1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo án chuyên đề ngữ văn 12 truyện hiện đại việt nam

92 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 146,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Nhà văn không chỉ gián tiếp tố cáo sự áp bức bóc lột của bọn địa chủ phongkiến miền núi mà còn nói lên một sự thật đau xót : dưới ách thống trị của cườngquyền bạo lực và thần quyền hủ

Trang 1

Lớp Ngày soạn Ngày dạy Tiết

- Kĩ năng phân tích nhân vật

- Kĩ năng phân tích tình huống, đoạn văn bản, chi tiết

- Kĩ năng phân tích chứng minh nhận định

2 Phẩm chất, năng lực:

a Phẩm chất: Sống nhân ái, bản lĩnh, trung thực, bao dung, yêu quê hương, đất nước

b Năng lực:

- Năng lực chung: tự tin, sáng tạo, tư duy tốt

- Năng lực chuyên biệt: đọc hiểu văn bản, đánh giá vấn đề, tạo lập văn bản

II Chuẩn bị:

1 Thầy: Giáo án, đề cương, phiếu học tập, giấy A0

2 Trò: Đồ dùng học tập, vở ghi, đề cương, các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà

III Tổ chức dạy và học:

1 Ổn định tổ chức lớp: kiểm tra sĩ số, trật tự, nội vụ lớp

2 Kiểm tra bài cũ

3 Ôn luyện

A KIẾN THỨC CƠ BẢN

* Tác giả:

Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại Ông

là nhà văn của sự thực đời thường với lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động, với vốn hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng miền khác nhau trên đất nước ta

Thành công nhất của Tô Hoài là những tác phẩm viết về hiện thực cuộc sống, con người vùng Tây Bắc Tiêu biểu là truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”

Trang 2

* Nội dung : Tác phẩm là một bức tranh chân thực về cuộc sống và thân phận khổ

đau của nhũng người nông dân nghèo miền núi dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, đồng thời là bài ca về phẩm chất, sức sống, khát vọng tự do của con người lao động miền núi, là hình ảnh con đường giải phóng và sự đổi đời của họ

1 Xuất xứ - Hoàn cảnh ra đời

- Vợ chồng A Phủ (1952) là một trong ba tác phẩm (Vợ chồng A Phủ, Mường Giơn

và Cứu đất cứu mường) in trong tập Truyện Tây Bắc.

- Tác phẩm là kết quả của chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc năm

1952 Đây là chuyến đi thực tế dài tám tháng sống với đồng bào các dân tộc thiểu

số từ khu du kích trên núi cao đến những bản làng mới giải phóng của nhà văn

2 Tóm tắt truyện

Tác phẩm kể về cuộc đời của đôi trai gái người Mèo là Mị và A Phủ Mị là một

cô gái trẻ, đẹp Cô bị bắt làm vợ A Sử - con trai thống lý Pá Tra để trừ một món nợtruyền kiếp của gia đình Lúc đầu, suốt mấy tháng ròng, đêm nào Mị cũng khóc,

Mị định ăn lá ngón tự tử nhưng vì thương cha nên Mị không thể chết Mị đànhsống tiếp những ngày tủi cực trong nhà thống lí Mị làm việc quần quật khổ hơntrâu ngựa và lúc nào cũng “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” Mùa xuân đến,khi nghe tiếng sáo gọi bạn tình thiết tha Mị nhớ lại mình còn trẻ, Mị muốn đi chơinhưng A Sử bắt gặp và trói đứng Mị trong buồng tối

A Phủ là một chàng trai nghèo mồ côi, khoẻ mạnh, lao động giỏi Vì đánh lại A

Sử nên bị bắt, bị đánh đập, phạt vạ rồi trở thành đầy tớ không công cho nhà thống

lí Một lần, do để hổ vồ mất một con bò khi đi chăn bò ngoài bìa rừng nên A Phủ

đã bị thống lí trói đứng ở góc nhà Lúc đầu, nhìn cảnh tượng ấy, Mị thản nhiênnhưng rồi lòng thương người cùng sự đồng cảm trỗi dậy, Mị cắt dây cởi trói cho APhủ rồi theo A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài…

3 Nhân vật Mị

3.1 Hình ảnh Mị trong đoạn văn mở đầu truyện

- Một cô gái âm thầm, lẻ loi, sống như gắn vào những vật vô tri, vô giác : “Ai ở xa

về, có việc vào nhà thống lý Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quaysợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa”

- Một cô con dâu nhà thống lý quyền thế, giàu sang “nhiều nương, nhiều bạc, nhiềuthuốc phiện” nhất làng nhưng lúc nào cũng “cúi mặt”, “buồn rười rượi”

 Hình ảnh của Mị hoàn toàn tương phản với cái gia đình mà Mị đang ở Sựtương phản ấy báo hiệu một cuộc đời không bằng phẳng, một số phận nhiều uẩnkhúc và một bi kịch của cõi nhân thế nơi miền núi cao Tây Bắc

3.2 Cuộc đời, số phận, tính cách của nhân vật Mị

a Trước hết, Mị là cô gái có ngoại hình đẹp và nhiều phẩm chất tốt, đáng lẽ có thể sống một cuộc sống hạnh phúc:

Trang 3

+ Một cô gái trẻ đẹp và có tài thổi sáo.

+ Một cô gái chăm làm, sẵn sàng lao động, không quản ngại khó khăn

+ Một cô gái yêu đời, yêu cuộc sống tự do, không ham giàu sang phú quý.+ Một người con hiếu thảo

 Có thể khẳng định, Mị là một hình tượng đẹp về người thiếu nữ Tây Bắc Ở Mị,toát lên cái đẹp vừa tự nhiên, giản dị vừa phóng khoáng, thẳm sâu như thiên nhiênnúi rừng miền Tây Tổ quốc Tuy nhiên, trái với những gì Mị đáng được hưởng, bikịch đã đến với Mị một cách phũ phàng bởi cường quyền bạo lực và thần quyền hủtục

b Cô Mị với kiếp “con dâu gạt nợ” ở nhà thống lý Pá Tra :

- “Con dâu gạt nợ” :

Bề ngoài là con dâu vì Mị là vợ A Sử, nhưng bên trong Mị chỉ là một thứ gán nợ,bắt nợ để bù đắp cho khoản tiền mà bố mẹ Mị đã vay của nhà thống lý Pá Tranhưng chưa trả được Điều đau đớn trong thân phận của Mị là ở chỗ : nếu chỉ làcon nợ thay cho bố mẹ thì Mị hoàn toàn có thể hi vọng vào một ngày nào đó sẽđược giải thoát sau khi món nợ đã được thanh toán (bằng tiền, bằng vật chất hoặccông lao động) Nhưng Mị lại là con dâu, bị cướp về và “cúng trình ma” ở nhàthống lý Linh hồn Mị đã bị con “ma” ấy “cai quản” Đến hết đời, dù món nợ đãđược trả, Mị cũng sẽ không bao giờ được giải thoát, được trở về với cuộc sống tự

do Đây chính là bi kịch trong cuộc đời Mị

- Đời “con dâu gạt nợ” của Mị ở nhà thống lý là một quãng đời thê thảm, tủi cực, sống mà như đã chết Ở đó :

+ Mị dường như đã bị tê liệt cả lòng yêu đời, yêu sống lẫn tinh thần phảnkháng

+ Mị chỉ là một công cụ lao động

+ Thân phận của Mị không bằng con trâu, con ngựa trong nhà

+ Mị âm thầm như một cái bóng

+ Mị như một tù nhân của chốn địa ngục trần gian, đã mất tri giác về cuộcsống

 Nhà văn không chỉ gián tiếp tố cáo sự áp bức bóc lột của bọn địa chủ phongkiến miền núi mà còn nói lên một sự thật đau xót : dưới ách thống trị của cườngquyền bạo lực và thần quyền hủ tục, người dân lao động miền núi Tây Bắc bị chàđạp một cách tàn nhẫn về tinh thần đến mức tê liệt cảm giác về sự sống, mất dần ýniệm về cuộc đời, từ những con người có lòng ham sống mãnh liệt trở thành nhữngngười sống mà như đã chết, tẻ nhạt và vô thức như những đồ vật trong nhà Một sựhủy diệt ý thức sống của con người thật đáng sợ !

c Sức sống tiềm tàng mãnh liệt (đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài)

- Những tác động của ngoại cảnh :

+ Trước hết là khung cảnh mùa xuân

Trang 4

+ Tiếp đó là “tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi” – tiếng sáo gọi bạn tình

“vọng” vào tâm hồn Mị “thiết tha bổi hổi”

+ Bữa cơm Tết cúng ma đón năm mới rộn rã “chiêng đánh ầm ĩ” và bữarượu tiếp ngay bữa cơm bên bếp lửa

 Những biểu hiện của ngoại cảnh ấy không thể không tác động đến Mị, nhất làtiếng sáo Bởi vì ngày trước Mị thổi sáo giỏi, bao nhiêu người mê, ngày đêm đãthổi sáo đi theo Mị Tiếng sáo gọi bạn tình, “tiếng sáo rủ bạn đi chơi” chính làtiếng ca của hạnh phúc, là biểu tượng của tình yêu đôi lứa Nó đã xuyên qua hàngrào lạnh giá bên ngoài để “vọng” vào miền sâu thẳm trong tâm hồn Mị, đánh thứccái sức sống vẫn được bảo lưu đâu đó trong cõi lòng người thiếu nữ Tây Bắc này

- Diễn biến tâm lý, hành động

+ Đầu tiên, Mị “ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi”

+ Trong không khí của một đêm tình mùa xuân, trong cái nồng nàn của bữa rượungày Tết, “Mị cũng uống rượu”

+ Mị “thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tếtngày trước” Mị cảm thấy mình “trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ Mị muốn đi chơi

+ Mị cảm thấy rõ hơn bao giờ hết cái vô nghĩa lý của cuộc sống thực tại : “Nếu cónắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lạinữa”

+ “Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo” Tiếng sáo như hối thúc Mị “quấn lạitóc”, “với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách” để “đi chơi” Những biếnđộng mạnh mẽ trong tâm hồn Mị đã chuyển hóa thành hành động thực tế và hànhđộng này dẫn đến những hành động tiếp theo không thể ngăn được

 Rõ ràng, cái khát vọng sống, niềm khát khao hạnh phúc vẫn được bảo lưu ở đâu

đó trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật Mị Nó giống như hòn than vẫn đang âm ỉcháy dưới lớp tro tàn nguội lạnh và chỉ cần một ngọn gió thổi tới là nó có thể bùngcháy một cách mãnh liệt Những tác động của ngoại cảnh là không nhỏ nhưng cáisức mạnh tiềm ẩn, không thể nào dập tắt của con người mới là điều mấu chốt quyếtđịnh sức sống của Mị, của mỗi cá nhân

d Sức phản kháng táo bạo ( hành động cởi dây trói cho A Phủ )

Dù bị dập vùi một cách tàn nhẫn nhưng không vì thế mà lòng ham sống và khát

khao hạnh phúc trong Mị bị triệt tiêu Trái lại, trong những hoàn cảnh đặc biệt nócòn bừng dậy một cách mạnh mẽ và chuyển hóa thành sức phản kháng táo bạo Cóthể thấy rõ điều đó qua diễn biến tâm lí và hành động của Mị trong đêm cô cứu APhủ rồi cùng anh bỏ trốn khỏi Hồng Ngài :

+ Ban đầu, trước cảnh tượng A Phủ bị trói, Mị hoàn toàn dửng dưng

+ Nhưng sau đó, khi chứng kiến dòng nước mắt chảy xuống gò má đã xạm đen lạicủa A Phủ, Mị đã đồng cảm, thương mình và thương người

+ Thương mình, thương người, Mị càng nhận rõ tội ác của cha con thống lí

Trang 5

+ Dù trong lòng vẫn có những sợ hãi nhưng Mị đã cứu A Phủ rồi cùng A Phủ bỏtrốn khỏi Hồng Ngài

 Đây là hệ quả tất yếu sau những gì đã diễn ra ở Mị Từ đêm tình mùa xuân ởHồng Ngài đến đêm cứu A Phủ là một hành trình tìm lại chính mình và tự giảithoát khỏi những “gông xiềng” của cả cường quyền bạo lực và thần quyền lạc hậu

Đó cũng là sự khẳng định ý nghĩa của cuộc sống và khát vọng tự do cháy bỏng củangười dân lao động Tây Bắc

4 Nhân vật A Phủ

4.1 Một số phận éo le

- Sớm mồ côi cha mẹ (cha mẹ chết trong một trận dịch đậu mùa)

- Nghèo, không lấy nổi vợ vì phép làng và tục lệ cưới xin ngặt nghèo

4.2 Một cá tính mạnh mẽ, một hình ảnh đẹp về người lao động miền núi Tây Bắc

- Có ý chí và nghị lực sống, A Phủ đã vượt qua mọi cơ cực để trở thành chàng traiMông khỏe mạnh, tháo vát, trở thành niềm mơ ước của nhiều cô gái trong bản

- Gan góc từ bé, ham lao động, A Phủ không quản ngại những công việc nặngnhọc, khó khăn, nguy hiểm

- Không sợ cường quyền, sẵn sàng trừng trị kẻ xấu

- Ham sống, yêu tự do, có sức sống tiềm tàng mãnh liệt

4.3 Một nạn nhân của giai cấp thống trị phong kiến miền núi tàn bạo

- Chỉ vì đánh con quan mà bị phạt rất nặng, bị làng “bắt vạ”, trở thành một kiểu

“nô lệ” trong nhà thống lí Pá Tra

- Chỉ vì lỡ để hổ bắt mất một con bò mà bị cha con thống lí bắt trói, hành hạ dãman, có thể phải trả giá bằng cả tính mạng

 Nhân vật A Phủ vừa là bằng chứng sống về tội ác của giai cấp thống trị miềnnúi Tây Bắc vừa là một hình ảnh đẹp, tiêu biểu của người dân lao động ở một vùngnúi cao nước ta

5 Giá trị hiện thực, nhân đạo của tác phẩm

5.1 Giá trị nhân đạo

- Truyện thể hiện lòng yêu thương, sự đồng cảm sâu sắc với thân phận đau khổ của

Trang 6

người lao động nghèo miền núi ( dẫn chứng nhân vật Mị, A Phủ)

- Phê phán quyết liệt những thế lực chà đạp con người (cường quyền và thầnquyền)

- Truyện khẳng định niềm tin vào vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khát vọnghạnh phúc cháy bỏng của con người Dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến mứcnào, con người cũng không mất đi khát vọng sống tự do và hạnh phúc (Dẫn chứngnhân vật Mị- trong đêm tình mùa xuân, cởi trói A Phủ)

- Thông qua câu chuyện, nhà văn đã chỉ ra cho người dân miền núi Tây Bắc nóiriêng, những số phận khổ đau nói chung con đường tự giải thoát khỏi những bấtcông, con đường làm chủ vận mệnh của mình ( dẫn chứng hành động cởi trói cho

- Ngôn ngữ kể chuyện sinh động, chọn lọc và sáng tạo, lối văn giàu tính tạo hìnhthấm đẫm chất thơ

b Nghệ thuật miêu tả tâm lý và phát triển tính cách nhân vật

- Nhà văn ít tả hành động mà chủ yếu khắc họa tâm tư, nhiều khi mới chỉ là các ýnghĩ chập chờn trong tiềm thức nhân vật

Tác phẩm đặt ra vấn đề số phận con người - những con người dưới đáy xã hội -

những con người bị tước đoạt hết tài sản, bị bóc lột sức lao động và bị xúc phạm nặng nề về nhân phẩm Giải quyết vấn đề số phận con người, Tô Hoài đã thức tỉnh

họ, đưa họ đến với cách mạng và cho họ một cuộc sống mới

B THỰC HÀNH

Đề 1:

Rượu đã tan lúc nào Người về, người đi chơi đã vãn cả Mị không biết, Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà Mãi sau Mị mới đứng dậy, nhưng Mị không bước ra đường chơi, mà Mị từ từ bước vào buồng Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi tết

Mị cũng chẳng buồn đi Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước Mị trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ Mị

Trang 7

muốn đi chơi Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau ! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa Nhớ lại chỉthấy nước mắt ứa ra Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường:

Anh ném pao, em không bắt

Em không yêu, quả pao rơi rồi

Lúc ấy, A Sử vừa ở đâu về, lại đang sửa soạn đi chơi A Sử thay áo mới, khoác thêm hai vòng bạc vào cổ rồi bịt cái khăn trắng lên đầu Có khi nó đi mấy ngày mấy đêm Nó còn muốn rình bắt mấy người con gái nữa về làm vợ Cũng chẳng bao giờ Mị nói gì

Bây giờ Mị cũng không nói Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách

A Sử đang sắp bước ra, bỗng quay lại, lấy làm lạ Nó nhìn quanh, thấy Mị rút thêmcái áo A Sử hỏi:

- Mày muốn đi chơi à?

