Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục các trường phổ thông ngoài công lập Hà Nội trong giai đoạn hiện nay Nguyễn Như Hòa Trường Đại học Giáo dục Luận văn ThS.. Mục đích nghiên cứu Đề
Trang 1Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục các trường phổ thông ngoài công lập Hà Nội trong
giai đoạn hiện nay Nguyễn Như Hòa
Trường Đại học Giáo dục Luận văn ThS ngành: Quản lý giáo dục; Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Lê
Năm bảo vệ: 2010
Abstract Hệ thống hóa cơ sở lý luận của công tác xã hô ̣i hóa giáo du ̣c (XHHGD) nói chung và lộ trình chuyển đổi, phát triển trường phổ thông ngoài công lập Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng XHHGD và quản lý công tác XHHGD ở phạm vi phát triển trường phổ thông ngoài công lập Đề xuất các giải pháp tăng cường quản
lý công tác XHHGD nhằm phát triển trường phổ thông ngoài công lập ở TP Hà Nội
trong giai đoạn hiện nay
Keywords Quản lý giáo dục; Xã hội hóa giáo dục; Trường phổ thông; Trường dân
sự nghiệp GD- ĐT một mặt Nhà nước tăng cường đầu tư, mặt khác có chính sách để toàn dân, các thành phần kinh tế làm và đóng góp vào sự nghiệp này”, vấn đề XHHGD tiếp tục được khẳng định qua các đại hội VIII, IX và được cụ thể thể hóa trong Nghị quyết Trung ương 6 khóa IX của Đảng nêu: "Đẩy mạnh XHHGD, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là
sự nghiệp của toàn dân là giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục Nhà nước khuyết khích mọi đóng góp, mọi sáng kiến của xã hội cho giáo dục" XHHGD phát triển trường lớp ngoài công lập ở các cấp học của hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và của giáo dục phổ thông nói riêng là một yêu cầu cấp thiết góp phần phát triển giáo dục Sau gần
20 năm thực hiện, hoạt động XHHGD đang ngày càng phát triển rộng khắp cả nước các loại hình trường lớp với phương thức giáo dục đa dạng hóa Hệ thống các trường ngoài công lập phát triển ở mọi cấp học Đã huy động được nhiều nguồn lực của xã hội đầu tư cho giáo dục, xây dựng được phong trào học tập sôi nổi trong nhân dân khắp các vùng miền, công bằng xã hội trong học tập được đảm bảo, góp phần ổn định xã hội tạo niềm tin của nhân dân đối với chế độ, với Nhà nước
Trang 2Vì vậy XHHGD trường phổ thông NCL là điều kiện cần thiết và tất yếu để phát triển giáo dục nước ta XHHGD trường phổ thông NCL là chủ trương mang tính chiến lược của Đảng ta để định hướng chiến lược phát triển GD - ĐT trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước, được thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII: "Phát triển các trường bán công dân lập ở những nơi
có điều kiện, từng bước mở rộng các trường tư thục ở một số bậc học như mầm non, phổ thông trung học Mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa "
Công tác XHHGD luôn được Đảng, Nhà nước, các ngành, các cấp quan tâm đã có nhiều chủ trương, chính sách về công tác xã hội hóa giáo dục, bên cạnh đó cũng được nhiều đề tài khoa học, nhiều công trình nghiên cứu nhưng chủ yếu tập trung vào nghiên cứu về XHHGD nói chung hoặc nghiên cứu về vấn đề XHHGD mà chủ yếu tập trung vào hệ thống các trường công lập Cho đến nay chưa có đề tài khoa học, công trình nghiên cứu về quản lý XHHGD cũng như quản
lý XHHGD đối với các trường phổ thông ngoài công lập Bên cạnh đó từ cuối năm 2008 khi Hà Nội (cũ) hợp nhất với tỉnh Hà Tây và một số huyện, xã của tỉnh Hòa Bình, tỉnh Vĩnh Phúc thì hệ thống giáo dục Thủ đô có nhiều thay đổi tăng cả về số lượng các trường, lớp; số lượng giáo viên, học sinh và tính đa dạng và khác biệt của các quận, huyện nên ảnh hưởng đến quản lý XHHGD nói chung và quản lý XHHGD trường phổ thông NCL nói riêng
Với những lý do trên, tác giả chọn lựa nghiên cứu đề tài: (Quản lý xã hội hóa giáo dục
các trường phổ thông ngoài công lập Hà Nội trong giai đoạn hiện nay)
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lý luận và thực trạng thực hiện chủ trương xã hội hóa phát triển hệ thống trường phổ thông ngoài công lập ở Hà Nội, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp quản lý nhằm tăng cường chất lượng và hiệu quả XHHGD trường phổ thông ngoài công lập đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động XHHGD trong xây dựng, phát triển hệ thống trường phổ thông ngoài công lập
