đắp các chi phí nghiên cứu và phát triển thông qua giában đầu cao

Giá thâm nhập

Phillip Kotler (2000) giá thâm nhập là giá cả của một sản phẩm mới vớigiá ban đầu thấp, thậm chí thấp hơn so với chi phí để xây dựng thị phần Điềunày rất hữu ích khi các sản phẩm là mới và khách hàng có sự không chắc chắnlớn về giá trị của nó Giá thâm nhập thường được gắn liền với việc xây dựngcông suất nhà máy cao để sản xuất một số lượng lớn, như vậy tiền bị mấttrong vài năm đầu tiên nhưng được tạo thành sau khi tạo vị trí thống trị và chiphí đơn vị được hạ xuống

1.2.1.3 Định giá theo quan điểm của kế toán

Trang 25

Atkinson và cộng sự (2007) có quan điểm các nhà quản lý sử dụngthông tin về chi phí để trợ giúp trong việc định giá Thông tin về chi phí làthông tin quan trọng giúp các nhà quản trị định giá và ra các quyết định cơ cấusản phẩm Cách thức nhà quản trị sử dụng thông tin về chi phí trong việc đưa racác quyết định này phụ thuộc vào các doanh nghiệp lớn hay nhỏ Nếu là cácdoanh nghiệp có thị phần lớn và thực hiện vai trò lãnh đạo trong ngành, doanhnghiệp có thể định giá sản phẩm cho các sản phẩm của họ Các doanh nghiệpnày là những người lập giá Nếu giá được hình thành bởi một hay nhiều doanhnghiệp lớn đứng đầu một ngành sản xuất thì một doanh nghiệp nhỏ bị chi phốitheo các giá do các doanh nghiệp lớn của ngành định ra.

Sau khi định vị khả năng định giá của doanh nghiệp, nhà quản trị sẽ phảiđịnh giá bán trong ngắn và dài hạn tương ứng với khả năng chi phối giá củamình Trong ngắn hạn, các chi phí cố định bắt buộc như chi phí khấu hao, chiphí tiền lương nhân viên quản lý… là những chi phí phát sinh nhằm tạo ranhững năng lực hoạt động cơ bản nên những chi phí này gắn liền với các mụctiêu dài hạn của doanh nghiệp và ít chịu sự tác động của các quyết định ngắnhạn Vì thế chi phí cố định bắt buộc là chi phí không thích hợp đối với cácquyết định ngắn hạn Khi định giá bán sản phẩm trên cơ sở chi phí nhà quản trịthường sử dụng chi phí biến đổi mà không cần quan tâm đến khoản chi phí cốđịnh bắt buộc Ngược lại trong dài hạn,việc định giá bán cần phải dựa vào tất

cả các khoản chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí hỗ trợ bán hàng và quản lý nênchi phí đầy đủ sẽ là cơ sở quan trọng khi định giá bán

Như vậy, theo quan điểm kế toán, đối với các doanh nghiệp chấp nhậngiá sẽ định giá theo quan điểm thị trường, còn các doanh nghiệp thiết lập giá

sẽ định giá theo quan điểm chi phí Và tùy thuộc vào khung thời gian củaviệc ra quyết định, định giá theo quan điểm chi phí sẽ gồm toàn bộ chi phíhay chỉ quan tâm đến chi phí gia tăng (chi phí biến đổi)

Trang 26

Theo tác giả có nhiều phương pháp định giá sản phẩm gồm phươngpháp định giá sản phẩm trên cơ sở chi phí, định giá sản phẩm dựa trên sự cạnhtranh và định giá dựa trên nhu cầu Trong đó hầu hết các doanh nghiệp sửdụng phương pháp định sản phẩm trên cơ sở chi phí Trong khi đó mức độvận dụng các phương pháp định giá sản phẩm dựa trên cạnh tranh và dựa trênnhu cầu là ít Bởi vì hầu hết các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc xácđịnh nhu cầu khách hàng và các doanh nghiệp tin tưởng rằng phương phápđịnh giá trên cơ sở chi phí có thể bù đắp chi phí đồng thời có thể đưa ra mứcgiá cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng hiện tại đồng thời thuhút khách hàng mới Do đó định giá bán sản phẩm dựa trên cơ sở chi phí làmột trong những phương pháp quan trọng và phổ biến hiện nay Hơn thế nữa,định giá trên cơ sở chi phí được dựa trên quan điểm là chi phí là điểm khởiđầu cho việc định giá Giá bán sản phẩm của doanh nghiệp trước tiên phải bùđắp được chi phí để sau đó tạo lợi nhuận.