Mị không nói A Sử cũng không hỏi thêm nữa A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà Tóc Mị xoã xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mị không cúi, không nghiêng được đầu nữa Trói xong vợ, A Sử thắt nốt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi A Sử tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại

Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi "Em không yêu, quả pao rơi rồi - Em yêu người nào, em bắt pao nào " Mị vùng bước đi Nhưng tay chân đau không cựa được Mị không nghe tiếng sáo nữa Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai

cỏ Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa

Chó sủa xa xa Chừng đã khuya Lúc này là lúc trai đang đến bên vách làm hiệu, rủngười yêu dỡ vách ra rừng chơi Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi

Cả đêm ấy Mị phải trói đứng như thế Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ Hơi rượu toả Tiếng sáo, tiếng chó sủa xa xa

Mị lúc mê, lúc tỉnh Cho tới khi trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ

(Tô Hoài - Vợ chồng A Phủ - SGK Ngữ văn 12, tập Hai)Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét ngắn gọn về nét đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn Tô Hoài

LỜI GIẢI CHI TIẾT

Trang 8

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài Phần

Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu đuợc vấn đề; phần Thân bài

biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau

cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề

và thể hiện được nhận thức của cá nhân

Hình tượng nhân vật Mị thể hiện qua một đoạn văn bản, từ đó

khái quát lên những đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả tâm lí

nhân vật của nhà văn Tô Hoài

Cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp dẫn chứng và lí

lẽ

Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích và

nhân vật Mị

Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt

Nam hiện đại Ông là nhà văn của sự thực đời thường với lối

trần thuật hóm hỉnh, sinh động, với vốn hiểu biết sâu sắc về

phong tục tập quán của nhiều vùng miền khác nhau trên đất

nước ta

Thành công nhất của Tô Hoài là những tác phẩm viết về hiện

thực cuộc sống, con người vùng Tây Bắc Tiêu biểu là truyện

ngắn “Vợ chồng A Phủ” Tác phẩm được rút ra từ tập Truyện

Tây Bắc của Tô Hoài viết vào năm 1953 ngay sau chuyến

thâm nhập thực tế của tác giả Truyện đã được tặng giải Nhất

của Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 - 1955 Đấy là truyện ngắn

đặc sắc nhất của Tô Hoài nói riêng và của văn xuôi chống

Pháp nói chung Tác phẩm là một bức tranh chân thực về cuộc

sống và thân phận khổ đau của nhũng người nông dân nghèo

miền núi dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến,

đồng thời là bài ca về phẩm chất, sức sống, khát vọng tự do

của con người lao động miền núi, là hình ảnh con đường giải

phóng và sự đổi đời của họ

Mị là nhân vật trung tâm của tác phẩm Đó là người con gái

xinh đẹp phải sống kiếp dâu gạt nợ, là nạn nhân của nghèo đói,

của thần quyền, cường quyền và hủ tục lạc hậu ở vùng núi cao

Tây Bắc Tuy nhiên, vượt lên hoàn cảnh, Mị đã đứng lên để đi

tìm hạnh phúc và tự do cho mình

Cảm nhận về nhân vật Mị trong đoạn trích

- Đoạn trích thuộc phần giữa của văn bản, nội dung là sự vùng

Trang 9

lên của Mị trong đêm tình mùa xuân.

- Cuộc đời, số phận (đau khổ, mang thân phận éo le của người con dâu gạt nợ): Mị tồn tại với danh nghĩa con dâu nhưng danhphận con ở Mị chấp nhận thân phận nàng dâu gạt nợ, bị đầy đọa cả về thể xác và tinh thần Cô tồn tại như một con rùa nuôitrong xó cửa, cam chịu thân phận con ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi

- Tính cách, phẩm chất: Sức sống tiềm tàng mãnh liệt, khát vọng hạnh phúc lớn lao

+ Vốn là cô gái mạnh mẽ, giàu sức sống, bị bắt về nhà thống lí,

bị tước đoạt tự do, bị chà đạp cả về thể xác và tinh thần Mị trở nên vô cảm Sức sống trỗi dậy trong đêm tình mùa xuân, đặc biệt là sự tác động của tiếng sáo đã khiến cảm xúc Mị hồi sinh.+ Sự trỗi dậy của Mị:

++ Mị say lịm người Cái say vừa gợi nhớ, vừa gây lãng quên Nhớ những ngày con gái, nhớ những đêm xuân hò hẹn và lãng quên thực tại Mị nhìn nghe mà không thấy, cuộc rượu tàn lúc nào Mị cũng không hay Bởi lúc này, Mị đang sống với chính mình, đang tiếp tục trên hành trình tìm lại chính mình, tình trạng sống như đã chết được cởi bỏ Lòng Mị nhớ về ngày trước, tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng, quá khứ dồn dập trở về, sống động và thiết tha Tiếng sáo nhắc Mị là một con người, Mị có quyền của một con người trong ngày Tết: Mị thấy phơi phới trở lại, thấy mình còn trẻ, khao khát hạnh phúc và muốn đi chơi Quá khứ hiện về làm một đối chứng, làm rõ hơn đau khổ của hiện tại, làm Mị thấm thía nỗi bất hạnh của một cuộc hôn nhân không có tình yêu “mình và A

Sử không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau” Hiện tại

vô nghĩa khổ đau hiện diện rõ nét làm nảy sinh trong Mị ý nghĩ

lạ lùng “nếu có nắm lá ngón lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa” Khi niềm khao khát sống được phục sinh, tự nó trở thành một mãnh lực, xung đột gay gắt với

ý thức về hiện tại Trong những trang viết về sự thức tỉnh của một con người tưởng như đã tàn lụi bấy lâu nay, Tô Hoài đã rất dụng công khi miêu tả tiếng sáo Mỗi lần tiếng sáo cất lên

là một lần nó được biến đổi, từ âm thanh của hiện tại dần dần trở thành tiếng sáo, tiếng gọi của những mùa xuân ngày trước cùng với tuổi trẻ, tự do của Mị Nhưng ngòi bút Tô Hoài không

hề dễ dãi Trong đêm tình mùa xuân đáng nhớ ấy, tác giả đã

Trang 10

đặt nhân vật Mị vào trạng thái tương giao, lòng ham sống, yêu đời trỗi dậy cùng lúc với ý nghĩ nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay Thực ra lúc này, ý muốn được chết cũng chính là khao khát được sống, sống một cách đích thực với tự do và tình yêu.

++ Tiếng sáo từ không gian bên ngoài đã trở thành nốt nhạc trong tâm hồn Mị Tiếng sáo nội tâm là chất xúc tác để phản ứng của Mị diễn ra nhanh hơn Đó chính là sức ám ảnh của tuổi xuân, quá khứ tươi đẹp lớn dần cho đến khi chiếm trọn tâm hồn Mị Lúc ấy, Mị như sống trong ảo giác, chỉ có trong

ảo giác, Mị mới được tự do Mị quay lại căn buồng như một thói quen và thắp đèn cho sáng Hành động thắp đèn biểu hiện

ý thức về thời gian và khao khát muốn cuộc đời mình cũng sáng lên như ngọn đèn, xua tan tăm tối của hoàn cảnh sống tù túng trong nhà thống lí Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp sửa đi chơi Mị với tay lấy cái váy hoa, quấn lại tóc Mị sửa sang quần áo để đi chơi như bao trai gái khác trong làng Những hành động đó thể hiện khát vọng được sống tự do, hạnh phúc

và khát vọng được hòa nhập Mị làm những điều ấy như trong một giấc mơ, A Sử trở về Mị cũng không hay, Mị mải mê trong cuộc đi chơi của mình

++ Nhưng giấc mơ của Mị lại rất thực trước mắt A Sử A Sử trở về và lặng im trói đứng Mị vào cột nhà Nó bê cả một thúng dây đay trói Mị, quấn luôn tóc Mị lên cột, sau đó tắt đèn,đóng cửa, đi ra Nó làm mọi việc thản nhiên như thể là nó đanglấy một vật gì đó phục vụ cho cuộc đi chơi vậy Sự trỗi dậy của

Mị đã bị chà đạp dã man Tô Hoài đã để cho Mị lặng câm không phản ứng gì bởi Mị đang sống lại mãnh liệt trong tiềm thức Những vòng dây trói vẫn chưa xâm phạm vào được cõi

mơ của Mị Mị bị trói mà như không biết mình đang bị trói, Mịkhông để ý đến thực tại khổ đau của mình, tâm hồn Mị vẫn theo những cuộc chơi, những đám chơi Cảm giác về thực tại,

Mị chỉ thấy được khi vùng bước đi nhưng chân tay đau nhức không cựa quậy được

++ Tiếp theo đó là khoảng lặng, Mị sống giữa mê và thực, giữahơi rượu nồng nàn, tiếng sáo và những vòng dây trói nhức nhối, tiếng chân ngựa đạp vào vách Có lúc Mị nghe tiếng chó sủa phía xa, tiếng làm hiệu của những đôi trai gái, Mị bồi hồi, tiếng sáo cứ vẳng đến như một bài ca về tình yêu và hạnh

Trang 11

phúc Có lúc Mị lại khóc, ý thức đầy đủ cuộc sống lúc này “Mị

không bằng con ngựa” Tiếng khóc của nỗi thống khổ, của việc

mất tự do cũng là tiếng khóc của sự trỗi dậy của ý thức muốn

sống, muốn hạnh phúc, muốn tự do trong Mị

++ Cho đến khi hơi rượu hết hẳn, Mị tỉnh dần ra, đau đớn, tê

dại Trời đã gần sáng, sự im lặng bao trùm, Mị sợ hãi nhớ lại

câu chuyện người đàn bà trong nhà bị trói chân tay cho đến

chết Mị sợ hãi cựa quậy xem mình có còn sống không Mị đau

dứt từng mảng thịt Cuộc sống bị chà đạp và vùi dập dã man

Nhưng ý thức về quyền sống và khát vọng yêu đương vẫn sống

trong Mị để thêm một lần nữa bật lên thành sức phản kháng

mạnh mẽ Sau này, Mị đã cắt dây cởi trói cứu A Phủ và chạy

theo A Phủ trong một đêm đông lạnh giá Hành động đó là tất

yếu đối với một cô gái tràn đầy sức sống và khát vọng như

Mị. 

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Xây dựng nhân vật điển hình

vừa có nét chung cho số phận người dân lao động miền núi

trước cách mạng vừa mang nét riêng; nghệ thuật trần thuật hết

sức linh hoạt (ngôi kể ở ngôi thứ ba nhưng có lúc tác giả nhập

sâu vào dòng tâm tư nhân vật nói lên tiếng nói bên trong của

nhân vật khiến giọng văn đậm màu sắc trữ tình), ngôn ngữ phù

hợp với đối tượng miêu tả, câu văn uyển chuyển co duỗi nhịp

nhàng, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật

Nhận xét về nét đặc sắc trong việc miêu tả tâm lí nhân vật

- Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật theo một trình tự lôgic hết

sức hợp lí

- Các sự kiện, hành động, tâm trạng của nhân vật được miêu tả

hết sức chân thực, khách quan: vừa ngẫu nhiên (về mặt thời

điểm), nhưng lại tất yếu về mặt quy luật phát triển tính cách

nhân vật Sự tất yếu đó dựa trên bản chất và phẩm chất tồn tại

của con người khiến nhân vật hiện lên vừa chân thực, sinh

động, cụ thể, vừa có chiều sâu, sức bao quát sâu sắc

- Đánh giá về tài năng, vốn sống, tấm lòng của nhà văn với con

Trang 12

Đề 2: Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Mị trong đoạn trích sau:

“ Những đêm mùa đông trên núi cao Mị phảng phất nghĩ như vậy”

( Trích Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài)

1 Mở bài:

Nhà văn là người nghệ sĩ viết lên tình yêu cuộc sống từ ngòi bút tài hoa, từtrái tim nhạy cảm giàu yêu thương và đầy tâm huyết với cuộc đời Tô Hoài là nhàvăn như thế Ngòi bút của ông khai thác sự thực đời thường với lối trần thuật hómhỉnh, sinh động, với vốn hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùngmiền khác nhau trên đất nước ta “ Vợ chồng A Phủ” là tác phẩm tiêu biểu củaông Tác phẩm giúp ta thấm thía, thấu hiểu số phận, cuộc đời đau khổ cùng nhữngđấu tranh dai dẳng, bền bỉ để vươn tới tự do của Mị Hẳn người đọc vẫn còn nhớ

cô Mị trong cái đêm định mệnh của cuộc đời với diễn biến tâm lí vừa phức tạp,vừa bất ngờ mà rất chân thực qua đoạn trích sau: “ Những đêm mùa đông trên núicao lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi”