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý XHHGD để phát triển hệ thống trường phổ thông ngoài công lập thành phố Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Công tác XHHGD và quản lý công tác XHHGD các trường phổ thông ngoài công lập
Hà Nội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục của Thủ đô trong giai đoạn mới
Nếu có nhận thức đúng đắn về XHHGD và có các cơ chế, chính sách phù hợp, huy động được các nguồn lực, cùng với hiệu quả thiết thực của công tác thanh, kiểm tra đối với trường ngoài công lập một cách khả thi thì sẽ thúc đẩy thực hiện tốt mục tiêu kế hoạch phát triển trường phổ thông ngoài công lập thành phố Hà Nội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận của công tác XHHGD nói chung và lộ trình chuyển đổi, phát triển trường phổ thông ngoài công lập
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng XHHGD và quản lý công tác XHHGD ở phạm vi phát triển trường phổ thông ngoài công lập
- Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý công tác XHHGD nhằm phát triển trường phổ thông ngoài công lập ở TP Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
6 Giới hạn của đề tài
- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các biện pháp tăng cường XHHGD trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập thành phố Hà Nội
- Về thời gian: Từ năm 2000 đến tháng 6/2010 (hết năm học 2009 -2010)
7 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trang 38 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý xã hội hóa giáo dục các trường phổ thông ngoài công lập
Chương 2: Thực trạng xã hội hóa giáo dục và quản lý xã hội hóa giáo dục các trường phổ thông ngoài công lập ở Hà Nội
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý xã hội hóa giáo dục các trường phổ thông ngoài công lập thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP 1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cùng với chủ trương đổi mới cơ chế kinh tế được khởi xướng từ Đại hội VI (tháng 12/1986), Đảng ta đã các định phương hướng đổi mới trong các lĩnh vực văn hóa, khoa học, giáo dục, ytế, DS – KHHGD, TDTT , mà tinh thần cốt lõi là thực hiện xã hội hóa, đa dạng hóa tổ chức và hoạt động, nâng cao chất lượng và hiệu quả, gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước Thực hiện phương hướng đó, trong những năm qua lĩnh vực GD-ĐT đã tạo thêm được những động lực mới, nguồn lực mới và đạt những tiến bộ rõ rệt Tiếp đến Đại hội VIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần XHH” Do vậy để phát triển sự nghiệp GD - ĐT, chúng ta phải tiến hành công tác XHHGD
Xã hội hóa giáo dục là "Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân đóng góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước"
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
Khái niệm xã hội hoá được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có những nội
hàm hoàn toàn khác nhau
Trang 4 Trong kinh tế - chính trị học
Trong xã hội học và tâm lí, giáo dục
Xã hội hóa xã hội:
1.2.6 Xã hội hóa giáo dục và quản lý xã hội hóa giáo dục
Xã hội hóa giáo dục: Có thể hiểu một cách khái quát: XHHGD là việc thực hiện
mối liên hệ giữa hoạt động giáo dục và cộng đồng xã hội, là tìm cách hoàn lại nguyên bản chất xã hội của giáo dục, làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển
của xã hội, thích ứng với xã hội
Quản lý xã hội hóa giáo dục
Quản lý XHHGD thực chất là việc tổ chức thực hiện công tác XHHGD
"Bản chất của xã hội hóa là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham gia của mọi người dân, mọi lực lượng xã hội; tạo ra sự phối hợp liên ngành một cách có kế hoạch dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Nhà nước, làm cho việc giải quyết các vấn đề xã hội thực sự là của dân, do dân và vì dân" [2,tr7]
Mặc dù còn tương đối mới mẻ, nhưng chúng ta cần nhận thức đầy đủ hơn về những đặc điểm
xã hội hóa từ đó tổ chức thực hiện quản lý XHHGD có hiệu quả là:
- XHH không phải là buông lỏng sự quản lý hoặc từ bỏ chức năng quản lý thống nhất của Nhà nước mà thực chất là tăng cường sự quản lý Nhà nước bằng pháp luật
- XHH gắn liền với mở rộng dân chủ, khuyến khích, động viên tinh thần tự quản, tự chịu trách nhiệm của mọi cá nhân và tổ chức đoàn thể xã hội Khắc phục dần tính thụ động, thờ ơ, phó mặc mọi công việc cho cơ quan chính quyền nhà nước
- XHH là thu hút mọi tổ chức xã hội, mọi thành phần kinh tế tham gia thực hiện các dự
án phát triển của Nhà nước
- Quá trình thực hiện chủ trương xã hội hóa được Nhà nước Việt Nam tiến hành theo các bước phù hợp sau:
+ Xóa bỏ dần chế độ bao cấp, cơ chế, "xin cho"
+ Tách dần hoạt động quản lý kinh doanh khỏi hoạt động quản lý hành chính của các
cơ quan chức năng Nhà nước
+ Nhà nước không ngừng củng cố các cơ quan dịch vụ công
+ Nhà nước xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
1.3 Vai trò trường phổ thông ngoài công lập
Trường NCL thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, tùy theo hình thức đầu tư tài chính và
tư cách pháp nhân mà xác định loại hình trường dân lập hay tư thục
Trường phổ thông NCL bình đẳng với trường CL về nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường trong việc tổ chức và hoạt động, thực hiện mục tiêu giáo dục Được hưởng quyền lợi, thực hiện nghĩa vụ theo quy định Nhà nước Trường phổ thông NCL chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan quản lý giáo dục theo quy chế tổ chức và hoạt động các trường NCL, theo quy định điều lệ trường phổ thông
Trường phổ thông NCL là hình thức XHHGD điển hình, huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục, tạo động lực phát triển sự nghiệp GD- ĐT; phù hợp với nền kinh tế hàng hóa, theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.4 Xã hội hóa giáo dục và quản lý xã hội hóa giáo dục các trường phổ thông NCL
1.4.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa giáo dục
1.4.2 Vai trò, ý nghĩa xã hội hóa giáo dục
1.4.2.1 Xã hội hóa giáo dục góp phần tăng nguồn lực cho giáo dục
1.4.2.2 Xã hội hóa giáo dục góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo
1.4.2.3 Xã hội hóa giáo dục tạo ra xã hội học tập - động lực thực hiện mục tiêu giáo dục
1.4.2.4 Xã hội hóa giáo dục là con đường thực hiện dân chủ hóa và thực hiện chính sách
Trang 5công bằng xã hội trong giáo dục
1.4.2.5 Xã hội hóa giáo dục góp phần làm cho giáo dục phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
1.4.3 Nội dung xã hội hóa giáo dục
1.4.3.1 Giáo dục hóa xã hội
Giáo dục hóa xã hội là nội dung cơ bản của XHHGD nhằm huy động toàn xã hội tham gia vào quá trình GD và tự GD; tiến hành cho mọi người, thực hiện quyền cơ bản của con người để mọi người được học thường xuyên, suốt đời, tiến tới xây dựng xã hội học tập như
kết luận Hội nghị Ban Chấp hành TW Đảng lần 6 khóa IX nêu: "Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng hình thức GD chính quy và không chính quy, giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tâp"
1.4.3.2 Cộng đồng hóa trách nhiệm đối với hoạt động giáo dục
Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để đạt được mục tiêu đó, không thể chỉ ngành giáo dục thực hiện được mà phải huy động toàn xã hội tham gia chăm lo tạo nên sức mạnh tổng hợp Từ việc tham gia xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn với sự gắn kết nhất quán giữa các môi trường giáo dục: gia đình - nhà trường - xã hội, nhà nước trong chăm lo, quản lý
và giáo dục học sinh đến việc mọi tổ chức, gia đình, cá nhân thực hiện trách nhiệm chăm lo
sự nghiệp giáo dục
Cộng đồng trách nhiệm còn thể hiện ở sự thu hút, phát huy sáng tạo của các lực lượng XH, với khả năng kinh nghiệm, tiềm năng của mình tham gia vào các hoạt động GD nhà trường, làm cho mọi người, mọi nguồn lực của XH đều được tự giác cống hiến cho sự phát triển GD
1.4.3.3 Đa dạng hóa các loại hình, phương thức giáo dục
XHHGD chính là mở cửa điều kiện để mọi cá nhân tổ chức và toàn xã hội tham gia vào việc mở rộng quy mô đào tạo, phát triển nguồn lực con người trên cơ sở đảm bảo cân đối về
cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng
1.4.3.4 Đa phương hóa nguồn lực đầu tư cho giáo dục