1.2.2 Tầm quan trọng của định giá bán sản phẩm của một doanh nghiệp

Giá bán sản phẩm, hàng hoá là nhân tố có ảnh hưởng lớn, trực tiếp tớidoanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp Nền kinh tế thị trường với các qui luậtvốn có bản chất của nó như qui luật cung- cầu, qui luật cạnh tranh, qui luậtgiá trị… đã làm cho nhiều người lầm tưởng không cần qui định giá bán chosản phẩm Bởi họ quan niệm rằng đó là do thị trường tự điều tiết bởi cung-cầu, do sự thoả thuận giữa người mua và người bán Điều đó mới chỉ đúngphần nào Với các doanh nghiệp nếu chỉ mặc thác cho quan niệm đó thì khó

có thể tồn tại được nói gì tới nhu cầu phát triển để mà cạnh tranh, đứng vữngtrong thương trường Thực tế, có thể có nhiều doanh nghiệp không cần quantâm nhiều tới giá bán sản phẩm bởi sản phẩm của doanh nghiệp đó được sảnxuất ra để cạnh tranh trên thị trường với mức giá bán có sẵn Họ chỉ cần quan

Trang 27

tâm tới khối lượng sản xuất ra là bao nhiêu: nhiều hay ít Nhưng ngay cả trongtrường hợp này, nếu không có chính sách định giá bán cho sản phẩm thì khôngthể nào đạt được mục đích cuối cùng của sản xuất là đạt lợi nhuận tối đa.

Quan điểm định giá bán sản phẩm thông thường xuất phát từ yêu cầutrang trải bù đắp chi phí có liên quan tới khối lượng sản phẩm hàng hoá tiêuthụ và đảm bảo có lãi Nói cách khác, các phương pháp định giá bán sảnphẩm thông thường được dựa vào giá thành sản phẩm (trị giá vốn) của sảnphẩm, hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ để cộng thêm một phần chi phí theo mức độ,

tỷ lệ nhất định so với giá thành sản xuất hay trị giá vốn sản phẩm, hàng hoá,dịch vụ tiêu thụ để tính giá

Xét về bản chất định giá bán cho sản phẩm là công tác xác định giá báncho sản phẩm dựa trên các yếu tố như chi phí, pháp luật, mục tiêu kinh doanhcủa doanh nghiệp, đảm bảo mức lợi nhuận

Ý nghĩa của định giá bán sản phẩm trong quản trị doanh nghiệp:

Định giá bán sản phẩm có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp Do vậy các nhà quản trị doanh nghiệp thường coi đây lànhiệm vụ quan trọng, có tính sứ mệnh lịch sử ảnh hưởng đến các nhiệm vụ khác

Trước hết việc đưa ra giá bán sản phẩm tác động tới mức doanh thu vàlợi nhuận của doanh nghiệp, giá bán cao tạo ra mức lợi nhuận lớn, giá bánthấp đó là sự thiệt hại của doanh nghiệp Song giá bán lại bị giới hạn bởi cầucủa thị trường và tính cạnh tranh của sản phẩm Do vậy đưa ra giá bán cụ thểbao nhiêu, đó là câu trả lời thật khó của nhà quản trị Chính vì thế, nhà quảntrị cần xây dựng giá bán phải thật khoa học, vừa phù hợp với nhu cầu của thịtrường và đảm bảo lợi nhuận tối đa

Giá bán sản phẩm của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế có tính

Trang 28

lịch sử, song nó thể hiện trình độ tổ chức và quản lý các yếu tố sản xuất củacác nhà quản trị Do vậy để đưa ra giá bán phù hợp, yêu cầu nhà quản trị phải

am hiểu về kế toán chi phí, doanh thu và lợi nhuận, tính cạnh tranh của sảnphẩm trên thị trường, môi trường kinh doanh

Giá bán sản phẩm là thước đo thể hiện giá trị của sản phẩm, do vậy nóthường ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp trên thươngtrường Do vậy đưa ra giá bán thấp quá có thể thị trường hiểu nhầm chấtlượng sản phẩm kém, giá bán cao không phù hợp với thu nhập của kháchhàng, sản lượng tiêu thụ chậm Như vậy đưa ra giá bán phải thận trọng vừaphù hợp với mức thu nhập của khách hàng phục vụ vừa đảm bảo lợi nhuậncủa doanh nghiệp cao nhất

1.2.3 Vai trò của định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp thường là những quyết địnhchiến lược dài hạn, đôi khi là những quyết định điều chỉnh trong ngắn hạn củacác nhà quản trị Do vậy các quyết định về định giá bán sản phẩm thường phùhợp với chiến lược chung của doanh nghiệp và thể hiện tính linh hoạt, thay đổicủa thị trường Do vậy định giá bán sản phẩm có những vai trò quan trọng sau:

Định giá bán sản phẩm quyết định tới doanh thu và lợi nhuận củadoanh nghiệp Sự hình thành các mức giá bán trên thị trường được xuất phát

từ những cơ sở khoa học khác nhau, nhưng đều phải tuân thủ theo nhữngnguyên tắc quan trọng đó là bù đắp được chi phí và tạo ra lợi nhuận để doanhnghiệp có điều kiện thực hiện quá trình tái sản xuất giản đơn và mở rộng

Định giá bán sản phẩm là nhiệm vụ quan trọng của các nhà quản trịtrong hoạt động kinh doanh Định giá bán sản phẩm là một bộ phận quantrọng của Marketing trong doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu của thịtrường Định giá bán sản phẩm còn thể hiện những thành công của các nhàquản trị nhằm giữ vững thị trường và tạo ra lợi nhuận Nếu chỉ có sản xuất tốt

Trang 29

mà khâu bán hàng yếu kém thì nhà quản trị không thành công trong conđường kinh doanh Do vậy sản xuất và tiêu thụ là 2 khâu quan trọng có mốiquan hệ mật thiết với nhau tạo ra sự thành công của các nhà quản trị trênthương trường

Định giá bán sản phẩm là một trong những công việc quan trọng nhất

để thành công trên thương trường Giá bán sản phẩm là một phạm trù kinh tếtổng hợp bởi nhiều yếu tố trong doanh nghiệp Nó vừa thể hiện mặt chất vàmặt lượng, những yếu tố định tính và định lượng như chất lượng của sảnphẩm, số lượng sản phẩm tung ra thị trường, tính cạnh tranh của sản phẩm, uytín và thương hiệu của doanh nghiệp Định giá bán sản phẩm ở mức nào màthị trường chấp nhận, giúp cho doanh nghiệp nhận biết được các cơ hội kinhdoanh trong hiện tại và tương lai Từ đó doanh nghiệp thấy được khả năng vàtriển vọng của mình trên thương trường

1.2.4 Các phương pháp kế toán định giá bán sản phẩm tại doanh nghiệp sản xuất

Định giá sản phẩm trên cơ sở chi phí (cost based pricing)

Định giá sản phẩm là một trong những quyết định quan trọng và phứctạp nhất mà nhà quản trị phải thực hiện Để xác định mức giá bán hiệu quả,nhà quản trị phải thực hiện quy trình các bước từ mục tiêu, chiến lược địnhgiá, phân tích các yếu tố chi phí đến xác định mức giá, tính toán so sánh đểđưa ra mức giá tối ưu và xây dựng cơ cấu giá bán cuối cùng

Có nhiều phương pháp định giá sản phẩm gồm phương pháp định giásản phẩm trên cơ sở chi phí, định giá sản phẩm dựa trên sự cạnh tranh và địnhgiá dựa trên nhu cầu Trong đó hầu hết các doanh nghiệp sử dụng phươngpháp định sản phẩm trên cơ sở chi phí Trong khi đó mức độ vận dụng các

Trang 30

phương pháp định giá sản phẩm dựa trên cạnh tranh và dựa trên nhu cầu là ít.Bởi vì hầu hết các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc xác định nhu cầukhách hàng và các doanh nghiệp tin tưởng rằng phương pháp định giá trên cơ

sở chi phí có thể bù đắp chi phí đồng thời có thể đưa ra mức giá cạnh tranhnhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng hiện tại đồng thời thu hút khách hàngmới Do đó định giá bán sản phẩm dựa trên cơ sở chi phí là một trong nhữngphương pháp quan trọng và phổ biến hiện nay Hơn thế nữa, định giá trên cơ

sở chi phí được dựa trên quan điểm là chi phí là điểm khởi đầu cho việc địnhgiá Giá bán sản phẩm của doanh nghiệp trước tiên phải bù đắp được chi phí

để sau đó tạo lợi nhuận

Định giá bán sản phẩm quyết định tới doanh thu và lợi nhuận củadoanh nghiệp Sự hình thành các mức giá bán trên thị trường được xuất phát

từ những cơ sở khoa khác nhau, nhưng đều phải tuân thủ theo những nguyêntắc quan trọng đó là bù đắp được chi phí và tạo lợi nhuận để doanh nghiệp cóđiều kiện thực hiện quá trình tái sản xuất giản đơn và mở rộng