2 Thân bài:

* Khái quát đầu thân bài:

Trong chuyến đi thực tế kéo dài tám tháng lên vùng cao Tây Bắc năm 1952của mình, Tô Hoài có dịp tiếp xúc, tìm hiểu về cuộc sống và tâm hồn người dân.Cùng với chất liệu hiện thực và một cái nhìn đầy yêu mến những con người TâyBắc kiên cường, nhà văn đã xây dựng hình tượng nhân vật Mị mang vẻ đẹp riêng,độc đáo Đó là một cô gái trẻ đẹp, có phẩm chất tốt nhưng cuộc đời đầy cay đắng

Vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ, Mị bị bắt làm dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra.Cuộc sống của Mị thống khổ hơn trâu, ngựa, bị bóc lột về sức lao động, bị cầm tù

về tinh thần từ 1 cô gái yêu tự do, vô tư, hồn nhiên, Mị trở thành người đàn bàchai sạn, vô cảm, băng giá Nhưng trong sâu thẳm con người ấy luôn ẩn chứa mộtsức sống tiềm tang mãnh liệt Ngọn lửa của niềm ham sống, ham ánh sáng tự do ấy

cứ âm ỉ và từng bùng cháy lên trong đêm tình mùa xuân nhưng rồi lại bị dập tắt,cho đến khi Mị gặp A Phủ, chàng trai tự do, phóng khoáng của núi rừng bị thống lítước đoạt quyền sống chỉ vì để hổ bắt mất một con bò Đoạn trích trên thuộc phầncuối của tác phẩm, nói về sự hồi sinh đầy kì diệu của Mị để vươn lên chiến thắngcường quyền, thần quyền

* Phân tích:

Đoạn trích mở đầu đầy ấn tượng với hình ảnh Mị thổi lửa, hơ tay, hơ lưngkhông biết bao nhiêu lần Tác giả đã sử dụng những từ ngữ chỉ thời gian: “ nhữngđêm mùa đông”, “ mỗi đêm” để tô đậm những hành động lặp đi, lặp lại trong cảmgiác buồn bã, tẻ nhạt Mị thổi lửa, hơ tay, hơ lưng không phải để chống chọi lại với

Trang 13

cái giá rét dữ dội, khắc nghiệt của thời tiết mà để giữ cho mình không bị chết héo

vì những đêm mùa đông dài và buồn ấy Hình ảnh ngọn lửa, hành động sưởi lửađược nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong một đoạn văn ngắn càng cho thấy vai trò tolớn của ngọn lửa trong cuộc sống quẩn quanh, bế tắc của Mị Ngọn lửa như ngườibạn tâm tình, như liều thuốc an thần, như một cái cọc neo cuối cùng để Mị bámvào mà sống Dường như chỉ có hơi nóng của ngọn lửa mới đủ khiến cho tâm hồnbăng giá của Mị không bị hoại tử Càng nói nhiều đến ngọn lửa và việc sưởi lửa tacàng thấm thía cái lạnh lẽo, cô đơn trong tâm hồn Mị

Sau đêm tình mùa xuân nổi dậy không thành ấy, Mị lại trở về với trạng thái

vô thức, vô hồn Ngoài ngọn lửa, chẳng có già khiến Mị quan tâm, gắn bó A Phủ

đã bị trói đứng ở cột nhà mấy đêm liền, ngay chỗ Mị ngồi thổi lửa, hơ tay, hơ lưng.Người đàn bà chai sạn ấy không mảy may nghĩ ngợi gì, Mị vẫn thổi lửa, hơ tay vàkhông hề rủ lòng thương hại; thậm chí A Phủ là cái xác đứng đấy cũng thế thôi.Sức mạnh của cường quyền, thần quyền thật ghê gớm, nó triệt tiêu ý thức về quyềnsống của con người Nó triệt tiêu cả tình người Sống lâu trong cái khổ, Mị khôngcòn biết đến cái khổ mà buồn, cũng không còn biết đến lòng thương với đồng loại

Đó cũng là một bi kịch đau đớn của con người nghèo ở vùng cao Tây Bắc trướcgiải phóng Họ không nhận thức được đâu là bất hạnh, đâu là nỗi đau thì làm sao

có ý thức để đấu tranh Người con gái vốn trẻ trung, sôi nổi ấy giờ còn không biếtđến cả cái cảm giác đau đớn vì thể xác và cả nỗi nhục nhã về tinh thần Mị bị A Sửđánh ngã ngay xuống cửa bếp nhưng “ đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước”

Đó không phải là cái kiên cường bám trụ của 1 con người ý thức được hành độngmình đang làm mà Mị lúc ấy chỉ giống như con vật lành bị ngược đãi mà không nỡ

bỏ thói quen cũ Không sưởi lửa, Mị sẽ chẳng biết làm gì cho qua đêm dài

Tô Hoài càng đậm tô những biểu hiện của sự chai sạn cả về suy nghĩ, hànhđộng và cảm xúc của Mị thì độc giả sẽ càng ngỡ ngàng, ngạc nhiên trước sự hồisinh kì diệu của mị; không phải do tiếng sáo gọi bạn tình lấp ló ngoài đầu núi mà là

“ 1 dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ đãlàm tan chảy khối băng trong tâm hồn Mị Vẫn là ngọn lửa quen thuộc bập bùngsáng lên soi cho mị nhìn thấy A Phủ khóc Điều Mị chưa từng tưởng tượng ra, nótác động mạnh mẽ hơn cả khi Mị nhìn thấy cái xác chết đứng đó Phải chăng bởi

đó là dòng nước mắt hiếm hoi của người đàn ông, họ chỉ khóc khi ở tận cùng củatuyệt vọng A Phủ yêu tự do và luôn luôn sống trong tự do, phóng túng, anh ko tinrằng chỉ vì bị mất 1 con bò mà thống lí có thể tước đoạt cả tự do, cả mạng sống củaanh Khi nhận ra đó là sự thật đang đến rất gần mà bản thân không có cách nào giảithoát được thì A Phủ đã khóc; khóc cho những tháng ngày tự do không còn nữa;khóc cho một cuộc đời bị chấm dứt quá đỗi vô lí Giọt nước mắt của uất hận, củatuyệt vọng, của đớn đau Ai đó đã từng nói “ giọt nước mắt là miếng kính làm biến

Trang 14

hình vũ trụ” Quả thực dòng nước mắt của A Phủ đã đủ sức mạnh để đánh thứclòng trắc ẩn trong lòng người phụ nữ vô hồn kia.

Mị chợt nhớ, mình từng rơi vào hoàn cảnh như A Phủ Đau đớn nhất là “nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được” A Phủ cũng vậy,anh không thể che giấu giọt nước mắt của mình bởi anh cũng chẳng biết lau điđược Thương thân mình là biểu hiện đầu tiên của sự hồi sinh trong tâm hồn Mị

Cô cảm nhận nỗi đau đớn và nhục nhã về thể xác của mình trong suốt những nămtháng làm dâu khổ cực

Lời kể từ gián tiếp, đột ngột chuyển thành lời nửa trực tiếp với câu cảm thánđầy phẫn uất “ Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũngthôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này” Một câuvăn chất chứa cả những cảm xúc của người kể và nhân vật, vạch trần sự tàn bạo có

hệ thống, tác quái bao kiếp người của gia đình thống lí Câu nói cũng cho thấy sựthức tỉnh không phải chỉ ở cảm xúc mà còn ở nhận thức bản chất tội ác của nhàthống lí

Mị nghĩ đến người đàn bà làm dâu năm xưa cũng chết ở cái nhà này Và đócũng là kết cục của người đàn ông đáng thương kia phải gánh chịu, cũng như Mịrồi sẽ chết rũ xương trong khổ cực mà thôi Mị đã hiểu ra “ chúng nó thật độc ác”

Mị nhận ra bản chất độc ác của nhà thống lí và lên tiếng tố cáo bằng một sự cămgiận đang dâng lên trong lòng Từ lòng đồng cảm, sẻ chia và sự căm phẫn cái ác,cái xấu, Mị thấy thương A Phủ, cô hiểu sự phi lí trong cái chết của anh khi so sánhvới thân phận mình “ Người kia việc gì mà phải chết” Mị phảng phất nghĩ nhưvậy ! Trái tim Mị đã hồi sinh và rộn ràng đập lên những nhịp đập yêu thương vớibao suy nghĩ tích cực cùng sự rung cảm, đồng cảm hướng về A Phủ Sự thức tỉnhcủa nhận thức sẽ là ngọn đuốc soi đường cho những hành động sau này của Mị

* Khái quát cuối bài:

“ Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi”, cuộc đời Mị sẽ vẫn sống những nămtháng tối tăm và vô nghĩa nếu không vụt chạy theo A Phủ Tô Hoài đã để cho Mị

tự nhận thức, tự giác ngộ bởi ông luôn tin tưởng ở khả năng tự giải phóng của Mịcũng như bao con người Tây Bắc chịu áp bức, cường quyền khác Cùng với nghệthuật miêu tả tâm lí nhân vật tỉ mỉ, chân thực và đầy tinh tế, sử dụng từ ngữ điêuluyện của mình, Tô Hoài đã cho độc giả thấy sức sống mãnh liệt của Mị trong đêmcởi trói cho A Phủ

ĐỀ 3: Phân tích diễn biến tâm trạng Mị (Vợ chồng Aphủ - Tô Hoài) trong đêm cởi trói cho Aphủ.

Mở bài

Trang 15

Giới thiệu khái quát về tác giả.

Vợ chồng Aphủ là truyện ngắn xuất sắc của Tô Hoài thể hiện sự trỗi dậy giành lấy

sự sống của những con người bị áp bức, bóc lột ở vùng dân tộc H’mông – Tây Bắc nước ta, trong thời kì kháng Pháp

Mị là nhân vật đại diện cho sự trỗi dậy đó Diễn biến trong tâm trạng của Mị trong đêm cởi trói cho Aphủ đã được Tô Hoài thể hiện rất đặc sắc

Thân bài

- Giới thiệu sơ lược về Aphủ

- Tâm trạng của Mị trước đêm cởi trói cho Aphủ

+ Cuộc sống đày đoạ trong nhà thống lí của Mị vẫn tiếp diễn Những gì diễn ra xung quanh không khiến cô quan tâm Tâm hồn Mị như tê dại trước mọi chuyện,

kể cả lúc ra sưởi lửa, bị Asử đánh ngã xuống bếp

+ Mị vẫn thản nhiên sưởi lửa Chỉ còn biết làm bạn với bếp lửa vào những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn

- Thương người cùng cảnh ngộ:

Nhờ ngọn lửa kia, đêm ấy, Mị đã nhìn thấy dòng nước mắt của Aphủ bò xuống má

đã xám đen lại Khiến Mị chợt nhớ lại, Mị cũng bị trói đứng, cũng khóc…rồi Mị phảng phất nghĩ gần nghĩ xa: Người kia…phải chết Nó đã bắt ta về trình ma rồi thìcòn biết đợi ngay rũ xương ở đây…Người kia việc gì phải chết?

- Tình thương lớn hơn cái chết:

Mị xót xa cho Aphủ như xót xa cho chính bản thân mình Mị thương cho Aphủ không đáng phải chết Cô cũng sợ nếu mình cởi trói cho chàng trai ấy, bố con Pá tra biết được, mình sẽ bị trói thay vào đấy và lại phải chết trên cái cọc ấy… Song

có lẽ tình thương của Mị lớn hơn cả sự chết Tình thương ấy khiến cô đi đến hành động cởi trói cho Aphủ

- Từ cứu người đến cứu mình:

Khi cởi trói cho Aphủ xong, Mị quyết định rất nhanh, vụt chạy, trời tối, Mị vẫn băng đi vì ở đây thì chết mất

Đây không phải là hành động mang tính bản năng Đúng hơn, cùng với sự trỗi dậy của kí ức, khát vọng sống tự do, đã khiến Mị chạy theo người mà mình vừa cứu

Mị giải thoát cho Aphủ và giải thoát cho cả bản thân mình.Hành động táo bạo, bất ngờ ấy là kết quả tất yếu của sức sống tiềm tàng khi người con gái dám chống lại

cả cường quyền và thần quyền

Trang 16

Kết bài

- Qua tâm trạng của Mị trong đêm cởi trói cho Aphủ, cho chúng ta thấy được sức sống tiềm tàng ở người phụ nữ bị đày đoạ cả về thể xác lẫn tinh thần Phải yêu thương và có một niềm tin mãnh liệt vào con người, nhà văn mới có được cái nhìn nhân đạo như vậy

- Tô Hoài đã miêu tả tâm trạng của Mị rất tự nhiên, hợp lí và chân thực Hành độngcuối cùng của Mị - cởi trói cho Aphủ - có vẻ bất ngờ

nhưng lại hợp với quy luật tâm lí con người, quy luật của cuộc sống

- Nhà văn không chỉ đem đến cho bạn đọc những nhân vật biết hành động mà quantrọng hơn là vì sao có hành động ấy

- Tô Hoài đã rất thành công khi xây dựng một nhân vật có sức sống bên trong mãnh liệt đằng sau khuôn mặt vô hồn, vô cảm của Mị Bởi vậy có người đã xem đây là “một nhân vật thành công bậc nhất trong văn xuôi Cách mạng đương đại Việt nam”

* Xuất thân của A Phủ

– Khốn khó, mồ côi cha mẹ, sống tự do, khỏe mạnh, siêng năng, giàu bản lĩnh, nhưng không kiêu ngạo, là “con trâu tốt” của bản mường nhưng vì nghèo nên không lấy được vợ Trích câu dân làng nói về A Phủ

– Là con người không bao giờ nhùn bước trước cường quyền, bạo chúa A Phủ biết

A Sử là con thống lí nhưng vẫn ra tay đánh, vẫn phải trừng trị kẻ xấu, kẻ gây rối

* Trải qua những ngày tháng đọa đày cùng cực trong nhà Thống Lý

– Sau việc đánh con quan làng, A Phủ đã nhận lấy những trận đòn kinh người của nhà Thống Lý, A Phủ dù bị đánh đập nhưng không hề kêu van xin tha đến nửa lời Anh rất cứng đầu, mạnh bạo và không chịu khuất phục

– Bị phạt vạ, A Phủ thành người ở không công quần quật với công việc: “đốt rừng, cày nương, cuốc mương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thân một mình bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng” Nhưng anh không hề nói lạinửa lời mà chấp nhận vì bọn chúa đất đày đọa, áp bức nhân dân quá trơ trẽn A Phủchấp nahanj cũng vì chính A Phủ cũng không có gia đình, có nhà, hơn nữa, anh đã