Để phát triển quy mô, chất lượng, kết quả giáo dục đáp ứng nhu cầu giáo dục ngày càng cao của nhân dân, không thể chỉ thực hiện giữa nhu cầu phát triển quy mô và chất lượng giáo
dục, điều kiện còn nhiều khó khăn về tài chính của đất nước chúng ta Mặc dù, "Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục" nhưng XHHGD cần huy động nhiều hơn nữa nguồn lực cho giáo dục: Nhà nước "khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư cho giáo dục"
1.4.3.5 Thể chế hóa chủ trương đối với hoạt động giáo dục
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, XHHGD không có nghĩa là buông lỏng sự quản
lý thống nhất của Nhà nước về giáo dục, mà trái lại vai trò quản lý, định hướng, chỉ huy điều hành, kiểm tra, giám sát của Nhà nước (cơ quan QLGD) luôn được tăng cường theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Sự tăng cường vai trò quản lý đó không trực tiếp mà thông qua các văn bản pháp luật, các quy chế quản lý.Do vậy, Nhà nước phải xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, minh bạch để đảm bảo trách nhiệm quyền lợi tính công bằng dân chủ và công khai trong hoạt động giáo dục Trong khuôn khổ chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, mọi tổ chức, cá nhân tham gia XHHGD được tự do hoạt động để mưu sinh, sinh lợi; tổ chức thực hiện có hiệu quả, đảm bảo chất lượng giáo dục Nhà nước chỉ can thiệp khi có sự vi phạm pháp luật
1.4.4 Nguyên tắc xã hội hóa giáo dục
1.4.4.1 Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, quyền chủ động sáng tạo của ngành giáo dục, của nhà trường phổ thông trong quá trình hoạt động phát triển giáo dục 1.4.4.2 Đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xã hội hóa giáo dục để phát
Trang 6triển sự nghiệp giáo dục
1.4.4.3 Đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.4.5 Kết quả và tổng kết một số kinh nghiệm xã hội hóa giáo dục ở nước ta
1.4.6 Kinh nghiệm quản lý xã hội hóa giáo dục các trường phổ thông ngoài công lập ở
một số nước
1.4.7 Quản lý xã hội hóa giáo dục các trường phổ thông ngoài công lập
Thực hiện chủ trương XHHGD của Đảng và Nhà nước, các tổ chức, cá nhân đã tích cực
hưởng ứng, nhất là khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997, hàng loạt
trường NCL: Dân lập, tư thục, bán công được thành lập Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định
20/2005/QĐ-BGD&ĐT: "Thực hiện XHHGD nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất
trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục, đồng thời tạo điều kiện để
toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được hưởng thụ thành quả giáo
dục ở mức độ ngày càng cao" Quyết định cũng nêu chuyển các cơ sở công lập sang hoạt
động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, có lộ trình chuyển các cơ sở giáo dục bán công
sang loại hình NCL Thực tiễn trong thời gian qua cho thấy, các trường ngoài công lập đã thu
hút ba phần tư (75%) tổng số trẻ em đi nhà trẻ và hơn một nửa (55%) học sinh mẫu giáo
Riêng đối với tiểu học và THCS thì tỷ lệ đó còn ít (đây là kết quả quá trình thực hiện luật phổ
cập giáo dục tiểu học và tiến tới phổ cập THCS) Đối với THPT các trường NCL đã thu hút
gần một phần ba học sinh THPT, đây là một tỷ lệ XHH rất lớn so với tiểu học, THCS Tỷ lệ
các trường ngoài công lập: mầm non 57%; tiểu học có 75/14.575 trường chiếm 0,5%; Cấp
trung học cơ sở có 67/10.075 trường chiếm 0,6%; Cấp trung học phổ thông có 607/2.224
trường chiếm 27,3%; Như vậy, xét về tỷ lệ học sinh NCL, XHHGD đã diễn ra mạnh ở giai
đoạn đầu của tuổi học đường, giảm mạnh ở tiểu học và THCS, tăng lên ở THPT
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC VÀ QUẢN LÝ XÃ HỘI HÓA GIÁO
DỤC CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP Ở HÀ NỘI
2.1 Khái quát đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội
2.1.1 Điều kiện địa lý, hành chính
Từ ngày 01/8/2008, sau khi hợp nhất với tỉnh Hà Tây, một số huyện của tỉnh Hòa Bình,
Vĩnh Phúc thành phố Hà Nội có 29 đơn vị hành chính, gồm 11 quận và 18 huyện với diện
tích là 3.346,3 km2, dân số năm 2009 là 6,5379 triệu người
2.1.2 Các đặc điểm về kinh tế - xã hội