Theo Bruegelmann, T M và cộng sự (1985) thông tin chi phí đượccung cấp bởi kế toán quản trị chi phí cho các quyết định về giá gọi là định giátrên cơ sở chi phí Phương pháp này sử dụng chi phí của sản phẩm để hìnhthành các cơ sở mà từ đó một mức giá có thể được thiết lập Phần cộng thêmđược tính toán không chỉ bao gồm các chi phí của sản phẩm mà còn cung cấpmột mức lợi nhuận

Theo Hansen và Mowen (2006), cầu là một mặt của phương trình địnhgiá, cung là mặt còn lại Doanh thu phải đủ bù đắp chi phí để tạo lợi nhuậnnên nhiều doanh nghiệp bắt đầu từ chi phí để định giá Nghĩa là, tính toán chiphí sản phẩm và thêm phần lợi nhuận mong muốn Thông thường, dựa trênchi phí cơ bản và phần cộng thêm

Trang 31

Cùng quan điểm, theo Garison (1991) định giá trên cơ sở chi phíthường áp dụng khi nhà quản lý muốn xác định giá bán sản phẩm Cách tínhnày là tính chi phí nền và sau đó cộng thêm một số tiền cộng thêm dự tính.Tính linh hoạt của mô hình định giá tùy thuộc vào cơ cấu chi phí trongphương pháp thiết kế chi phí nền và phần tiền cộng thêm Chúng ta có thểkhảo sát tính linh hoạt qua các phương pháp định giá bán sản phẩm trên cơ sởchi phí đầy đủ và trên cơ sở chi phí biến đổi.

Theo tác giả, quan điểm chính là phải nhận thức được giá bán phải luônluôn đủ để bù đắp tất cả các chi phí sản xuất, quản lý và lưu thông, gồm cảbiến phí và định phí, cũng như cung cấp một sự hoàn vốn hợp lý cho vốn đầu

tư của cổ đông, nếu một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển

Giá theo chi phí cộng thêm được tính theo công thức:

Giá bán = Chi phí nền + Phần tiền cộng thêm

Phần tiền cộng thêm = Tỷ lệ cộng thêm * Chi phí nền

(Nguồn: tác giả tổng hợp)

Chi phí nền để thiết lập giá bán khác nhau tùy thuộc vào phương phápxác định chi phí được sử dụng Chi phí nền có thể là tổng chi phí, chi phí sảnxuất hay chi phí biến đổi

Tỷ lệ cộng thêm khác nhau cho các sản phẩm khác nhau phụ thuộc vàomôi trường, vị thế cạnh tranh và cầu sản phẩm

Theo Anthony và Govindarajan (2006), phần cộng thêm được tính toándựa theo hai yếu tố: cơ sở để xác định phần cộng thêm và mức độ lợi nhuậnmong muốn của doanh nghiệp Cùng quan điểm trên, theo Drury (2004), phần

Trang 32

cộng thêm cũng được tính theo vốn đầu tư cho sản xuất và sau đó thiết lập giáđảm bảo tỷ lệ hoàn vốn đầu tư Hansen và Mowen (2006), phần cộng thêmđược tính dựa vào tỷ lệ phần trăm trên chi phí nền, nó bao gồm mức lợi nhuậnmong muốn và những chi phí không bao gồm trong chi phí nền Sự lựa chọnchi phí nền và phần cộng thêm thường dựa trên sự thuận lợi trong từng trườnghợp cụ thể.

Phần cộng thêm chỉ là hướng dẫn để tính toán, mà không có nguyên tắctuyệt đối Hansen và Mowen (2006) cho rằng, sau khi tính toán giá trên cơ sởchi phí, doanh nghiệp nên điều chỉnh giá theo thị trường và các nhân tố khác

Drury (2004) có cùng quan điểm với Hansen và Mowen (2006) khi đãxác định được giá bán, giá ít khi không có sự thay đổi Giá được điều chỉnhtăng hoặc giảm phụ thuộc vào các nhân tố như công suất tương lai, xu hướngcạnh tranh từ các công ty khác và sự hiểu biết về thị trường của nhà quản lý

Theo tác giả, chi phí nền phụ thuộc vào phương pháp xác định chi phíđược sử dụng và tỷ lệ phần tiền cộng thêm dựa trên chi phí nền Tỷ lệ cộngthêm có thể xây dựng cho từng sản phẩm, cho nhóm sản phẩm hoặc toàndoanh nghiệp, và nó có thể được xây dựng bằng phương pháp thống kê kinhnghiệm hay bằng phương pháp phân tích kinh tế kỹ thuật từ phần trăm chi phíhoặc vốn đầu tư

1.2.4.1 Phương pháp kế toán định giá sản phẩm trên cơ sở chi phí biến đổi

(Variable Cost-Plus Pricing )