Trang 17

gây lên tội thì cũng phải chịu phạt

– Khi hổ vồ mất bò, A Phủ nhất quyết cãi lại lời Thống Lý, quyết tâm đi bắt hổ Nhưng cuối cùng anh đành phải tự tay đóng cọc để người ta trói mình Đau khổ cùng cực đến nỗi khi Mị nhìn sang thì thấy “một dòng nước lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đem lại”, “thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh”

* Nổi bật ở A Phủ là một sức phản kháng mãnh liệt:

– Điều này thống nhất với bản tính gan góc từ nhỏ: cả nhà chết hết vì bệnh dịch, làng chết và đói nên “người làng đói bụng bắt A Phủ đem xuống bán đổi lấy thóc của người Thái dưới cánh đồng A Phủ mới mười tuổi, nhưng A Phủ ngang bướng,không chịu ở dưới cánh đồng thấp A Phủ trốn lên núi, lưu lạc ở Hồng Ngài”

– Trong đêm tình mùa xuân, trước việc gây chuyện của đám trai làng do A Sử cầmđầu, A Phủ đã gan góc ” vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử”, “xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo đập đầu xuống đất, xé vai áo, đánh tới tấp” Hành động này thật dũng cảm, dẫu chỉ là bộc phát A Phủ thể hiện mình không chịu nhục trước thếlực cường quyền

– Đặc biệt khi được Mị cởi trói, mặc dù rất đau đớn đến “khụy xuống, không bước nổi”, trong người không còn sức lực do phải chịu cực hình, trói đứng và nhịn đói, nhưng anh đã “quật sức vùng lên chạy”; cùng với Mị tự giải thoát khỏi nhà thống

lý Khát vọng, sức sống từ người phụ nữa cùng cảnh ngộ đã thổi bùng trở lại sức sống và khát vọng tự do nơi người con trai mang bản chất tốt đẹp này

lí thống, gặp được ánh sáng của Cách mạng ở cuối đường

Kết bài

- Khi miêu tả nhân vật A Phủ, nhà văn miêu tả qua những hành động khi bị đánh đập, để thấy được sức sống kiên cường của anh Số phận của nhân vật A Phủ cũng giống như số phận của bao người dân miền núi khác, như Mị Họ đã phải luôn đấu

Trang 18

tranh giành lại hạnh phúc, họ đã phải trải qua bao tủi cực, cay đắng Nhưng họ đã đấu tranh để tự giải phóng bằng sức mạnh quật khởi của chính mình.

Đề 5 Giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”

MỞ BÀI

Tô Hoài là nhà văn có nhiều cống hiến cho nền văn học Việt Nam hiện đại cả hai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám Ông nổi tiếng với nhiều tác phẩm nhưng tiêu biểu nhất là “Dế mèn phiêu lưu ký” và “Vợ chồng A Phủ” Truyện “Vợchồng A Phủ” sáng tác năm 1952, in trong tập “Truyện Tây Bắc” Thông qua cuộc đời hai nhân vật Mị và A Phủ, tác phẩm đã để lại tinh thần nhân đạo sâu sắc, mới

mẻ thấm đượm trên mỗi trang sách của Tô Hoài

phóng quê hương

Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của tác phẩm văn học chân chính Nó được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau khổ của con người, sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả năng vươn dậy của họ, đồng thời lên án những thế lực tàn bạo, đen tối chà đạp lên quyềnsống, ước mơ hạnh phúc và phẩm giá của con người

* Nội dung cần phân tích, làm rõ:

- Biểu hiện thứ nhất của giá trị nhân đạo trong tác phẩm này trước hết được toát lên từ niềm cảm thông sâu sắc của Tô Hoài đối với những số phận bất hạnh, bị tước đoạt quyền sống, bị lăng nhục, đày đọa mà tiêu biểu là Mị và A Phủ Hai sự sống trẻ trung bị đày đọa khủng khiếp trong tù ngục nhà thống lí Pá Tra đang bị chết dần, chết mòn vì khổ đau Mị – cô gái trẻ đẹp, mơn mởn như bông hoa rừng nhưng bị bắt cóc về làm con dâu gạt nợ nhà thống lý Dưới mấy tầng áp bức của cường quyền, thần quyền, lễ giáo, hủ tục phong kiến miền núi Mị sống âm thầm vật vờ như chiếc bóng, cứ “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” Khi thì tưởng

“mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa” Bởi Mị sống mà hầu như mọi quyền lợi bị tước đoạt Mang tiếng là con dâu nhưng Mị lại là con dâu gạt nợ Là con nợ hơn là con dâu Là con nợ nên Mị thành nô lệ để “Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay Cuối mùa thì đi nương bẻ bắp…lúc nàocũng cài một bó đay ở trong tay để tước thành sợi Suốt năm, suốt đời như thế” Bị bóc lột sức lao động đã đành, Mị lại còn bị tước đoạt tuổi xuân, hạnh phúc, bị thần quyền áp chế Nơi Mị sống chỉ độc “một ô cửa sổ, một lỗ vuông bằng bàn tay trông

Trang 19

ra ngoài không biết sương hay là nắng” Đó là chốn địa ngục trần gian mà tên chồng A Sử đã trói buộc Mị vào đó, vùi dập tuổi xuân của Mị ở đó.

A Phủ, một chàng trai khỏe mạnh, gan bướng, sống cuộc sống hồn nhiên, phóng khoáng của tuổi trẻ yêu đời, lao động giỏi A Phủ không nợ nần gì nhà thống lí mà rốt cục cũng biến thành kẻ trừ nợ suốt đời bị đánh đập, bị trói buộc một cách thảm khốc đến mức gần như tê liệt cả sức phản kháng Cảnh xử kiện tàn bạo như thời trung cổ được Tô Hoài vẽ nên bằng một trang giấy mà ở đó sự tàn nhẫn, độc ác đã lên ngôi A Phủ bị đánh đập gần như cả ngày: “đầu, đuôi mắt giập chảy máu” nhưng “chỉ quỳ và im như cái tượng đá” Đến cả cái cảnh vì để hổ bắt mất một con

bò, A Phủ phải bị trói đứng lên cái cột với dây mây quấn từ chân lên đến cổ Phải chờ chết một cách vô lý trên cái cọc ấy giữa đêm đông rét mướt nếu không có bàn tay cứu giúp của Mị và tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn

- Biểu hiện thứ hai của tư tưởng nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ còn toát lên từ sự tố cáo gay gắt thế lực phong kiến miền núi tàn bạo đã chà đạp lên quyền sống của nhân dân lao động Tây Bắc mà tiêu biểu là Mị và A Phủ Chúng đãlợi dụng chính sách cho vay nặng lãi để nô lệ hóa con người mà Mị và A Phủ chính

là nạn nhân của chúng Mị và A Phủ từ là những đóa ban rừng mơn mởn, yêu tự

do, giàu tài năng nhưng vì món nợ mà họ đã trở thành những kẻ nô lệ suốt đời bị đối xử như con vật Nợ là sợi dây trói buộc thể xác của Mị và A Phủ vào nhà thống

lý nhưng thần quyền mới là sợi dây trói oan nghiệt nhất đã trói buộc tinh thần Mị

và A Phủ vào nhà thống lý Họ đã bị thần quyền làm cho tê liệt về ý thức phản kháng, trở thành những con người cam chịu kiếp sống trâu ngựa Không chỉ vậy, chúng còn dùng cường quyền, hủ tục và những thủ đoạn bóc lột tàn nhẫn để thỏa mãn sự độc ác Mị bị bóc lột lao động tàn tệ chỉ biết chúi đầu vào công việc cả đêm

cả ngày “suốt năm, suốt đời như thế” Bị A Sử trói đứng vào cột trong đêm tình mùa xuân chỉ vì Mị muốn đi chơi A Phủ thì quanh năm chỉ rong ruổi ngoài bìa rừng chăn bò chăn ngựa đến nỗi quên cả việc về thăm làng cũ Bị trói đứng vào cộtchờ chết, thế mạng mình cho mạng của con bò Qua những số phận ấy, ngòi bút TôHoài đã vạch trần bộ mặt tàn bạo của cha con nhà thống lý Mang đến cho người đọc “tập hồ sơ tội ác” về tội ác tày trời của giai cấp chủ nô phong kiến miền núi ở Tây Bắc trước khi có cách mạng về

- Biểu hiện thứ ba của giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ là việc nhàvăn phát hiện và nâng niu trân trọng trước những vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất cao đẹp của nhân vật Mị và A Phủ

Trước hết, nhà văn phát hiện và nâng niu trân trọng trước vẻ đẹp của nhân vật

Mị Mị là cô gái trẻ đẹp, giàu tài năng “Mị thổi sáo hay, thổi lá cũng hay như thổi sáo” Có tấm lòng hiếu thảo với cha già Khi bị bắt về làm dâu gạt nợ nhà thống lý,

dù cuộc sống nhiều khổ cực, khổ như trâu ngựa nhưng trong Mị luôn ẩn chứa sức sống tiềm tàng mãnh liệt, sức phản kháng mạnh mẽ Tất cả đã được ngòi bút Tô

Trang 20

Hoài trân trọng, nâng niu qua từng phát hiện.

Trong đêm tình mùa xuân, sức sống ấy như ngọn lửa bùng cháy dữ dội Khi nghe tiếng sáo vọng lại “thiết tha bổi hổi”, Mị đã sống lại những phút giây tuổi trẻ ngày nào Đó là lúc tài năng âm nhạc trong Mị được đánh thức “Mị ngồi nhẩm thầm lời người đang thổi sáo” Hành động ấy nói lên bao điều Bấy lâu nay, cô Mị câm lặng, vô cảm, ấy thế mà hôm nay bỗng được sống dậy Bài hát cũ lâu rồi không hát, điệu sáo ấy lâu rồi không thổi nhưng Mị vẫn nhớ, Mị không quên nghĩa

là sức sống trong Mị chưa nguội tắt mà vẫn âm ỉ như hòn than trong lớp tro tàn.Cũng trong đêm tình ấy, ngòi bút Tô Hoài còn chứng kiến được hình ảnh một cô

Mị nổi loạn cùng men rượu cay đêm tình Rượu đã đưa Mị từ cõi quên về với cõi nhớ, rượu và tiếng sáo ngất ngây gọi bạn tình đã làm Mị nhận ra “Mị trẻ lắm Mẹ còn trẻ Mị muốn đi chơi” Khát vọng ấy, là khát vọng của con người yêu tự do, khát vọng tự do mãnh liệt Và hành động “Mị cuốn lại tóc Mị với tay lấy chiếc váyhoa vắt ở phía trong vách… Mị rút thêm cái áo” đã cho thấy sự bứt phá của Mị vớibản năng sống mãnh liệt bất chấp cả cường quyền, thần quyền Ngay cả khi bị A

Sử trói đứng vào cột “tóc Mị xõa xuống hắn cuốn luôn tóc Mị lên cột làm cho Mị không cúi không nghiêng được đầu nữa” Nhưng Mị vẫn thản nhiên, Mị không hề biết mình đang bị trói, thậm chí khi tiếng sáo nhập vào hồn Mị, Mị đã “vùng bước đi” Điều đó cho thấy, sức sống tinh thần trong Mị đã lớn dậy, nó đã lấn át cả nỗi đau về thể xác Cũng có nghĩa là bóng ma thần quyền, cường quyền đã khuất phục trước sức sống ấy của Mị

Sức sống mãnh liệt ấy lại một lần trỗi dậy trong đêm cứu A Phủ Lúc đầu, Mị dửng dưng vô cảm trước cái chết cận kề của A Phủ Nhưng sau đó, dòng nước mắt của A Phủ “bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” đã thức dậy lòng thương người trong Mị Lòng thương người ấy đã làm sống dậy trong Mị sức phản kháng mạnh

mẽ Nếu nói đêm tình mùa xuân là “tia lửa nhỏ” thì đêm cứu A Phủ là “đám cháy lớn” Đám cháy ấy bùng lên khi Mị nhận thức được tội ác cha con nhà thống lý

“Trời ơi chúng trói người ta đến chết thì thôi, chúng nó trói chết người đàn bà ngàytrước cũng ở trong cái nhà này Chúng nó thật độc ác” Nhận thức ấy là nhận thức hoàn toàn bằng lí trí, bằng sự tỉnh táo Từ nhận thức ấy mà sự nổi loạn thứ hai của

Mị mới thật là mong muốn của người đọc Mị đã cắt đứt dây trói cho A Phủ Rồi

Mị cũng vụt chạy theo A Phủ vì theo Mị “Ở đây thì chết mất” Hơn một lần trong truyện này Mị sợ chết Lần đầu là thức dậy sau đêm bị trói nghĩ đến người đàn bà đời trước bị trói đến chết trong căn nhà này “Mị sợ quá Mị cựa quậy xem mình còn sống hay là đã chết” Lần thứ hai là lúc Mị cắt đứt xong dây trói cho A Phủ Như vậy, sợ chết là biểu hiện cao độ nhất của lòng ham sống Đó là vẻ đẹp sức sống tiềm tàng của con người lao động Tây Bắc và niềm tin của nhà văn vào khả năng vươn dậy của nhân vật

- Bên cạnh đó, nhà văn Tô Hoài còn nhìn thấy bản chất đẹp đẽ của A Phủ, một

Trang 21

chàng trai của núi rừng tự do Anh yêu lao động, giỏi giang: “biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và săn bò tót rất bạo…” A Phủ rất khỏe, chạy nhanh như ngựa A Phủ đã trở thành niềm khát khao của bao cô gái trong làng “ Lấy được

A Phủ là bằng được con trâu tốt trong nhà” Nhưng A Phủ nghèo nên không lấy được vợ Tuy vậy, vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn, A Phủ vẫn sống một đời sốngtâm hồn phóng khoáng, hồn nhiên, yêu đời, yêu chính nghĩa, tự tin của tuổi trẻ

“Đang tuổi chơi, trong ngày Tết đến, dù chẳng có quần áo mới như nhiều trai làng khác, A phủ chỉ có độc một chiếc vòng trên cổ A Phủ cũng cứ cùng trai làng đem sáo, khèn con quay và quả pao đi tìm người yêu ở các làng trong rừng” Trong cảnh xử kiện, dù bị đối xử tàn tệ nhưng A Phủ chỉ quỳ và “im như tượng đá” đó là bản tính gan góc rất đáng quý Lúc được Mị cứu, dừ đã kiệt sức nhưng A Phủ đã

“quật sức vùng lên chạy” Phải chăng ở con người đó luôn tiềm ẩn lòng yêu đời, khát sống, khát tự do Có lẽ vì vậy mà khi sang Phiềng Sa, A Phủ đã nhanh chóng trở thành tiểu đội trưởng du kích, cùng Mị giải phóng quê hương