Mặc dù chỉ chiếm 7,4% về dân số và 1% diện tích so với cả nước nhưng Thủ đô Hà Nội
đóng góp khoảng 12,1% GDP cả nước, 12,6 giá trị sản xuất công nghiệp, 11,1% kim ngạch
xuất khẩu, 16,9% thu ngân sách quốc gia, thu hút 16,2% vốn đầu tư xã hội so với cả nước
(năm 2008)
2.1.3 Ảnh hưởng của các nhân tố phát triển kinh tế - xã hội tới phát triển giáo dục và đào
tạo Hà Nội
2.2 Khái quát về tình hình giáo dục - đào tạo của thành phố Hà Nội
2.2.1 Quy mô, cơ cấu giáo dục phổ thông
Bảng 6 Cơ cấu phát triển quy mô học sinh phổ thông phân theo bậc học và loại hình
trường học giai đoạn 2004-2009 (Tỷ lệ %)
Trang 7- Giáo dục Trung học
+ Trung học cơ sở
Quy mô học sinh THCS có xu hướng giảm trong giai đoạn 2000 - 2009 và đặc biệt giảm mạnh trong vòng 4 năm trở lại đây
Năm học 2000-2001 toàn thành phố Hà Nội có 372.179 học sinh THCS, năm học
2008-2009 còn 343.636 học sinh Tỷ lệ học sinh THCS đi học đúng độ tuổi đạt 97,7% Số học sinh
nữ chiếm tỷ lệ 49%, 2% Hiện nay, đã huy động được 314 học sinh khuyết tật đến lớp học tập trung và hoà nhập Tính đến đầu năm học 2008-2009, tỷ lệ học sinh học 2 buổi/ngày bậc THCS đạt 20% Toàn thành phố có 2.638 học sinh dân tộc thiểu số (chiếm 2%), 16.461 học sinh thuộc đổi tượng chính sách, trong đó 1.406 em thuộc diện hộ nghèo và 168 học sinh thuộc diện đặc biệt khó khăn dang theo học THCS
Tỷ lệ học sinh THCS theo loại hình trường ổn định: có 98% học sinh tiểu học đang theo học các trường công lập, 3% ngoài công lập trong suốt giai đoạn 2005-2009
+ Trung học phổ thông
Quy mô học sinh THPT có xu hướng tăng trong giai đoạn 2000 - 2005 và giảm nhẹ trong 3 năm gần đây Năm học 2000-2001 toàn thành phố Hà Nội có 203.714 học sinh THPT, năm học 2008-2009 có 220.365 học sinh
Năm học 2008-2009 có 21.6376 học sinh THPT, trong đó có 1.853 học sinh dân tộc
thiểu số Số học sinh nữ chiếm tỷ lệ 53% số học sinh đến trường
Đáng chú ý là tỷ lệ học sinh học công lập có xu hướng tăng Hiện nay, tỷ lệ học sinh THPT học các trường NCL không tăng, thậm chí giảm so với những năm trước Năm 2005-
2006, tỷ lệ học sinh THPT NCL 39%, năm học 2008-2009, tỷ lệ này giảm còn 25 %
Giáo dục thường xuyên
Công tác xoá mù chữ và phổ cập cấp Tiểu học được quan tâm Năm học 2008-2009 đã huy động được 22.200 học viên GDTX, trong đó 340 học viên tham gia học xóa mù chữ bậc tiểu học 1.477 học viên tham gia bổ túc THCS, 15.947 học viên tham gia bổ túc THPT, trong
đó 4.436 học viên học theo chương trình 11 môn (hệ THPT) Tiếp tục phát triển quy mô, huy động tối đa số lượng học sinh theo học các chương trình GDTX cấp THCS, THPT nhằm thực hiện tốt việc phổ cập giáo dục trong độ tuổi
Trang 8Giáo dục Trung học
Giáo dục Trung học cơ sở
Hệ thống các trường THCS phân bố tương đối đồng đều và rộng khắp đảm bảo đáp ứng
được nhu cầu đi học của trẻ em trong độ tuổi, mỗi xã có 1 trường THCS Toàn thành phố
hiện có có 589 trường THCS, trong đó có 582 trường công lập, 6 trường bán công và 1
trường tư thục, 141 trường chuẩn quốc gia, chiếm 24% tổng số trường THCS
Trung học phổ thông
Toàn thành phố Hà Nội hiện có 295 trường THPT, trong đó có 187 trường công lập,
108 trường ngoài công lập (trong đó có 5 trường bán công, 54 trường dân lập và 20 trường tư
thục) Tuy nhiên số học sinh của các trường NCL chỉ chiếm 27% tổng số học sinh.Có 25
trường PTTH (C23), trong đó hệ cấp 2 có: 265 lớp với 8550 học sinh
Hệ thống trường THPT chuyên biệt, Hà Nội có 2 trường chuyên và 2 trường có lớp
chuyên và 01 trường Phổ thông dân tộc nội trú
Giáo dục thường xuyên
Hiện nay toàn thành phố có 39 cơ sở GDTX, trong đó có 31 TTGDTX và 2 trường bổ túc
văn hoá, 1 trung tâm Ngoại ngữ và Tin học, 5 trường BTVH hiệp quản và 306 Trung tâm học tập
cộng đồng; mạng lưới giáo dục thường xuyên đã phát triển đến huyện, quận, xã, phường
Cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài
Hiện nay, Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý 23 cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài,
21 trường công lập và ngoài công lập có dự án đào tạo liên kết với nước ngoài; 65 trung tâm
ngoại ngữ, tin học có yếu tố nước ngoài
Tổng số Phòng học
Phòng học văn hóa
Phòng bộ môn