Sử dụng chi phí biến đổi trong việc định giá sản phẩm, các yếu tố chiphí trong chi phí nền được tính bằng chi phí biến đổi mà không tính đến chiphí cố định

Trang 33

Garrison (1991) tính chi phí nền gồm toàn bộ chi phí biến đổi bao gồm

cả biến đổi sản xuất và biến đổi bán hàng, quản lý doanh nghiệp Không cómột yếu tố nào của chi phí cố định được tính vào chi phí nền nên số tiền cộngthêm phải đủ bù đắp chi phí cố định cũng như tạo một lợi nhuận dự tính

Ngoài ra, chi phí nền cũng có thể chỉ gồm chi phí sản xuất biến đổi, nêntoàn bộ chi phí cố định và chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp biến đổiđược tính vào phần cộng thêm để giá được xác định bù đắp toàn bộ chi phí vàtạo lợi nhuận

Như vậy theo tác giả, có thể lựa chọn chi phí nền gồm biến đổi sản xuấthoặc gồm cả biến đổi sản xuất và biến đổi bán hàng, quản lý doanh nghiệp

Chi phí nền là toàn bộ chi phí biến đổi:

Giá bán = Chi phí biến đổi + Tỷ lệ cộng thêm * Chi phí biến đổi

Chi phí nền là chi phí biến đổi sản xuất:

Giá bán = Chi phí biến đổi sx + Tỷ lệ cộng thêm * Chi phí biến đổi sản xuất

(Nguồn: tác giả tổng hợp) 1.2.4.2 Phương pháp kế toán định giá sản phẩm trên cơ sở chi phí đầy đủ

Garrison (1991) nhấn mạnh rằng, theo cách tính đầy đủ thì chi phí nềnđược xác định là chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Chi phí bánhàng và quản lý không bao gồm trong chi phí nền mà chúng được tính trongphần tiền cộng thêm Khi đó, phần tiền cộng thêm phải đủ lớn để bao gồmđược các chi phí này và tạo ra cho công ty một số dư lợi nhuận vừa ý

Trang 34

Quan điểm Drury (2004), chi phí nền có thể là toàn bộ chi phí, bao gồm

cả chi phí sản xuất, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp Khi đó, phầncộng thêm được tính toán chỉ để cung cấp một mức lợi nhuận được chấpnhận

Theo tác giả, phương pháp định giá trên cơ sở chi phí đầy đủ thì chi phínền được xác định là chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hoặc toàn bộchi phí của một đơn vị sản phẩm

Chi phí nền là chi phí sản xuất: Giá bán = Chi phí sản xuất + Tỷ lệ cộngthêm * Chi phí sản xuất

Chi phí nền là toàn bộ chi phí: Giá bán = Chi phí + Tỷ lệ cộng thêm *Chi phí

Trang 35

dường như biến đổi hoặc bán biến đổi Ngoài ra, phương pháp ABC nâng caocách xác định chi phí cố định cho một sản phẩm cụ thể và dẫn đến phân bổcác chi phí tốt hơn Họ kết luận: phương pháp ABC cung cấp ước tính chi phísản phẩm chính xác hơn, đó là căn cứ xác định giá trên cơ sở chi phí đầy đủ.Thực hiện phương pháp ABC, có xu hướng cung cấp thông tin cho việc sửdụng phổ biến giá trên cơ sở chi phí đầy đủ trong thực tế.

Drury (2004) cho rằng, phương pháp dựa theo hoạt động đo lường tất

cả các nguồn lực của tổ chức được yêu cầu để sản xuất sản phẩm và tính toánchi phí sản phẩm dài hạn trung bình Phương pháp này tính toán chi phí sảnphẩm dài hạn chính xác hơn phương pháp đầy đủ Vì thế, nên sử dụng chi phí

từ phương pháp ABC cho quyết định giá dài hạn và phương pháp biến đổi đểxác định chi phí gia tăng cho quyết định giá ngắn hạn

Như vậy, ABC hợp lý hóa việc phân bổ chi phí cố định cung cấp thôngtin chi phí sản phẩm chính xác hơn cho việc ra quyết định giá Sử dụng ABC,

sẽ khắc phục được những hạn chế vốn có của phương pháp định giá trên cơ sởchi phí đầy đủ