- Biểu hiện sau cùng của tư tưởng nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ là việc nhà văn đã chỉ ra con đường giải phóng thực sự của người lao động là đi từ tự phát đến tự giác Mị và A Phủ từ tăm tối đau thương đã vươn lên ánh sáng của tự

do và nhân phẩm Họ đã cùng nhau đạp qua đêm tối, vươn đến ngày mai ở Phiềng

Sa, nên vợ nên chồng Cả hai người đã theo Cách mạng, theo Đảng, đánh giặc, bảo

vệ quê hương và thay đổi số phận của mình Cũng qua đó, tác giả đã bày tỏ thái độ bênh vực quyền sống của con người và là bài ca ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người lao động, đặc biệt là sức sống tiềm tàng và hành động tự giải phóng của nhân vật, đồng thời đặt niềm tin và sự trân trọng, nâng niu đối với khát vọng sống tốt đẹp của con người dù bị đày đọa đau khổ

* Giá trị nghệ thuật của tác phẩm: Bên cạnh giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo,

“Vợ chồng A Phủ” còn có những thành công đặc biệt về phương diện nghệ thuật Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo Miêu tả phong tục, tập quán, phong cảnh thiên nhiên sinh động Nghệ thuật kể truyện sinh động, tự nhiên, hấp dẫn Ngôn ngữ tác phẩm rất tinh tế, mang đậm màu sắc miền núi và thực sự đã để lại dấu ấn của Tô Hoài

KẾT BÀI

Tóm lại, "Vợ chồng A Phủ" mang ý nghĩa tư tưởng nhân đạo sâu sắc Nó được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc với nỗi đau của con người, sự nâng niu nét đẹp tâm hồn mà hơn cả là sự hướng tới giải phóng cho con người tiêu biểu là số phận của Mị và A Phủ Chính vì những giá trị nhân văn cao đẹp ấy mà nửa thế kỷ trôi qua , tác phẩm của Tô Hoài ngày một thêm sáng giá

Trang 22

Lớp Ngày soạn Ngày dạy Tiết

- Kĩ năng phân tích nhân vật

- Kĩ năng phân tích tình huống, đoạn văn bản, chi tiết

- Kĩ năng phân tích chứng minh nhận định

2 Phẩm chất, năng lực:

a Phẩm chất: Sống nhân ái, bản lĩnh, trung thực, bao dung, yêu quê hương, đất nước

b Năng lực:

- Năng lực chung: tự tin, sáng tạo, tư duy tốt

- Năng lực chuyên biệt: đọc hiểu văn bản, đánh giá vấn đề, tạo lập văn bản

II Chuẩn bị:

1 Thầy: Giáo án, đề cương, phiếu học tập, giấy A0

2 Trò: Đồ dùng học tập, vở ghi, đề cương, các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà

III Tổ chức dạy và học:

1 Ổn định tổ chức lớp: kiểm tra sĩ số, trật tự, nội vụ lớp

2 Kiểm tra bài cũ

3 Ôn luyện

A KIẾN THỨC CƠ BẢN

Kim Lân là nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam Tuy viết không nhiều nhưng ông có một số tác phẩm thành công Ông là nhà văn của nông thôn Việt Nam, chuyên viết về cuộc sống và con người nông thôn bằng tình cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng ruộng Vì thế, ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của những người nông dân nghèo

1 Xuất xứ

Trang 23

Truyện Vợ nhặt có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư – tác phẩm được viết

ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng còn dở dang và bị mất bản thảo Hoà bình

lập lại (1954), dựa trên một phần cốt truyện cũ, Kim Lân đã viết truyện Vợ nhặt Tác phẩm được in trong tập Con chó xấu xí (1962).

2.Tóm tắt

Truyện lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945 Tràng - một thanh niên nghèo, lại làdân ngụ cư, trong một lần đẩy hàng đã tình cờ có được vợ Cô vợ nhặt đã tìnhnguyện theo Tràng chỉ sau một câu nói đùa và bốn bát bánh đúc Tràng đưa “thị”

về giữa cảnh đói khát đang tràn đến xóm ngụ cư Bà cụ Tứ thấy con có vợ thì vừamừng vừa tủi cho thân phận nghèo khó của mình và thương con, thương nàng dâuđói khổ Họ sống với nhau trong cảnh đói nghèo nhưng hạnh phúc và tin rằng: ViệtMinh về làng, họ sẽ đi phá kho thóc Nhật, lấy lại thóc gạo để cứu sống mình

3 Ý nghĩa nhan đề

- Nhan đề gợi tình huống éo le, kích thích trí tò mò người đọc Thông thường,người ta có thể nhặt thứ này, thứ khác, chứ không ai “nhặt” “vợ” Bởi dựng vợ gảchồng là việc lớn, thiêng liêng, có ăn hỏi, có cưới xin theo phong tục truyền thốngcủa người Việt, không thể qua quýt, coi như trò đùa

- “Vợ nhặt” là điều trái khoáy, oái ăm, bất thường, vô lí Song thực ra nó lại rất có

lí Vì đúng là anh Tràng đã nhặt được vợ thật Chỉ một vài câu bông đùa của Tràng

mà có người đã theo về làm vợ Điều này đã thực sự khiến một việc nghiêm túc,thiêng liêng trở thành trò đùa và ngược lại, điều tưởng như đùa ấy lại chính là sựthực Từ đây, bản thân nhan đề tự nó đã gợi ra cảnh ngộ éo le, sự rẻ rúng của giá trịcon người Chuyện Tràng nhặt được vợ đã nói lên tình cảnh thê thảm và thân phậntủi nhục của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945

4.Tình huống truyện

- Tình huống truyện : Anh Tràng vừa nghèo, vừa xấu lại là dân ngụ cư thế mà lấyđược vợ ngay giữa lúc đói khát, ranh giới giữa sự sống và cái chết hết sức mongmanh

- Tình huống lạ, độc đáo : người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí có vợ theo !Thời buổi đói khát này, người như Tràng nuôi thân chẳng xong mà dám lấy vợ !Chẳng phải thế mà việc Tràng có vợ đã tạo ra sự lạ lùng, ngạc nhiên với tất cả mọingười trong xóm ngụ cư, với bà cụ Tứ, thậm chí đã có những thời điểm chínhTràng cũng chẳng thể nào tin được vào điều đó

- Tình huống truyện không chỉ tạo ra một hoàn cảnh “có vấn đề” cho câu chuyện

mà còn nén trong đó ý đồ nghệ thuật của nhà văn đồng thời gợi mở các khía cạnhgiá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm

5 Nhân vật

Trang 24

5.1 Tràng

*Tràng là người dân lao động nghèo, “nhặt” được vợ trong thời buổi đói khát:

- Bản thân anh là dân ngụ cư, dân ăn nhờ, ở đậu

- Tràng sống với mẹ già trong một căn nhà xiêu vẹo trên bãi đất hoang mọc lổnnhổn những búi cỏ dại

 Hoàn cảnh xuất thân : khó lấy được vợ

- Tuy nhiên, giữa cái khung cảnh tối sầm lại vì đói khát, Tràng bỗng nhiên “nhặt”được vợ.Cuộc gặp gỡ giữa Tràng và người đàn bà không tên diễn ra thât chóngvánh chỉ qua hai lần gặp mà chỉ gặp ở đường và chợ để rồi “nên vợ, nên chồng”: + Lần gặp thứ nhất : Trên đường kéo xe thóc lên tỉnh, Tràng hò chơi cho đỡ mệt

“Muốn….” Không ngờ, thị ra đẩy xe cho anh và còn liếc mắt cười tít nữa Tràngthích lắm vì từ khi cha sinh mẹ đẻ đến giờ mới có một người con gái cười với hắntình tứ đến như thế

+ Lần gặp thứ 2, ở quán nước ngoài chợ Ban đầu, Tràng không nhận ra vì thịkhác quá, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt Khi nhận ra rồi,trong lời đáp “ăn gì thì ăn, chả ăn giầu” Tràng sẵn sàng đãi thị bốn bát bánh đúc.Trong bối cảnh mà người ta lo thân không xong, ai cũng đứng trên miệng vực thẳmcủa cái chết hành động mà Tràng đãi thị bốn bát bánh đúc chứng tỏ rằng Tràng làmột người khá tốt bụng và cởi mở Chính sự tốt bụng và cởi mở của Tràng đã đemđến cho Tràng hạnh phúc, Tràng nói đùa với thị “Này … rồi cùng về”, nhưng thị

đã theo Tràng về thật Khi quyết định “đèo bòng” Tràng cảm thấy “chợn” nhưng

“chậc kệ”

* Niềm hạnh phúc khi có vợ :

- Tràng khi đưa vợ về qua xóm ngụ cư : tâm trạng của anh hôm nay phớn phở,

cười tủm tỉm, hai con mắt thì sáng lên lấp lánh, trước ánh mắt nhìn đầy tò mò vàngạc nhiên của người dân trong xóm, trước những lời xì xào bàn tán của người dântrong xóm, Tràng rất hãnh diện, rất đắc ý, mặt cứ vênh lên như thể chứng tỏ vớimọi người- Tràng đã có vợ

- Tràng khi đưa vợ về đến nhà : Hành động: xăm xăm nhấc tấm phên rách ra và

câu nói “Không có người đàn bà nhà cửa ra thế đấy” ta hiểu rằng có vợ rồi ngườiđàn ông ăn nói cục cằn kia bỗng văn hóa hẳn lên Ánh mắt của anh đã để ý đến cô

vợ nhặt và thắc mắc với lòng mình “Quái, sao nó lại buồn thế nhỉ?” Tràng sốt ruộtmong ngóng mẹ về để còn ra mắt cô vợ nhặt.Khi mẹ về, sau lời giới thiệu, Tràngcũng hồi hộp, lo lắng đợi chờ câu trả lời của mẹ, và chỉ khi người mẹ nói “Các conphải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng” Tràng mới thở đánh phào mộtcái

Trang 25

Có thể nói, Kim Lân đã rất chú ý miêu tả diễn biến tâm trạng của Tràng từ khi có

vợ Có rất nhiều lần Kim Lân nhắc đến nụ cười của Tràng để nhấn mạnh đến niềmkhát khao hạnh phúc, khát khao mái ấm gia đình để thách thức với cái đói đangtung lưới bủa vây

- Tràng trong buổi sáng ngày hôm sau :

+ Tràng thấy mình như bước ra từ một giấc mơ, trong người “êm ái lửng lơ”

+ Trước mặt anh mọi thứ đều thay đổi: nhà cửa sân vườn hôm nay đều được quéttước sạch sẽ; mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt ở góc nhà đã thấy đem rasân hong; hai cái ang nước vẫn để khô cong duới gốc cây ổi giờ đã kín nước đầy

ăm ắp Rõ ràng những cảnh tượng rất đỗi bình thường ấy cũng đã làm cho anh cảmđộng, hạnh phúc với anh thật giản dị

+ Từ buổi sáng đó, anh mới thấy mình nên người Anh nghĩ đến tương lai, đến sựsinh sôi nảy nở của hạnh phúc để rồi vui sướng, phấn chấn tràn ngập trong lòng + Và người vợ nhặt của Tràng hôm nay cũng khác lắm - đó là một người đàn bàhiền hậu, đúng mực, không có vẻ gì chao chát, chỏng lỏn nữa

+ Tràng thấy “thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Hắn đã có một giađình Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa chenắng Một nguồn vui sướng, phấn chấn tràn ngập trong lòng Bây giờ hắn mới thấyhắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này” Nguồnvui ấy như tia nắng, như ánh bình minh đem sinh khí đến cho cuộc sống vốn đangngập tràn sự chết chóc của cái đói tung lưới bủa vây

+ Và trong bữa cơm đầu tiên, bữa cơm của 3 con người đang khốn khổ vì cái đói,tràn ngập sự đầm ấm, hoà hợp

- Hình ảnh khép lại tác phẩm trong óc Tràng là hình ảnh lá cờ đỏ và đoàn người

đói đi trên đê Sộp, gợi cho người đọc nghĩ về Việt Minh, về Cách mạng tháng Tám

vĩ đại, về sự vùng dậy của những người dân khốn khổ, đập tan xiềng xích, giành lạicơm áo, giành lại sự sống cho bản thân, giành lại độc lập tự do cho dân tộc Vì thế,kết thúc của tác phẩm đã gieo vào lòng người đọc một niềm tin mãnh liệt, gieo mộthạt giống hi vọng mãnh liệt vào tâm hồn Tràng, gia đình anh và tất cả bạn đọcchúng ta

5.2 Thị (người “vợ nhặt”)

- Cũng giống như Tràng, khung cảnh Kim Lân để cho nhân vật này xuất hiện làmột không gian tối sầm vì đói khát Cũng giống như bao người khác, thị ngồi vêucùng với mấy chị em gái nơi cửa nhà kho Chị không có tên, không tuổi tác, khôngcha mẹ, không gia đình… môt con số không tròn trĩnh đang bao trùm lên lá số tử

vi của chị Cái đói đã cướp đi của thị tất cả

- Khi chưa theo Tràng về làm vợ cái đói đã để lại “dấu tích” ghê gớm trên dánghình và tính cách của chị:

Trang 26

+ Lần gặp thứ nhất: có vẻ táo tợn, ăn nói mạnh mẽ “Có khối cơm trắng mấy giò mà

ăn đấy! “Này nhà tôi ơi! Nói thật hay nói khoác đấy”

+ Lần gặp thứ 2: chân dung của thị khiến Tràng không nhận ra, gầy (dẫn chứng)…Thị cong cớn trong lời nói, vô duyên trong hành động “sà xuống đánh cắm đầu

ăn một chặp bốn bát bánh đúc ăn xong cầm đôi đũa quệt ngang miệng, thở: Hàngon! Về chị thấy hụt tiền thì bỏ bố” Tuy nhiên, ẩn đằng những lời nói và hànhđộng ấy là khát vọng về hạnh phúc và sự sống

- Kim Lân không có ý chê bai người vợ nhặt kia, dù thực tế cũng có những ngườiphụ nữ không đẹp Điều mà nhà văn muốn nhấn mạnh ở đây là: sức hủy hoạikhủng khiếp của cái đói đối với hình hài và tính cách của con người Vì đói mà thị

cố tạo ra cái vẻ cong cớn, chao chát, chỏng lỏn như là để thách thức với số phận

Vì đói mà thị quên đi cả sĩ diện của mình, quên đi cả lòng tự trọng theo không mộtngười đàn ông về làm vợ trong khi chẳng biết tí gì về anh ta Vì đói mà thị đánhliều nhắm mắt đưa chân, đánh liều với hạnh phúc cả đời mình Thị thật đángthương Nhưng đằng sau sự liều lĩnh ấy của thị, người đọc hiểu rằng, thị là người

+ Về đến nhà, trông nếp nhà rẹo rọ của Tràng, thị nén tiếng thở dài, tiếng thở dàichấp nhận bước vào cuộc đời của Tràng