(Nguồn: Sở GD&ĐT Hà Nội, Số liệu thống kê giữa năm học 2009-2010)
2.2.4.3 Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin
2.2.4.4 Tình hình tài chính Giáo dục và Đào tạo Hà Nội
Bảng 9 Cơ cấu chi ngân sách giáo dục theo cấp học (Đơn vị: Triệu đồng)
Trang 98 Cao đẳng 23,724 0.8% 28,830 0.8%
2.2.5 Nhận xét chung về thực trạng phát triển giáo dục Hà Nội
2.3 Thực trạng xã hội hóa giáo dục và quản lý xã hội hóa giáo dục các trường phổ thông ngoài công lập ở Hà Nội
2.3.1 Thực trạng chủ trương xã hội hóa giáo dục để phát triển trường phổ thông ngoài công lập
Chỉ thị số 06 – CT/TU ngày 15/11/2006 của Thành ủy Hà Nội về tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác XHH của thành phố giai đoạn 2007 – 2010; Nghị quyết số 02/2007/NQ – HĐND ngày 13/7/2007 của Hội đồng nhân dân thành phố khóa XIII kỳ họp thứ IX và Quyết định
số 2578/QĐ –UBND ngày 27/6/2007 của UBND thành phố về việc phê duyệt đề án “Đẩy mạnh XHH và thu hút đầu tư của thành phố giai đoạn 2007 – 2010” và mới đây là Quyết định số 104/QĐ – UBND ngày 30/7/2009 của UBND thành phố về việc phê duyệt đề án “ Đẩy mạnh XHH giáo dục và đào tạo của thành phố Hà Nội (2009 -2015)”
2.3.2.Thực trạng nhận thức về chủ trương xã hội hóa giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập
2.3.2.1 Nhận thức về mục tiêu, ý nghĩa và tầm quan trọng xã hội hóa giáo dục
Bảng 10: Kết quả thăm dò ý kiến XHHGD trong giai đoạn hiện nay
TT Nhận thức (hiểu) về xã hội hóa giáo dục Ý kiến tán thành (%)
1 Nâng cao nhận thức về vị trí vai trò của giáo dục 85
2 Xây dựng cộng đồng trách nhiệm của XH đối với GD 90
4 Huy động sự đóng góp các nguồn lực cho giáo dục 92
5 Xây dựng xã hội học tập, mọi người được đi học 75
6 Chủ yếu huy động nhân dân đóng góp vật chất cho GD 62
7 Xác định giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội 70
8 Đa dạng hóa các loại hình GD (CL & NCL) 55
2.3.2.2 Nhận thức về vai trò, ý nghĩa tầm quan trọng trường lớp phổ thôngNCL
Bảng 11: Kết quả thăm dò ý kiến về loại hình trường lớp phổ thông NCL
TT Nhận thức về loại hình trường phổ thông ngoài công lập Ý kiến tán
thành (%)
1 Sự cần thiết hình thành trường ngoài công lập (BC) và công lập 75
2 Tổ chức trường ngoài công lập để chia sẻ với nhà nước 75
3 Nên tổ chức trường ngoài công lập để kích thích động cơ học tập 40
4 Nên mở lớp hệ B trong trường công lập, không nên mở trường ngoài
công lập nơi KT - Xã hội còn khó khăn
90
5 Nên tiếp tục mở lớp ngoài công lập tại trường công ở những nơi xa
trường ngoài công lập
80
6 Nên mở ngoài công lập ở quận nội thành có kinh tế phát triển 60
8 Nên chuyển đổi trường công lập chất lượng cao thành NCL 65
2.3.3 Tình hình quản lý huy động các lực lượng xã hội tham gia công tác xã hội hóa giáo dục phổ thông
- HĐND – UBND thành phố duy trì đảm bảo tỷ lệ ngân sách hàng năm cho sự nghiệp giáo dục năm sau cao hơn năm trước; đảm bảo phân bổ đủ kinh phí ngân sách, định mức chi
Trang 10tính trên học sinh/năm đều tăng Tỷ trọng ngân sách cho sự nghiệp giáo dục trên tổng chi ngân sách thành phố bình quân hàng năm đạt 20% (chưa kể đầu tư cho các dự án lớn)
- Đẩy mạnh việc thực hiện giao quyền tự chủ về tài chính cho các cơ sở giáo dục Thu học phí và các khoản thu khác theo quy định, đóng vai trò quan trọng cùng với NSNN vào việc duy trì ổn định và phát triển hệ thống giáo dục; Thực hiện miễn giảm học phí cho học sinh diện chính sách, học sinh cha mẹ làm nông nghiệp; Quan tâm việc miễn giảm học phí và cấp ngân sách hỗ trợ cho học sinh học trong trường phổ thông dân tộc nội trú
- Thành phố thực hiện một số chính sách nhằm khuyến khích đầu tư phát triển các cơ sở giáo dục ngoài công lập: Thực hiện Quyết định số 51/2007/QĐ –UBND ngày 11/5/2007 của UBND thành phố về việc phê duyệt danh mục kêu gọi đầu tư trên địa bàn thành phố Hà Nội, trong 2 năm 2007 – 2008, Ngành giáo dục đã phối hợp cùng UBND các quận, huyện triển khai thực hiện 16 dự án kêu gọi đầu tư Năm 2008, thành phố đã giao đất và cho thuê đất 5 dự
án để đầu tư xây dựng trường học với diện tích 9,44 ha; chấp thuận địa điểm cho 17 dự án với vốn đầu tư đăng ký 1.972 tỷ đồng