1.2.4.4 Kế toán định giá bán sản phẩm theo chi phí mục tiêu

Theo Kato (1993), phương pháp kế toán CPMT đã được sử dụng hơn

30 năm trong ngành công nghiệp Nhật Bản, nơi mà hơn 80% các công ty lớntrong ngành công nghiệp lắp ráp đã sử dụng kỹ thuật này Tuy nhiên, tươngđối ít công trình nghiên cứu về hệ thống KTQT ở Nhật Bản, và cho đếnnhững năm 1980 phương pháp này đã được áp dụng bởi các công ty lớn nhưToyota, NEC, Sony và Nissan Nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm về CPMTtrong đó tổ chức quốc tế được thành lập do một số tập đoàn công nghiệp lớn(gọi là: Consortium for Avanced Management-International -CAM-I), để phát

Trang 36

triển các phương pháp KTQT hiện đại và đưa ra khái niệm về phương phápCPMT “là tổng thể các phương pháp, công cụ quản trị cho phép đạt được mụctiêu chi phí và mục tiêu hoạt động ở giai đoạn thiết kế và kế hoạch hóa sảnphẩm mới Phương pháp cũng cho phép cung cấp một cơ sở kiểm soát ở giaiđoạn sản xuất và bảo đảm các sản phẩm này đạt được mục tiêu lợi nhuận đãđược xác định phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm” Cùng quan điểm này,theo Michiharu Sakurai (1989) nêu “phương pháp CPMT là một công cụ quảntrị chi phí nhằm cắt giảm tổng chi phí sản xuất của sản phẩm trong suốt chu

kỳ sống của nó nhờ sự hỗ trợ của các bộ phận sản xuất, chế tạo, nghiên cứuthiết kế, marketing và kế toán” và theo Takao Tanaka (1993) chorằng “phương pháp CPMT là các nỗ lực được thực hiện trong các giai đoạn kếhoạch hóa và sản xuất sản phẩm nhằm đạt được mục tiêu chi phí đã được xáclập mục tiêu là cho phép sản xuất ra các sản phẩm với mục tiêu lợi nhuậntrong suốt chu kỳ sống của sản phẩm” Theo các khái niệm này CPMT liênquan đến khả năng lợi nhuận của sản phẩm gắn với chu kỳ sống sản phẩm,một cách tiếp cận khác biệt so với các phương pháp truyền thống

Theo Robin Cooper (1992) lại đưa ra khái niệm “phương pháp CPMT

là xác định chi phí sản xuất của một sản phẩm cụ thể mà khi đem bán sẽ tạo rađược mức lợi nhuận biên mong muốn” và trong nghiên cứu của Peter Horvath(1993) phát biểu: “kế hoạch chi phí toàn diện, hoạt động quản trị chi phí vàkhái niệm kiểm soát chi phí… được sử dụng triệt để ngay từ giai đoạn đầu củaquá trình thiết kế sản phẩm nhằm tác động đến cấu trúc chi phí của sản phẩmvới những tính năng đáp ứng yêu cầu thị trường Phương pháp CPMT là mộtquá trình phối hợp của tất cả các bộ phận chức năng trong doanh nghiệphướng tới mục tiêu cắt giảm chi phí”

Tóm lại, CPMT là một kỹ thuật được sử dụng trong quá trình thiết kế

Trang 37

sản phẩm và quy trình để tính toán chi phí sản xuất, kỹ thuật hay bán hàngbằng cách lấy đi phần lợi nhuận mong muốn từ giá cả ước tính Sản phẩm sau

đó được thiết kế đề đáp ứng được chi phí mong muốn đó (Cadez, 2006) Haynói cách khác theo CIMA định nghĩa CPMT là “ước tính chi phí sản phẩm bắtnguồn từ giá thị trường cạnh tranh”

CPMT = Giá bán dự kiến - Lợi nhuận mong muốn

Sự khác biệt giữa phương pháp CPMT và phương pháp chi phí truyềnthống là việc xác lập CPMT không chỉ quan tâm đến điều kiện sản xuất màcòn chú ý đến cả lợi nhuận mục tiêu CPMT được xem là giới hạn chi phí đểđạt được hiệu quả sản xuất mong muốn Sau khi xác định được chi phí mụctiêu, nhà quản trị phải tổ chức quản trị chi phí theo từng giai đoạn của quytrình sản xuất từ khâu thiết kế đến khâu sản xuất, từ khâu kế hoạch đến khâu

tổ chức thực hiện, làm sao cho chi phí thực tế không vượt quá CPMT Điềunày đòi hỏi, các nhà quản trị phải tổ chức sản xuất và quản trị chi phí thậtnghiêm ngặt ở tất cả các giai đoạn của quy trình sản xuất, không ngừng pháthiện những chi phí không hữu ích hoặc không tương xứng với tầm quan trọngcủa sản phẩm

Nội dung phương pháp CPMT trong DN sản xuất chia thành cácbước sau:

(1) Xác định CPMT theo các bộ phận sản phẩm sản xuất Việc xác địnhchi phí cho các bộ phận này phải dựa vào mức độ quan trọng khác nhau về vaitrò của các bộ phận đối với sản phẩm Từ đó, xác định tỷ lệ chi phí của từng

bộ phận trong tổng chi phí cấu thành sản phẩm

(2) Tổ chức thực hiện các mục tiêu chi phí đã xác định quá trình thực

Trang 38

hiện những thành phần của sản phẩm có chi phí cao so với tầm quan trọng đãxác định ở bước trước Từ đó, phải có phương pháp điều chỉnh, quản lý chặtchẽ để hạ thấp chi phí sản xuất Bên cạnh đó, bước này cũng cần phát hiện cácsản phẩm có chi phí quá thấp so với tầm quan trọng của nó Việc sản xuất cácthành phần này cũng phải được điều chình cho phù hợp với tầm quan trọngcủa nó có trong sản phẩm sản xuất.

(3) Đánh giá knh phện các mục tiêu chi phí đã xác định quá trình thựchiện những thành phần của sản phẩm có chi phí cao so với tầm quan trọng đãxác định ở bước trước Từ đó, phải có phương pháp điều chỉnh, quản lý chặtchẽ để hạ thấp chi phí bước 1 và 2, phải xem xét giai đoạn thiết kế đã hợp lýchưa hoặc xem lại các bước trong giai đoạn sản xuất để giảm chi phí sản xuất

Lợi ích của hệ thống kế toán CPMT đối với quản lý

- Tối ưu hóa chi phí: Lợi ích chính của phương pháp CPMT là cho phépnhà quản lý phân tích cách tốt nhất để tạo ra hoặc mua các sản phẩm với chiphí thấp nhất Giảm thiểu chi phí là một mục tiêu tài chính chung của bất kỳ

DN nào, bất kể họ cung cấp giá cả cao, trung bình hay thấp Giảm chi phígiúp doanh nghiệp linh hoạt hơn về tài chính để tập trung vào việc đạt đượclợi nhuận cao hoặc để cung cấp ra thị trường những sản phẩm ở mức giá thấp

để thu hút một lượng khách hàng lớn

- Có hệ thống: Phương pháp CPMT là cách thức chính thức và có hệthống để tập trung vào việc tối ưu hóa chi phí hơn các phương pháp tiếp cận ítchính thức mà các nhà quản lý thường sử dụng Nó đòi hỏi nhiều thời gianhơn để thực hiện cách tiếp cận có hệ thống như thế này, nhưng kết quả thườngđược điều chỉnh tốt hơn Phương pháp CPMT bao gồm việc xem xét tất cả cácthiết bị, quy trình, lao động và hoạt động cần thiết để tạo ra hàng hóa hoặc chi

Trang 39

phí để mua hàng và sẵn sàng bán ra cho khách hàng của DN.

- Giảm chu kỳ phát triển: Một điểm nhấn mạnh trong việc giảm chi phítrong phương pháp CPMT là giảm thiểu thời gian chu kỳ sản phẩm Đây làlượng thời gian từ khi thiết kế sản phẩm đến sản phẩm sẵn sàng đưa vào thịtrường Giảm thời gian chu kỳ có nghĩa là nhà quản lý sẽ loại bỏ được sự lãngphí không cần thiết hoặc lãng phí nhiều thời gian và không làm tăng giá trịđến giai đoạn cuối cùng là khách hàng Thời gian chu kỳ ngắn hơn là một lợithế cạnh tranh tốt, vì DN có thể đưa sản phẩm ra thị trường sớm hơn, thậm chí

DN là người đầu tiên đưa ra thị trường

- Khả năng sinh lời: Nếu sử dụng phương pháp này hiệu quả, sẽ đem đến cho

DN khả năng sinh lợi lớn hơn, đề cập đến hai yếu tố trong lợi nhuận là chi phí

và giá cả Nhiều DN bắt đầu bằng cách phát triển sản phẩm và định giá cơ bảndựa trên chi phí Đầu tiên bắt đầu với giá cả thị trường, nhà quản lý giúp đảmbảo rằng DN sẽ kết thúc với một sản phẩm có lợi và giá trị của khách hàng cógiá trị Về bản chất, nhà quản lý đạt được mối quan hệ giá hợp lý với giáthành chi phí cho sản phẩm của công ty