+ Hành động khép nép, tay vân vê tà áo khi đứng trước mặt bà cụ Tứ, thị thật đángthương

- Tuy nhiên, ở sâu thẳm bên trong con người này vẫn có một niềm khát khao mái

ấm gia đình thực sự Thị đã trở thành một con người hoàn toàn khác khi là mộtngười vợ trong gia đình Hạnh phúc đã làm cho thị thay đổi từ một người phụ nữcong cớn, đanh đá bỗng trở thành một người đàn bà hiền hậu đúng mực, mái ấmgia đình đã đủ sức mạnh làm thay đổi một con người

- Hình tượng chị vợ nhặt thể hiện rất rõ tư tưởng nhân đạo của Kim Lân

+ Một mặt nhà văn đã lên án tội ác dã man của phát xít Nhật và TDP Nạn đói dochúng gây ra đã cướp đi mọi giá trị của con người, và biến người con gái như mộtthứ đồ rẻ rúng có thể nhặt được

+ Mặt khác vợ Tràng đã nói lên một sự thật ở đời đó là trong đói khổ, hoạn nạn, kềbên cái chết nhưng con người vẫn khát khao được sống, vẫn sống ngay khi cả cuộcđời không thể chịu được nữa Những con người nghèo khổ vẫn thương yêu đùmbọc, và cùng nhau vun đắp hạnh phúc để vượt qua những thử thách khắc nghiệt

5.3 Bà cụ Tứ :

Trang 27

- Nhà văn Kim Lân tâm sự: “ Phần gây xúc động lớn nhất cho tôi khi đọc lại truyệnngắn Vợ nhặt đó là đoạn bà cụ Tứ- mẹ Tràng trở về” Thông điệp nghệ thuật vềbản chất nhân đạo trong tâm hồn người Việt ở hình tượng nhân vật bà cụ Tứ đãđược Kim Lân thể hiện thành công qua diến biến tâm trạng của người mẹ nghèo ấykhi nhìn thấy chị vợ nhặt xuất hiện trong nhà mình cho đến buổi sáng ngày hôm

sau

- Ngạc nhiên và bất ngờ là tâm trạng đầu tiên ở người mẹ nghèo khi lật đật

theo con từ ngõ vào nhà Từ trước đến giờ có bao giờ Tràng mong ngóng mẹ vềđến thế đâu, nhất định là phải chuyện gì quan trọng, khác thường Chân bước theocon nhưng lòng bà đang phấp phỏng Rồi “đứng sững lại” khi bà nhìn thấy mộtngười phụ nữ đứng ở đầu giường con trai bà , mà lại chào bà bằng u Ngạc nhiên

đã làm cho bà lão không còn tin vào cảm giác của bà nữa, tự dưng bà lão thấy mắtmình nhoèn đi thì phải Nhưng thực sự mắt bà không nhoèn, và tai bà cũng khôngđến mức điếc lác như chị vợ nhặt nghĩ ban đầu Bà chưa thể tin, không thể tin rằngcon mình lại có người theo và lại chưa bao giờ hình dung nhận dâu trong một tìnhcảnh trớ trêu, tội nghiệp đến thế

- Bà lão cúi đầu nín lặng, đằng sau cái cúi đầu nín lặng ấy là dòng cảm xúc tuôn trào, là cơn bão lòng đang cuộn xoáy với tình thương con vô bờ bến Bây

giờ thì bà không chỉ biết sự việc “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ” nhưlời Tràng thưa gửi mà bà còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xótthương cho số kiếp của con trai mình Bà tủi thân, tủi phận, bà so sánh người ta vớimình “người ta dựng vợ gả chồng cho con những lúc nhà ăn lên làm nổi, còn mìnhthì…” Bà lão chua chát, tự trách bản thân mình, càng thương con bao nhiêu bà lạicàng tủi phận bấy nhiêu Bà lão đã khóc, những giọt nước mắt hiếm hoi của ngườigià dưới ngòi bút nhạy cảm của Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc biết baothương xót, tủi buồn

Bà đã chấp nhận nàng dâu không phải chỉ bằng tình mẫu tử mà lớn hơn đó là tìnhngười, là sự cảm thông với chị vợ nhặt từ cái nhìn của người cùng giới, cùng làphụ nữ Câu nói đầu tiên mà bà cụ Tứ dành cho chị vợ nhặt “Ừ thôi các con phảiduyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”, lời nói của bà như trút đi biết baogánh nặng tâm trạng đang đè nặng trong Tràng, lời nói ấy như một sự chiêu tuyếtcho giá trị của cô vợ nhặt Câu nói ấy của bà làm cuộc hôn nhân của Tràng và thịkhông còn là chuyện nhặt nhau ở đường và chợ nữa mà là duyên phận Cách nóigiản dị mà chan chứa tình người quả thực đã làm ấm lòng những số phận tộinghiệp Thị và Tràng dường như cũng sẽ ấm lòng hơn khi kinh nghiệm của mộtngười mẹ từng trải nói “ai giàu ba họ, ai khó ba đời” Bà động viên an ủi con trai

và con dâu cùng nhau bước qua khó khăn đói khổ trước mắt mà lòng đầy thươngxót

Trang 28

- Nhưng sau những lời động viên ấy ta lại thấy Kim Lân để nhân vật bà cụ Tứ quay

về với chính cuộc đời mình để mà lo lắng cho hạnh phúc thực tại của hai con.

Điều mà bà lo không phải là “sự hợp nhau hay không hợp nhau” giữa hai người màđiều mà người mẹ ấy lo lắng đó là, cái đói đang đe dọa hạnh phúc của con bà.Trong bóng tối, bà nghĩ về cuộc đời dài dằng dặc của đời mình, cuộc đời củanhững người thân để mà thấu hiểu, thương xót rồi “nghẹn lời” chỉ có dòng nướcmắt chảy xuống ròng ròng

- Hạnh phúc mới của con làm bà cụ Tứ được vui lây, bà động viên an ủi các con, nghĩ về một tương lai tươi sáng phía trước:

+ Khuôn mặt của bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, bà xăm xắn quét dọn,

giẫy những búi cỏ dại nham nhở trong vườn, thu dọn nhà cửa cho quang quẻ với

hy vọng đời sẽ có cơ khấm khá

+ Trong bữa ăn đầu tiên, mâm cơm ngày đói sao thảm hại: chỉ có một lùm rauchuối thái rối, một đãi muối, một niêu cháo lõng bõng toàn nước và món chính làchè khoán - cháo cám nhưng không khí gia đình thật ấm áp, tình chồng vợ, tình mẹcon- những nguồn động lực lớn lao ấy giúp họ tăng thêm sức mạnh để vượt quathực tại

+ Bà cụ Tứ toàn nói chuyện của tương lai, toàn chuyện vui, chuyện sung sướng vềsau Bà lão bàn với con tính chuyện nuôi gà, ngoảnh đi ngoảnh lại sẽ có đàn gà cho

mà xem Câu chuyện của bà lão bất giác làm cho ta nhớ lại bài ca dao miền mười cái trứng Cũng giống như tất cả những người bình dân xưa, bà lão đang gieovào lòng các con bà niềm lạc quan, niềm tin và hi

Trung-vọng Từ đàn gà mà có tất cả Khát vọng sống bật lên ngay cả trong hoàn cảnhkhốn cùng nhất “chớ than phận khó ai ơi- Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”

- Song niềm vui của bà cụ Tứ cũng thật tội nghiệp Miếng cháo cám đắng chát

và tiếng trống thúc thuế dồn dập vội vã đưa bà cụ Tứ trở về với thực tại với

tiếng nói xen lẫn cả hơi thở dài trong lo lắng: “Đằng thì nó bắt giồng đay, đằng thì

nó bắt đóng thuế Giời đất này không chắc đã sống được qua được đâu các con ạ”!

Và bà lại khóc, tình thương con lại hiện hình qua những giọt nước mắt lặng lẽ tuônrơi

Với sự thấu hiểu, với sự đồng cảm, Kim Lân đã dựng lên hình ảnh bà cụ người mẹ thương con, nhân hậu, bao dung Trong hoàn cảnh đói nghèo, bà vẫndang rộng cánh tay đón nhận người con dâu mặc dù trong lòng còn nhiều xót xa,tủi cực, vẫn gieo vào lòng các con ngọn lửa sống trong hoàn cảnh tối tăm của xãhội lúc bấy giờ

Tứ-6 Giá trị hiện thực, nhân đạo

6.1 Giá trị hiện thực:

- Truyện đã dựng lại một cách chân thực những ngày tháng bi thảm trong lịch sử

dân tộc, đó là khoảng thời gian diễn ra nạn đói năm 1945 :

Trang 29

+ Cái chết đeo bám, bủa vây khắp mọi nơi

+ Dòng thác người đói vật vờ như những bóng ma

+ Cái đói đã tràn đến xóm ngụ cư từ lúc nào

+ Âm thanh của tiếng quạ gào lên từng hồi thê thiết

+ Xóm ngụ cư, với những khuôn mặt hốc hác, u tối

+ Cái đói hiện lên trong từng nếp nhà rúm ró, xẹo xệch, rách nát

+ Cái đói hiện hình trên khuôn mặt của chị vợ nhặt

+ Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại

- Truyện phơi bày bản chất tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhận đã gây ranạn đói năm 1945

- Tuy nhiên, còn có một hiện thực được phản ánh trong tác phẩm: hiện thực mangtính xu thế, đó là tấm lòng của người dân khi đến với cách mạng

6.2 Giá trị nhân đạo

+ Thái độ đồng cảm xót thương với số phận của người lao động nghèo khổ.+ Lên án tội ác dã man của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đóikhủng khiếp

+ Trân trọng tấm lòng nhân hậu, niềm khao khát hạnh phúc bình dị nhữngngười lao động nghèo

+ Dự báo cho những người nghèo khổ con đường đấu tranh để đổi đời, vươntới tương lai tươi sáng

7 Nghệ thuật

- Xây dựng tình huống truyện độc đáo

- Lối trần thuật tự nhiên, hấp dẫn làm nổi bật sự đối lập giữa hoàn cảnh vàtính cách nhân vật

- Tạo không khí và dựng thoại rất hấp dẫn, ấn tượng

- Nhân vật được khắc hoạ sinh động đặc biệt là ngòi bút miêu tả tâm lý nhânvật tinh tế

- Ngôn ngữ : Bình dị, đời thường nhưng có chắt lọc kỹ lưỡng, có sức gợi vàđậm chất Bắc Bộ

8 Chủ đề

Qua truyện “Vợ nhặt”, Kim Lân muốn khẳng định : trong những hoàn cảnhkhó khăn nhất, ngay cả khi cái chết liền kề, những người dân lao động nghèo khổ,lương thiện vẫn yêu thương, đùm bọc lấy nhau, vẫn khát khao mái ấm hạnh phúcgia đình và hy vọng vào một cuộc sống mới tốt đẹp hơn

B THỰC HÀNH

Đề 1 : Hình ảnh người vợ nhặt trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân

Trang 30

Mở bài :

Kim Lân là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn xuôi hiện đạiViệt Nam trước và sau Cách mạng tháng Tám Một trong những tác phẩm tiêu biểucủa Kim Lân được viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công là truyện

ngắn “Vợ nhặt”,được in trong tập truyện “Con chó xấu xí” Đây là tác phẩm mà

Kim Lân đã tái hiện thành công bức tranh ảm đạm và khủng khiếp về nạn đói ẤtDậu (1945) của nước ta

Trên cái nền tăm tối và đau thương ấy, nhà văn đã đặt vào đó hình ảnh của nhân vật người vợ nhặt : nghèo đói, bất hạnh nhưng lại có một khát vọng sống mãnh liệt Điều đó được thể hiện qua việc chị chấp nhận theo không một người đàn

ông về làm vợ giữa ngày đói

Thân bài :

*Trước hết, về cảnh ngộ, xuất hiện trong tác phẩm, người vợ nhặt chỉ là một con số không tròn trĩnh: không tên tuổi, không quê hương, không gia đình, không nghề nghiệp…

Từ đầu đến cuối tác phẩm chị chỉ được gọi bằng “thị”- một cách gọi phiếm

định giành cho chị và tất cả những người phụ nữ có cảnh ngộ và số phận đáng

thương và tội nghiệp như chị.

Không những vậy, chân dung của người phụ nữ ấy hiện ra ngay từ đầu là những

nét không mấy dễ nhìn: đó là hình ảnh của người đàn bà gầy vêu vao, ngực gầy lép, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt, quần áo thì rách như tổ đỉa.

ngang miệng và khen ngon…

Có thể nói, tất cả những biểu hiện trên của thị suy cho cùng cũng là vì đói.Cái

đói trong một lúc nào đó nó có thể làm biến dạng tính cách của con người.Nói điều này, chắc chắn nhà văn thật sự xót xa và cảm thông cho cảnh ngộ đói nghèo

của người lao động

- Khi trở thành vợ Tràng, thị đã trở về với chính con người thật của mình là

một người đàn bà hiền thục, e lệ, lễ phép, đảm đang

Điều đó được thể hiện qua dáng vẻ bẽn lẽn đến tội nghiệp của thị khi bên Tràng vào lúc trời chạng vạng ( thị đi sau Tràng ba bốn bước, cái nón rách che

Trang 31

nghiêng, “rón rén, e thẹn, ngượng nghịu,“chân nọ bước díu cả vào chân kia”…) thật tội nghiệp cho cảnh cô dâu mới theo chồng về nhà: một cảnh đưa dâu

không xe hoa, chẳng pháo cưới mà chỉ thấy những khuôn mặt hốc hác u tối củanhững người trong xóm và âm thanh của tiếng quạ, tiếng khóc hờ người chết tangthương…

- Sau một ngày làm vợ, chị dậy sớm, quét tước, dọn dẹp cho căn nhà khang

trang, sạch sẽ Đó là hình ảnh của một người vợ biết lo toan, thu vén cho cuộc sốnggia đình – hình ảnh của một người vợ hiền, một cô dâu thảo

- Trong bữa cơm cưới giữa ngày đói, chị tỏ ra là một phụ nữ am hiểu về thời

sự khi kể cho mẹ và chồng về câu chuyện ở Bắc Giang người ta đi phá kho thóc

của Nhật Chính chị đã làm cho niềm hy vọng của mẹ và chồng thêm niềm hy vọngvào sự đổi đời trong tương lai

Đề 2 Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.