- Nguồn viện trợ không hoàn lại của các chính phủ, tổ chức phi chính phủ đầu tư cho các trường khuyết tật và một số trường có quan hệ hợp tác với nước ngoài
- Nguồn ngân sách thành phố đầu tư cho một số công trình trọng điểm: Dự án trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam kinh phí 429 tỷ đồng; dự án xây dựng trường THPT chuyên Nguyễn Huệ mức kinh phí đầu tư 169,53 tỷ đồng Quận Cầu Giấy đã đầu tư 40 tỷ đồng xây mới trường tiểu học và THCS Nam Trung Yên ; Huyện Từ Liêm đã đầu tư xây dựng trường THPT Trung Văn với kinh phí 21 tỷ đồng
- Huy động các nguồn lực đầu tư XHH: Trường THCS và THPT dân lập Đoàn Thị Điểm đầu tư 70 tỷ đồng xây mới trường học Đến nay một số trường ngoài công lập đã có cơ
sở vật chất riêng và xây dựng kiên cố khang trang như các trường THPT: Trí Đức, Nguyễn Bỉnh Khiêm – Cầu Giấy, Nguyễn Siêu, Lý Thái Tổ, Phương Nam, Trần Quốc Tuấn, Việt –
Úc, Bình Minh – Hoài Đức, Võ thuật – Bảo Long, Tiểu học và THCS Đoàn Thị Điểm, Lê Quý Đôn Đặc biệt, các trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Siêu và Nguyễn Tất Thành (đều thuộc quận Cầu Giấy), THCS Đoàn Thị Điểm – Từ Liêm là những trường phổ thông ngoài công lập đầu tiên của Hà Nội được công nhận đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2000 – 2010 Nguồn kinh phí huy động đóng góp xây dựng cơ sở vật chất trường học của các trường ngoài công lập của Hà Nội mỗi năm đạt gần 300 tỷ đồng
2.3.3.1 Việc huy động các lực lượng tham gia vào quá trình xã hội hóa giáo dục qua thăm dò
ý kiến như sau
Bảng 12: Kết quả ý kiến về tình hình các lực lượng xã hội tham gia công tác
XHHGD
TT Các lực lƣợng Tham gia tích cực Tham gia chƣa tích cực
4 Mặt trận tổ quốc Việt Nam x
Trang 1114 Sở, Phòng Giáo dục x
2.3.3.2 Hội đồng giáo dục
Bảng 13: Kết quả thăm dò ý kiến tác dụng hoạt động của Hội đồng giáo dục
thành (%)
1 Xây dựng được cơ chế liên kết, cộng đồng trách nhiệm 75
2 Phát huy được quyền làm chủ toàn XH tham gia GD 64
4 Xây dựng được phong trào - XH học tập, học suốt đời 65
6 Còn nặng hình thức, cơ cấu kiêm nhiệm, ít hiểu biết CM, tham mưu
chưa hiệu quả
2.3.4 Đánh giá hiệu quả của quản lý XHHGD để phát triển trường phổ thông ngoài công lập
2.3.4.1 Về Quy mô phát triển
Đến nay, số trường lớp ngoài công lập của Hà Nội có 338 cơ sở, 284 trung tâm học tập cộng đồng với 122.966 học sinh (chiếm tỷ lệ 9,2%), cụ thể như sau:
Giáo dục mầm non: Hiện có 137 trường dân lập, tư thục và nhóm lớp mầm non đã thu hút trẻ em trong độ tuổi đến nhóm lớp chiếm 15% Giáo dục tiểu học: Hiện có 22 trường dân lập và tư thục, số học sinh chiếm tỷ lệ 2,06%; Trong đó có 2 trường dân lập có vốn đầu tư của nước ngoài Giáo dục THCS: Hiện có 5 trường THCS và 17 trường liên cấp 2 – 3, số học sinh chiếm tỷ lệ 2,42% Giáo dục THPT: Hiện có 77 trường (trong đó có 4 trường hiệp quản), số học sinh chiếm tỷ lệ 24,4% Hiện có 284 trung tâm học tập cộng đồng tại các quận huyện và gần 400 trung tâm Tin học, Ngoại ngữ, bồi dưỡng văn hóa nghệ thuật Các trung tâm này hoạt động chủ yếu bằng nguồn kinh phí của người học và của các tổ chức, cá nhân tham gia công tác XHHGD
Về quản lý các trung tâm tư vấn du học tự túc, các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài trên địa bàn Hà Nội: Hiện có 70 cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài, trong đó có 15 trường
và 55 trung tâm Các Sở, ngành đã phối hợp chặt chẽ, thực hiện nghiêm túc, đúng thẩm quyền trong việc thẩm định và cấp phép hoạt động cho các cơ sở tư vấn du học tự túc, thẩm định chương trình giáo dục nước ngoài trước khi triển khai áp dụng ở các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài
2.3.4.2 Về chất lượng
Các trường ngoài công lập không ngừng nỗ lực phấn đấu để nâng cao chất lượng dạy
và học trong những năm qua; đã tổ chức đa dạng và phong phú các hình thức dạy và học nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân, cụ thể:
- Tổ chức dạy và học phát triển theo hướng mô hình dịch vụ trình độ cao, chất lượng cao như: THPT Nguyễn Siêu, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lý Thái Tổ, Nguyễn Tất Thành – Cầu Giấy, Đào Duy Từ, Việt – Úc, Bình Minh – Hoài Đức, Tiểu học Đoàn Thị Điểm, Lê Quý Đôn – Từ Liêm