Phương pháp kế toán CPMT hỗ trợ chiến lược DN

Đứng trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, các DN có rất nhiều cơ hộinhư giúp giảm chi phí giao dịch và quản lý, ứng dụng công nghệ hiện đại hỗ trợphát triển sản phẩm dịch vụ mới trong quản trị điều hành, hoạch định chiến lược,tăng năng suất lao động, tăng khả năng tiếp cận thông tin, dữ liệu, kết nối, hợptác; tăng cơ hội kinh doanh mới, tăng khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu vàkhu vực… Do cơ hội trong quá trình giảm chi phí, CPMT trở thành công cụchiến lược mà ban lãnh đạo công ty sử dụng trong quá trình đạt được lợi thếcạnh tranh Hơn nữa, CPMT không chỉ được coi là công cụ chiến lược cho việc

Trang 40

giảm chi phí mà còn quan trọng cho việc hoạch định lợi nhuận.

Thứ nhất, về chiến lược công nghệ: phương pháp kế toán CPMT cho

phép sử dụng công nghệ mới nhất ở giai đoạn thiết kế, giúp cho việc thiết kếtốt hơn và hiệu quả sản phẩm cao cấp trên thị trường

Thứ hai, về các quyết định sản phẩm chiến lược: Phương pháp CPMT

có thể hữu ích đối với công tác quản lý bằng cách cung cấp kiểm soát chi phí

ở tất cả các giai đoạn của chu kỳ sống của một sản phẩm như thiết kế, sảnxuất /thiết lập; dịch vụ /sửa chữa, tiêu hủy /tái chế Giá thành sản phẩm chínhxác sẽ giúp cho quản trị so sánh lợi nhuận được tạo ra từ các khách hàng khácnhau từ các sản phẩm, thương hiệu và thị trường khác nhau…để có thể đưa racác quyết định chiến lược về giá, giảm bớt các sản phẩm không có nhiều hoặckhông tạo ra lợi nhuận

Thứ ba, về quyết định chiến lược doanh thu: Các thông tin do phương

pháp CPMT cung cấp khuyến khích các nhà quản trị thiết kế các sản phẩm đểnâng cao chất lượng Việc tạo ra một sản phẩm cải tiến với chất lượng tốt hơnhình thành một chu kỳ sống mới của sản phẩm, dẫn đến khả năng tăng doanhthu, tăng thị phần của DN

Thứ tư, về chiến lược xây dựng ngân sách: phương pháp CPMT cung

cấp một phương tiện để quản lý chi phí từ giai đoạn thiết kế để tối đa hóa tiềmnăng cho việc giảm chi phí, còn là một công cụ có thể được sử dụng để kiểmsoát các quyết định như chi tiết kỹ thuật thiết kế và sản xuất

Thứ năm, CPMT là một phần của quá trình chiến lược về quản lý chiphí và quản lý lợi nhuận, việc tính toán chi phí tác động bởi cơ chế thị trường

và sức mạnh của cạnh tranh Hơn nữa, CPMT là một quá trình đòi hỏi sự

Ngày đăng: 27/03/2022, 08:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Thế Chi, 2008. Giáo trình kế toán quản trị, Hà Nội: Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kế toán quản trị
Nhà XB: Nhà xuất bản Tàichính
2. Võ Văn Nhị, 2006. Giáo trình kế toán quản trị, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kế toán quản trị
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại họcKinh tế TPHCM
3. Nguyễn Ngọc Quang, 2012. Giáo trình Kế toán quản trị, Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kế toán quản trị
Nhà XB: Nhàxuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân
4. Nguyễn Phong Nguyên, 2020. Tạp chí Kế toán & Kiểm toán số tháng 3/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kế toán & Kiểm toán
7. Guiding, C.; Dryry, C. and Tayles, M. 2005, An Empirical Investigation of the Importance of Cost-plus Pricing, Managerial Auditing Journal, vol. 20, no. 2, pp. 125- 137 Khác
8. Hinterhuber, A. 2008, Customer Valuebased Pricing Strategies: Why Companies Resist, Journal of Business Strategy, vol. 29, no. 4, pp. 41-50 Khác
9. Indounas, K. 2006, Making Effective Pricing Decisions, Business Horizons, vol. 49, pp. 415-424 Khác
10. Pomberg, M.; Pourjalali, H.; Daniel, S. & Kimbro, M.B. 2012, Management Accounting Information Systems: a Case of a Developing Country: Vietnam, Asia-Pacific Journal of Accounting & Economics, vol.19, no. 1, pp. 100-114 Khác
11. Rezaee, Z.; Szendi, J.Z.; Shum, C.; & Elmore, R.C. 1995, Trends in Management Accounting in the Asian Pacific Region, International Advances in Economic Research, vol. 1, no. 2, pp. 149-155 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w