Mở bài :

Kim Lân là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn xuôi hiện đại ViệtNam trước và sau Cách mạng tháng Tám Một trong những tác phẩm tiêu biểu củaKim Lân được viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công là truyện ngắn

“Vợ nhặt”,được in trong tập truyện “Con chó xấu xí” ây là tác phẩm mà Kim Lân

đã tái hiện thành công bức tranh ảm đạm và khủng khiếp về nạn đói Ất Dậu( 1945) của nước ta

Trên cái nền tăm tối và đau thương ấy, nhà văn đã đặt vào đó hình ảnh của nhânvật Tràng: nghèo đói,bất hạnh nhưng giàu tình người và khát vọng hạnh phúc.Điều

đó được thể hiện qua chính câu chuyện nhặt vợ của anh giữa ngày đói

Thân bài :

* Thật vậy, xuất hiện trong tác phẩm, Tràng vốn là một gã trai nghèo, sống ở

xóm ngụ cư, có mốt mẹ già và làm nghề đẩy xe bò mướn Đã vậy, Tràng lại có một ngoại hình xấu xí, thô kệch với “ cái đầu trọc nhẵn”; “cái lưng to rộng như lưng gấu”; “ hai con mắt gà gà, nhỏ tí”lúc nào cũng đắm vào bóng chiều của hoàng hôn.Thêm vào đó, tính tình của Tràng lại có phần “dở hơi” nhưng tốt bụng, hay vui đùa với trẻ con trong xóm Có thể nói, Tràng có một cảnh ngộ thật bất hạnh và tội nghiệp

Trang 32

* Vậy mà, con người có thân phận thấp hèn ấy bỗng nhiên lại trở thành một chú rể

có thể coi là hạnh phúc: Tràng bỗng dưng có vợ.

- Tràng có vợ bằng cách “nhặt” được chỉ qua hai lần gặp gỡ, vài câu nói đùa vàbốn bát bánh đúc giữa ngày đói Qủa thật, chuyện lấy vợ của Tràng là một lạ màthú vị - đùa mà thật , thật mà cứ như đùa

- Lúc đầu, khi người phụ nữ đói nghèo, rách rưới đồng ý theo không Tràng về làm

vợ, Tràng không phải không biết “chợn”: “Thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng” Nhưng rồi anh ta chặc lưỡi

“Chậc,kệ!”.Có vẻ như một quyết định không nghiêm túc như phóng lao phải theo

lao vậy

Việc hai người đến với nhau bề ngoài có vẻ ngẫu nhiên nhưng bên trong lại là

tất nhiên: Người đàn bà cần Tràng để có một chỗ dựa qua thì đói kém, còn Tràng

cũng cần người phụ nữ nghèo ấy để có vợ và để biết đến hạnh phúc

- Trên đường đưa vợ về nhà, Tràng thật sự vui và hạnh phúc: “Trong một lúc,

Tràng như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả đói khát đang đe doạ….Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông ấy…” Có thể nói, trong tác phẩm, có tới hơn hai mươi lần nhà văn nhắc đến niềm

vui và nụ cười thường trực của Tràng khi đã có vợ bằng các từ ngữ rất gợi tả và gợicảm: mặt phớn phở, mắt sáng lên lấp lánh, miệng cười tủm tỉm…

- Chỉ sau một đêm “nên vợ nên chồng” Tràng thấy mình đổi khác “ trong người

êm ái , lửng lơ như người từ giấc mơ đi ra.”.Tràng “ bỗng nhiên thấy thương yêu

và gắn bó với căn nhà”; …Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, thấy hắn có bổn phận phải lo cho vợ con sau này…”

- Niềm vui của Tràng thật cảm động, lẫn lộn cả hiện thực lẫn ước mơ “Hắn xăm

xăm chạy ra giữa sân, hắn muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà”.So với cái dáng “ngật ngưỡng” của Tràng ở đầu tác phẩm, hành động “xăm xăm” này của Tràng là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả số

phận lẫn tính cách của Tràng :từ đau khổ sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêuđời, từ ngây dại sang ý thức.Tràng đã thật sự “phục sinh tâm hồn”- đó chính là giátrị lớn lao của hạnh phúc

- Ở cuối tác phẩm, trong suy nghĩ của Tràng “cảnh những người nghèo đói ầm

ầm kéo nhau đi trên đê Sộp.Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm”.Đoàn người đi phá kho

thóc của Nhật và lá cờ Việt Minh.Đây là hiện thực nhưng cũng là ước mơ về mộttương lai hướng về Đảng về cách mạng của Tràng và những người nhưTràng => Qua nhân vật Tràng, Kim Lân đã bộc lộ được khả năng miêu tả tâm lýnhân vật và ngòi bút nhân đạo sâu sắc của nhà văn

Kết bài:

- Tóm lại, Kim Lân miêu tả tâm trạng nhân vật Tràng xoay quanh tình huống nhặt

vợ hết sức đặc biệt.Cũng từ đó, hình tượng nhân vật Tràng có vai trò lớn trong việc

Trang 33

thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm :Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết mà luôn nghĩ đến sự sống.

- Cũng qua Tràng và câu chuyện nhặt vợ của anh, nhà văn giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của nhựng người dân lao động nghèo : đó là vẻ đẹp tình

người và niềm tin tưởng vào tương lai

Đề 3: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.

Mở bài :

- Kim Lân là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn xuôi hiện đạiViệt Nam trước và sau Cách mạng tháng Tám Một trong những tác phẩm tiêu biểucủa Kim Lân được viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công là truyện

ngắn “Vợ nhặt”,được in trong tập truyện “Con chó xấu xí” ây là tác phẩm mà Kim

Lân đã tái hiện thành công bức tranh ảm đạm và khủng khiếp về nạn đói Ất Dậu( 1945) của nước ta

- Trên cái nền tăm tối và đau thương ấy, nhà văn đã viết rất hay về tâm trạng của bà cụ Tứ - một người mẹ già, nghèo khổ nhưng giàu tình thương con và giàu lòng nhân hậu.

Thân bài :

*Khái quát về cuộc đời của bà cụ :Trước hết, xuất hiện trong tác phẩm, bà cụ Tứ hiện lên là một người mẹ có một cuộc đời thật nhiều thương cảm: nhà nghèo, goá

bụa, sống gian khổ, thầm lặng.

* Bối cảnh – tình huống và diễn biến tâm trạng của bà cụ: Bà cụ Tứ lần đầu

tiên xuất hiện trong thiên truyện là lúc bóng hoàng hôn tê tái phủ xuống xóm Ngụ

cư giữa ngày đói Cùng lúc đó, người con trai đáng thương của bà làm nghề đẩykéo xe trên huyện, đưa một người đàn bà lạ về nhà

- Lúc đầu bà ngỡ ngàng trước việc có một người phụ nữ lạ xuất hiện trong nhà

mình Trạng thái ngỡ ngàng của bà cụ được nhà văn diễn tả bằng hàng loạt những

câu nghi vấn : “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con trai mình thế kia? Sao lại chào mình mình bằng u? ”

Thái độ ngạc nhiên của người mẹ, phải chăng cũng là nỗi đau của nhà văn trước

một sự thật: chính sự cùng quẫn của hoàn cảnh đã đánh mất ở người mẹ sự nhạy

cảm vốn có trước hạnh phúc của con

- Sau khi hiểu ra là con trai đã có vợ, bà lão không nói gì mà chỉ “cúi đầu im

lặng”- một sự im lặng chứa đầy nội tâm : đó là niềm xót xa, buồn vui, lo lắng,thương yêu lẫn lộn Bà mẹ đã tiếp nhận hạnh phúc của con bằng kinh nghiệmsống, bằng sự trả giá của một chuỗi đời nặng nhọc, bằng ý thức sâu sắc trước hoàncảnh

Trang 34

- Bằng lòng nhân hậu thật bao dung của người mẹ, bà nghĩ :“Biết rằng chúng

nó có nuôi nổi nhau qua được cơn đói khát này không?”.Trong chữ “chúng nó” ,

người mẹ đã đi từ lòng thương con trai để ngầm chấp nhận người đàn bà lạ làmcon dâu của mình

- Rồi tình thương lại chìm vào nỗi lo , tạo thành một trạng thái tâm lý triền miên

day dứt: bà nghĩ đến bổn phận chưa tròn , nghĩ đến ông lão, đến con gái út, nghĩđến nỗi khổ của đời mình, nghĩ đến tương lai của con …để cuối cùng dồn tụ bao lo

lắng – yêu thương trong một câu nói giản dị: “ Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá”.

* Đặc biệt là sau một ngày con trai có vợ, người mẹ giàu lòng thương con ấy

thật sự vui và hạnh phúc trước hạnh phúc của con:

-Bà cùng con dâu dọn dẹp, thu vén căn nhà; trong bữa cơm ngày đói, bà toàn nóichuyện vui để xua đi thực tại hãi hùng, để nhen nhóm niềm tin vào cuộc sống cho

con:“ Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà ”.

- Thật cảm động, khi Kim Lân để cái ánh sáng kỳ diệu của tình mẫu tử toả ra từ

nồi cháo cám: “Chè khoán đây, ngon đáo để cơ”.Chữ ‘ngon” này không phải là xúc cảm về vật chất ( xúc cảm về vị cháo cám) mà là xúc cảm về tinh thần : ở người mẹ, niềm tin về hạnh phúc của con biến đắng chát của cháo cám thành ngọt ngào

=> Chọn hình ảnh nồi cháo cám, Kim Lân muốn chứng minh cho cái chất NGƯỜI của người dân lao động: trong bất kỳ hoàn cảnh nào , tình nghĩa và hy

vọng của con người vẫn không thể bị tiêu diệt – con người vẫn muốn sống cho ra

sống.Chính chất NGƯỜI đã thể hiện ở cách sống tình nghĩa và hy vọng Tuy nhiên niềm vui của bà cụ Tứ trong hoàn cảnh ấy vẫn là niềm vui tội nghiệp, bởi thực tại vẫn nghiệt ngã với nồi cháo cám “đắng chát và nghẹn bứ”.

Kết bài :

- Có thể nói, nhân vật bà cụ Tứ là một nhân vật tiêu biểu cho vẻ đẹp tình người

và lòng nhân ái mà Kim Lân đã gửi gắm trong tác phẩm “ Vợ nhặt”.Thành công

của nhà văn là đã thầu hiểu và phân tích được những trạng thái tâm lý khá tinh

tế của con người trong một hoàn cảnh đặc biệt Vượt lên hoàn cảnh vẫn là một vẻđẹp tinh thần của những người nghèo khổ

=>“Vợ nhặt” là ca về tình người của những người nghèo khổ, đã biết sống cho

ra người ngay giữa thời túng đói quay quắt

Đề 4 Phân tích vẻ đẹp nhân vật Tràng qua đoạn trích sau:

“…Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra.Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải.

(….)

Trang 35

Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà…”.

(Trích Vợ nhặt – Kim Lân, Ngữ văn 12, tập hai NXB

Giáo dục, 2008) Bài làm tham khảo

(Sưu tầm)

“Vợ Nhặt” là truyện ngắn được trích trong tập truyện “Xóm ngụ cư” của nhàvăn Kim Lân Câu truyện kể về nhân vật anh cu Tràng một người nông dân hiềnlành chất phác trong nghịch cảnh lại có được hạnh phúc lứa đôi.Không chỉ xâydựng nhân vật thành công qua nét tính cách và ngoại hình, Kim Lân còn khắc họarất thành công diễn biến tâm trạng của nhân vật này Đặc biệt thông qua đoạn trích:

“…Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, … Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà…”.

Vợ Nhặt được lấy bối cảnh từ nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu 1945 khi màđất nước ta óc đến 2 triệu người chết đói.Nhân dân ta chịu cảnh áp bức một cổ haitròng.Ở miền Bắc, phát xít Nhật bắt dân ta phải nhổ lúa trồng đay Thực dân Phápthì ra sức vơ vét thóc gạo của người nông dân Hậu quả là đến cuối năm 1945,người dân rơi vào thảm cảnh bi thương khi hàng triệu người bị chết đói.Đây đượcxem là nạn đói lớn nhất trong lịch sử Nhưng kỳ lạ thay ngay cả trong hoàn cảnhđói khát tăm tối nhất khi người ta cận kề bên miệng vực của cái chết thì những conngười lao động Việt Nam vẫn lạc quan hướng về tương lai hạnh phúc hơn

Nhân vật Tràng trong truyện ngắn được miêu tả là một gã trai nghèokhổ.Nghèo đến tột cùng cái nghèo đấy được thể hiện qua “chiếc áo nâu tang”, ngôinhà thì “vắng teo đứng rúm ró bên mảnh vườn mọc lổm nhổm những búi cỏ dại”

Và Tràng chỉ là một gã kéo xe bò thuê Đến cái tên của hắn cũng thể hiện sự thôkệch nghèo khó Ngòi bút của Kim Lân đã khắc họa nhân hình của Tràng một cáchrất sống động:”hai mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnhra” Bộ mặt thô kệch, thân hình to lớn, vạm vỡ, cái đầu thì trọc lốc…Dưới ngòi bútcủa Kim Lân, hắn chỉ như một bức chân dung vẽ vội một hình hài được tạo hóađẽo gọt quá ư sơ sài, cẩu thả Không chỉ xấu xí mà cái sự nghèo khổ còn khiến chohắn bị dở tính có tật “vừa đi vừa nói” Hắn hay “lảm nhảm than thở những điềuhắn nghĩ” thỉnh thoảng còn “ ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch”

Trang 36

Trong cái cơn thóc cao gạo kém đó, một người vừa xấu xí lại nghèo nhưTràng không ai có thể hình dung được là hắn có thể có vợ Mà hoàn cảnh lấy được

vợ cũng hết sức thú vị Hắn nhặt được vợ trên đường đi đẩy xe bò trở thóc về nhà.Thị đã theo hắn về nhà sau lời mời chào tưởng như bông đùa và bốn bát bánh đúc

ở chợ huyện

Kim Lân đã dành rất nhiều trường đoạn để miêu tả diễn biến của nhân vậtTràng sau khi nhặt được vợ Đầu tiên khi nghe những lời hàng xóm xì xầm, bàntán chê bai:”chao ôi, thời buổi nào còn rước cái của nợ ấy về, có nuôi nổi nhausống qua ngày không?”.Nhưng Tràng nghe thấy thế cũng chỉ “Chậc Kệ” giờ đâyhắn chỉ còn “tình nghĩa với người đàn bà đi kế bên” Hắn tủm tỉm cười hai mắtsáng lấp lánh mơ về niềm hạnh phúc tương lai

Buổi sáng hôm sau khi Tràng thức dậy tâm trạng của hắn thực sự thay đổi.Niềm vui lâng lâng trong người khi hắn nhìn thấy nhà cửa dọn sạch sẽ tinhtươm.Mẹhắn đang nhổ cỏ vườn.Vợ đang quét sân tiếng chổi vang lên đềuđều.Bỗng nhiên, hắn cảm thấy yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn một cách lạlùng.Thế là từ đây hắn đã có một gia đình, hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ởđây.Cái nhà sẽ trở thành nơi che mưa che nắng cho vợ chồng hắn Một nguồn sungsướng và phấn chấn dâng lên trong lòng Tràng Lúc này, Tràng cũng biết bổn phậncủa người đàn ông trong gia đình cần lo lắng cho vợ Hắn cũng chạy xăm xăm ragiữa sân và tham dự vào một phần giúp tu sửa căn nhà Chỉ trong một đoạn vănngắn ngủi mà Kim Lân đã lột tả được tâm trạng của nhân vật Tràng Từ bất ngờ,

bỡ ngỡ cho đến hạnh phúc tột cùng khi biết mình đã có gia đình

Thông qua đoạn trích trên ta thấy nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắccủa nhà văn Kim Lân Với những ngôn từ mộc mạc, giản dị dậm chất nông thôn cóthêm sự gia công sáng tạo của nhà văn Cùng lối kể truyện hấp dẫn sinh động giúpchúng ta hiểu thêm phần nào về nhân vật anh cu Tràng Một người nông dân tuysống trong hoàn cảnh nghèo khó, khổ cực nhưng chưa bao giờ từ bỏ mơ ước vềmột cuộc sống hạnh phúc sau này Đó chính là tư tưởng nhân đạo được nhà vănkhéo léo lồng ghép vào trong tác phẩm

Đề 5 Phân tích (diễn biến tâm lí) nhân vật bà cụ Tứ qua một đoạn văn bản.