- Một số trường đã tăng cường việc dạy và học song ngũ cho học sinh như trường phổ thông Lômônôxốp, tiểu học Đoàn Thị Điểm,
- Tổ chức học tập theo mô hình trường nội trú có hiệu quả cao thu hút được nhiều học sinh như trường THPT dân lập Trí Đức, THPT bán công Trần Quốc Tuấn, phổ thông Võ thuật Bảo Long
Trang 12- Chất lượng giáo dục ngoài công lập hiện nay chưa đồng đều: Một số trường có cơ sở vật chất tốt, đội ngũ giáo viên giỏi và chất lượng dạy học có uy tín; Một số trường cơ sở vật chất không ổn định, chất lượng tuyển sinh đầu vào thấp, do đó chất lượng giáo dục toàn diện thấp hơn so với mặt bằng chung của Thành phố
- Quản lý các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài: Thành phố có chính sách hỗ trợ các
cơ sở giáo dục nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng hợp tác quốc tế; Hỗ trợ, tư vấn trực tiếp cho 20 cơ sở giáo dục về hợp tác quốc tế; Chỉ đạo và tham gia các hoạt động xây dựng các đề án hợp tác liên kết đào tạo với nước ngoài
2.3.4.3 Về đội ngũ
Với cơ chế tự chủ, các trường ngoài công lập đã thu hút được nhiều giáo viên dạy giỏi hợp đồng thỉnh giảng Hiện tại các trường ngoài công lập phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng đội ngũ, số giáo viên đạt trình độ trên chuẩn chiếm tỷ lệ cao, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong môi trường giáo dục
2.4 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế
- Nguyên nhân của những kết quả đạt được
+ Sự thành công bước đầu của công tác XHHGD đã khẳng định sự chỉ đạo đúng đắn về chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển công tác XHHGD của Đảng và Nhà nước đem lại hiệu quả thiết thực, tạo điều kiện để ngành Giáo dục Thành phố phát triển và hội nhập quốc tế
+ Thông qua công tác XHH, Ngành Giáo dục đã huy động được nguồn lực xã hội về trí lực, về đầu tư kinh phí trong và ngoài ngân sách Nhà nước
+ Các nguồn lực đầu tư cho giáo dục ngày càng tăng chứng tỏ sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với giáo dục Thủ đô
+ Một số trường ngoài công lập đã có cơ sở vật chất khang trang, chất lượng dạy – học
có uy tín và thương hiệu đã thu hút được nhiều người học, đó là động lực để các trường công lập cũng phải không ngừng đổi mới để nâng cao chất lượng
- Nguyên nhân của những hạn chế
+ Hệ thống văn bản pháp quy XHHGD về phát triển trường lớp NCL chưa đầy đủ đồng
bộ và chưa kịp thời Các hoạt động XHHGD được thực hiện trên cơ sở vận dụng thiếu cơ sở pháp lý, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, do vậy dẫn đến tình trạng lạm dụng xã hội hóa, áp đặt, gượng ép, đôi khi phản tác dụng
+ Công tác triển khai, quán triệt chủ trương, Nghị quyết XHHGD của Đảng, Nhà nước chưa đầy đủ, công tác tuyên truyền giáo dục chưa đẩy mạnh cả chiều rộng lẫn chiều sâu Một
số cấp ủy, chính quyền địa phương không ổn định (thay đổi cán bộ) Trong lãnh đạo, chỉ đạo
tổ chức cơ chế phối hợp với các lực lượng trong Hội đồng giáo dục địa phương còn hạn chế; một số tổ chức ngành đoàn thể, cá nhân cán bộ đảng viên còn nhận thức vấn đề mờ nhạt, chưa phát huy vai trò trách nhiệm trong công tác xã hội hóa giáo dục, do vậy chưa phát huy hết nội lực cán bộ quản lý
+ Các cơ sở giáo dục mầm non ngoại thành về cơ sở vật chất, thiết bị đồ chơi và phương tiện phụ vụ chăm sóc nuôi dưỡng trẻ còn thiếu, chưa được quan tâm đầu tư đúng mức Giáo dục phổ thông thiếu nhiều phòng học chức năng, phòng thực hành, thí nghiệm, thư viện, nhà thể chất, sân chơi, bãi tập, Các trường học của các cấp học hiện còn thiếu nhiều diện tích đất, bình quân diện tích đất tính theo m2/ học sịnh quá thấp so với chuẩn, tiến độ xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia chậm
+ Quy hoạch mạng lưới trường học phân bố chưa hợp lý, còn nhiều bất cập Một số trường học ở khu vực nội thành có số học sinh/lớp, số lớp/trường nhiều hơn quy định Còn nhiều trường ngoài công lập chưa có cơ sở vật chất riêng phải thuê mượn ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục toàn diện
+ Mức thu học phí từ nhiều năm nay vẫn chưa thay đổi, trong khi giá cả thị trường biến động mạnh Quy định về mức thu chi hiện không còn phù hợp với thực tế nhưng chưa có sự