Bài làm tham khảo

(1) Thiên tài văn học Anh - George Bernard Shaw từng nói “Vũ trụ có nhiều

kì quan, nhưng kì quan tuyệt diệu nhất vẫn là trái tim người mẹ” Quả đúng như vậy, hình tượng người mẹ đã trở thành một tượng đài nghệ thuật, trở đi trở lại

Trang 37

trong các tác phẩm văn chương mà chưa bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng thi

ca của người nghệ sĩ Độc giả từng biết đến hình ảnh người mẹ khổ đau mà kiên cường bất khuất trong “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi Hay hình ảnh một người mẹ cam chịu, giàu đức hi sinh trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu Và trong tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân ta cũng

bắt gặp hình tượng bà cụ Tứ -người mẹ nông dân thuần hậu, chất phác, hết lòng yêu thương con Chính sức mạnh của tình mẫu tử, của tình người đẹp đẽ ở bà là

ngọn lửa làm bừng sáng không gian, xua đi cái tối tăm, hãi hùng của kiếp phận, thắp lên niềm tin vào sự sống, vào tình người trong cái đói Vẻ đẹp ấy được thể hiện sâu đậm qua đoạn văn bản được trích dẫn: “…”

(2) Bối cảnh của câu chuyện “nhặt vợ” là nạn đói khủng khiếp năm 1945 Bóng đen chết chóc đã “ đã tràn đến”, phủ xuống khắp các xóm làng, gây nỗi kinh hoàng cho người dân nước Việt Trong cái cảnh “tối sầm lại” vì đói khát ấy, nhân vật của Kim Lân hiện lên mang thông điệp đầy ý nghĩa: “ trong sự túng đói quay quắt , trong bất cứ hoàn cảnh khốn khổ nào người nông dân ngụ cư vẫn khao khát vươn lên trên cái chết, cái thảm đạm để mà vui để mà hi vọng” Bà cụ Tứ, dù là nhân vật phụ, xuất hiện sau cùng trong tác phẩm nhưng lại góp tiếng nói đầy đủ nhất, sâu sắc nhất, để lại ấn tượng khó phai trong lòng người đọc

(3) Nếu nhân vật Tràng hiện ra trong tâm trí độc giả là một người trai “ngờ nghệch”, với cái cười” hềnh hệch” vô tư lự thì bà cụ Tứ lại hiện ra với bao nhiêu cái khắc khổ hằn in trên “khuôn mặt bủng beo u tối”, hằn in trên cái dáng người

“lọng khọng” già nua của mình “Từ ngoài rặng tre, bà lọng khọng đi vào”, “vừa đivừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng” Và đặc biệt, qua diễn biến tâm lí phức tạp khi bà lão đón nhận tin bất ngờ: con trai bà có vợ, thì những phẩm chất tốt đẹp cứ thế được bộc lộ thật mộc mạc, tự nhiên và đáng trân trọng

(4) Trước hết, đó là thái độ ngỡ ngàng, ngạc nhiên đến tội nghiệp của bà cụ

khi bà nhìn thấy bóng dáng của người đàn bà trong cái túp lều xiêu vẹo của mình Trong đầu bà xuất hiện hàng loạt các câu hỏi thắc mắc “Quái sao lại có người đàn

bà nào trong ấy nhỉ?” “Sao người đàn bà này lại đứng ngay đầu giường của con trai mình thế kia” và thật lạ kì “sao lại chào mình bằng u”, “ ai thế nhỉ” Thậm chí,

càng nghi vấn bà càng bối rối ngỡ ngàng “ Ô hay thế là thế nào nhỉ?” Phải lâu

lắm, từ “phấp phỏng” lo âu, hồi hộp, “lập cập” bước vào nhà, rồi “hấp háy” cặp mắt cho đỡ nhoèn ra, cho đến khi Tràng nói rõ rằng: “ Kìa nhà tôi nó chào u!”

“Nhà tôi nó về làm bạn với tôi đấy u ạ”, bà cụ mới hiểu ra mọi chuyện Phải

chăng, chính sự cùng quẫn của hoàn cảnh đói khổ đã đánh mất ở người mẹ sự nhạy cảm đáng lẽ rất dễ dàng nhận biết đó?

(5) Người mẹ nghèo một đời khốn khó như vậy làm sao có thể không ngạcnhiên cho được khi bà đã hiểu ra cơ sự này “Bà lão cúi đầu nín lặng” Bà lão hiểu

ra biết bao nhiêu cơ sự: “vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình” Đó

Trang 38

là cảm giác đau đớn, bế tắc của một người mẹ thương con nhưng chịu bất lực

trước thời cuộc “ Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng là lúc trong nhà ăn nên làm

nổi Còn mình thì…”Dường như bà lão day dứt bởi mình chưa làm tròn bổn phận

“dựng vợ gả chồng” cho con Sự tủi cực khiến bà không ngăn nổi dòng nước mắt:

“ Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt” Giọt nước mắt củanỗi ai oán, thương mình, thương con, bà cụ Tứ không nỡ để người phụ nữ tộinghiệp kia nhìn thấy mà chạnh lòng Rõ ràng, trong nỗi đau của bản thân, bà lão

vẫn luôn nghĩ cho người khác

(6) Sau giây phút trấn an mình, bà lão cũng ngẩng mặt lên đối diện với sựthật Bà “đăm đăm nhìn người đàn bà” bằng ánh mắt cảm thông, thương xót

“Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ người ta mới lấy đến con mình, mà con

mình mới có được vợ” Suy nghĩ xuất phát từ tấm lòng người mẹ thấu hiểu lẽ đời,

luôn sẵn lòng cảm thông cho những người cùng cảnh ngộ của bà Nhớ lại tác phẩmChí Phèo, giá như bà cô Thị Nở có một chút lòng trắc ẩn, cảm thông của bà cụ Tứ

mà chấp nhận mối quan hệ “xứng lứa vừa đôi” của cháu mình thì đâu đến nỗi ChíPhèo phải chết! Thế mới thấy được phẩm chất tốt đẹp của bà cụ Tứ, mới thấy đượctình người có giá trị lớn lao và cần thiết trong xã hội đến nhường nào!

(7) Không chỉ biểu hiện bằng ánh mắt, bằng suy nghĩ, bà còn bộc bạch tâm

sự rất chân thành: “Thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũngmừng lòng…” Trong câu nói đầu tiên với nàng dâu mới, bà lão đã gọi người đàn

bà xa lạ là “con”, và đổ thừa cho tại duyên số đưa đến tình huống éo le này chứkhông phải do cái đói, không phải vì “miếng ăn” Cách động viên khéo léo ấy đãkhiến nàng dâu mới không cảm thấy bẽ bàng, đường đột nữa Và quan trọng hơnhết, bà khẳng định, việc đã rồi này đem lại niềm vui, niềm phấn khởi, khiến bà

“mừng lòng” - cái niềm vui mang lại lớn lao, bất ngờ là thế nhưng bị nạn đói đènén đến không thể cười được

(8) Chấp nhận sẽ gánh thêm cái khổ, cái đói, cái nghèo cùng với các con, bà

cụ sửa soạn cho các con một tâm lí sẵn sàng đón nhận khó khăn trước mắt Cáicách bà cụ Tứ dặn dò đôi vợ chồng trẻ thật khiến con người ta cảm phục “ Nhà tathì nghèo con ạ Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn” Bà nhẹ nhàngđộng viên nàng dâu: “ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Rồi ra thì con cái chúng mày về

sau.” Sự ân tình, chu đáo của người mẹ thật đáng quý, bởi khi gặp hiểm nguy,

thường người ta chỉ nghĩ thoát hiểm bằng mọi giá Cách ứng xử của bà cụ lại cho

ta thấy rằng có những thứ còn đáng quý hơn sự sống còn - đó là tình người.

(9) Dặn dò và an ủi con hết lời “Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u

mừng rồi!”, nhưng bà lão cũng không che giấu nổi nỗi lo lắng về tương lai mờ mịt:

“Năm nay thì đói to đấy Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá.” Câu nói mộc

Trang 39

mạc từ gan ruột người phụ nữ từng trải qua cuộc đời dài dằng dặc trong nghèo đóikhiến người ta rùng mình sợ hãi Bà lão lại khóc Không phải là giọt nước mắt củatủi thân tủi phận “rỉ xuống” lặng lẽ, âm thầm, mà là nước mắt cứ chảy xuống “ròng

ròng” Giọt nước mắt của tình yêu thương, của sự sẻ chia khốn khó không cần

ngăn lại, nó mặc sức tuôn trào như tình cảm dạt dào của người mẹ nhân hậu, vị tha

(10) Nhà văn Kim Lân vẫn luôn tin tưởng rằng “những người đói dù thế nào

đi nữa vẫn luôn luôn khao khát cuộc sống tốt hơn, vẫn tin tưởng một cách mơ hồvào cuộc sống tương lai.” Có lẽ, bởi thế mà bà cụ Tứ vẫn giữ được thái độ lạc quanđón chào cuộc sống mới Bà lão đã dậy thật sớm cùng con dâu quét dọn nhà cửa “Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nền nếp thìcuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn.” Rồi, trong bữa cơm ngàyđói thật thảm hại, bà lão vẫn nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về saunày Bà tính đến tương lai rộng mở của các con: “có tiền mua đôi gà về nuôi…ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà” Những câu chuyện lạc quan vềcuộc sống như luồng gió mát lành thổi vào tâm hồn hai con, vực dậy niềm hamsống trong họ

(11) Nhưng cuộc sống không hề đơn giản như cách bà lão tính chuyện nuôi đàn gà Bởi dù có lạc quan thế nào thì thần chết đã hiển hiện trong mâm cơn đãi nàng dâu mới ấy Người đọc không nén nổi xúc động khi hình dung dáng người còm cõi, “lọng khọng” của bà cụ khi “lễ mễ” bưng ra nồi cháo cám nghi ngút khói

Cái “đon đả mời gọi của bà cụ “Chè khoái đây, ngon đáo để cơ!” không phải để

gây cười cho các con mà đó là niềm vui thực sự của bà khi nỗ lực chống đói và cái

cười trừ có phần áy náy vì gia cảnh của mình trước nàng dâu:“Hì, cám đấy mày ạ, xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy” Nhìn cách mà bà cụ Tứ đối đãi với

nàng dâu, cách bà trao yêu thương, khích lệ lòng tin yêu cuộc sống, trở thành chỗ dựa tinh thần cho các con, ta thấy đáng trân trọng biết bao!

(12) Trước thái độ ân cần, đon đả của người mẹ, nồi cháo cám vốn là hiện

thân của cái đói, của chết chóc đang cận kề bỗng chốc trở thành món ăn đong đầy tình thương yêu Dù miếng cám đắng chát có khiến cho đôi mắt của thị “tối lại”, khiến cho cổ họng Tràng “nghẹn bứ”, và bữa ăn trở nên lặng lẽ đi nữa thì họ đều

hiểu rằng đó là nỗ lực lớn lao của mẹ thương con trong cơn bĩ cực ấy

(13)Cái gọi đùa “chè khoán” của bà cụ Tứ không đủ vui để xua tan cái tử khínặng nề trong bữa ăn mà nó lại chỉ càng khiến nỗi tủi hờn, lo sợ len lỏi sâu trong tâm trí các con Người vợ nhặt sợ hãi hoảng hốt khi nghe tiếng trống thúc thuế Tràng thì băn khoăn về chiếc lá cờ đỏ bay phấp phới Còn bà lão thì “ngoảnh vội rangoài Bà lão không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc.” Một lần nữa, bà cụ Tứ lại khóc Lần này là khóc bởi lo lắng và bế tắc: “Giời đất này không chắc đã sống qua được đâu các con ạ” Đó là nỗi đau của người mẹ thương con hết lòng mà chỉ biết

Trang 40

ngồi chờ cái chết mang họ đi Càng đau đớn xót xa bao nhiêu, người đọc càng trân trọng và thương mến bà cụ Tứ bấy nhiêu!

(14) Bằng cái nhìn đầy nhân hậu của con người “một lòng đi về với đất”,

với “thuần hậu nguyên thủy”, qua đoạn trích, Kim Lân đã khắc họa diễn biến tâm

lý nhân vật bà cụ Tứ thật chân thực, tỉ mỉ mà sâu sắc, Qua đó, tác giả làm nổi bật

vẻ đẹp tâm hồn nhân hậu, bao dung, giàu lòng nhân ái, thương con vô hạn, hết lòngvun đắp cho các con được hạnh phúc của Bà cụ Tứ - một hình mẫu tiêu biểu cho

vẻ đẹp người mẹ Việt Nam Nhân vật cũng góp phần thể hiện rõ cái nhìn đầy nhân

ái của nhà văn về con người: “Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn

hi vọng, tin tưởng ở tương lai Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người” Có lẽ, chính thông điệp ý nghĩa ấy đã làm nên giá trị lâu bền cho kiệt tác này!

Đề 6

Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ Người chết như ngả rạ Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường Không khí vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.

Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh.

[ ] Nhìn theo bóng Tràng và bóng người đàn bà lủi thủi đi về bến, người trong xóm lạ lắm Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán Hình như họ cũng hiểu được đôi phần Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên.

Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ.

(Trích Vợ nhặt, Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập hai, Nxb GD, 2016, trang 24-25;

Cảm nhận của anh/chị về đoạn trích trên Từ đó, hãy bình luận về giá trị nhân đạo của tác phẩm

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài Phần Mở bài

biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức

thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn

đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức

của cá nhân

Ngày đăng: 27/03/2022, 06:20

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w