TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO HỌC VIỆN TOÀ ÁN --------- BÀI KIỂM TRA SỐ 1 MÔN : KỸ NĂNG SOẠN THẢO VĂN BẢN TỐ TỤNG TẠI TOÀ ÁNTOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO HỌC VIỆN TOÀ ÁN --------- BÀI KIỂM TRA SỐ 1 MÔN : KỸ NĂNG SOẠN THẢO VĂN BẢN TỐ TỤNG TẠI TOÀ ÁNTOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO HỌC VIỆN TOÀ ÁN --------- BÀI KIỂM TRA SỐ 1 MÔN : KỸ NĂNG SOẠN THẢO VĂN BẢN TỐ TỤNG TẠI TOÀ ÁN
Trang 1TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
HỌC VIỆN TOÀ ÁN
-BÀI KIỂM TRA SỐ 1
MÔN : KỸ NĂNG SOẠN THẢO VĂN BẢN TỐ TỤNG
TẠI TOÀ ÁN
HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN : Vi Thị Luyến
MÃ SỐ SINH VIÊN : 040101265 LỚP : D - K4
Trang 2HÀ NỘI - 2022
BÀI KIỂM TRA SỐ 1 Môn: Kỹ năng soạn thảo văn bản tố tụng tại Tòa án
Câu 1: Anh chị hãy phân biệt soạn thảo văn bản nói chung và soạn thảo văn
bản tố tụng trong Tòa án và từ đó đưa ra ý nghĩa thực tiễn của việc soạn thảo văn bản trong Tòa án.
Trả lời:
* Phân biệt soạn thảo văn bản nói chung và soạn thảo văn bản tố tụng trong Tòa án:
Soạn thảo văn bản tố tụng tại Tòa án là một bộ phận của soạn thảo văn bản nói chung, bên cạnh những điểm giống nhau vẫn có một số mặt khác nhau để phân biệt 2 văn bản nói trên
tụng trong Tòa Án
1 Khái niệm Là việc ban hành các văn bản
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo một trình tự thủ tục luật định, trong đó có chứa các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc, làm khuôn mẫu cho
xử sự của các chủ thể pháp luật, được áp dụng nhiều lần cho nhiều chủ thể trong một khoảng thời gian và không gian nhất định nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội theo một trật tự nhát định mà nhà nước muốn xác lập
Là việc ban hành, soạn thảo các văn bản phản ánh các hoạt động tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng, bằng các hình thức văn bản khác nhau do cơ quan, người tiến hành tố tụng lập hoặc ban hành trên
cơ sở quy định của pháp luật tố tụng để ghi diễn biến của hoạt động tố tụng, xác định
Trang 3quyền và nghĩa vụ của chủ thể khi tham gia một quan hệ tố tụng cụ thể
đình, Luật môi trường, Luật dân sự, Luật thương mại…
Biên bản lấy lời khai, quyết định đưa vụ án
ra xét xử,giấy thông báo triệu tập,…
3 Phân loại Các văn bản tố tụng của tòa án
cũng có thể được phân thành nhiều loại dựa theo các tiêu chí khác nhau
Theo cấp xét xử, có văn bản tố tụng của tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
Theo các giai đoạn tố tụng thì
có văn bản tố tụng được ban hành trong giai đoạn thụ lí vụ
án, thu nhập xác minh chứng
cứ, hòa giải và chuẩn bị,xét xử tại phiên tòa , sau phiên tòa
Theo tính chất của hoạt động tố tụng, văn bản tố tụng bao gồm:
văn bản về nội dung và văn bản
về thủ tục
Đối với văn bản quản
lí nhà nước, ta thấy văn bản quản lí nhà nước là những quyết định và thông tin quản
lí thành văn do các cơ quan quản lí hành chính nhà nước ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức, nhất định và được nhà nước đảm bảo thi hành bằng những hình thức khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản
lí nội bộ nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và công dân Văn bản QLHCNN
Trang 4được phân loại bao gồm:
- Văn bản quy phạm pháp luật
-Văn bản hành chính, trong đó bao gồm; + Văn bản hành chính thông thường, ví dụ như: công văn, thông cáo, thông báo, báo cáo,
+Văn bản hành chính
cá biệt,ví dụ như: lệnh, nghị quyết, nghị định, +Văn bản chuyên môn-kỹ thuật, ví dụ như: các bản vẽ được phê duyệt nghiệm thu đưa vào thực tiễn áp dụng,
4 Chức năng Có 3 chức năng đặc thù:
- Truyền đạt các kết luận của tòa án và lý do dẫn tới các kết luận đó cho các bên đương sự
và luật sư của họ
- Khi được đăng tải, các văn bản tố tụng góp phần công bố luật pháp áp dụng tới các luật
Trang 5sư, thẩm phán, học giả và những đối tượng quan tâm khác
- Làm rõ lập luận của tòa án và thể hiện mức độ hỗ trợ đầy đủ của các án lệ
5 Thẩm
quyền ban
hành
Do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện: Quốc hội, Chính phủ, Chủ tịch nước,…
Do cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng lập hoặc ban hành: Chán án, Thẩm phán, Thư ký,…
6 Phạm vi áp
dụng
Được áp dụng đối với nhiều đối tượng, áp dụng nhiều lần
Được áp dụng cho một hoặc một số đối tượng
cụ thể và chỉ áp dụng một lần
7 Trình tự,
thủ tục
Ban hành theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015
Văn bản tố tụng được lập, ban hành trên cơ
sở quy định của pháp luật tố tụng, phản ánh hoạt động tố tụng của các chủ thể trong quan
hệ tố tụng
8 Nội dung Là các quy phạm pháp luật
được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn và là cơ sở để ban hành các văn bản áp dụng pháp luật và văm bảm hành chính thông dụng
Phản ánh đối tượng điều chỉnh, phạm vi áp dụng, nội dung của quan hệ tố tụng và phù hợp với hình thức văn bản tố tụng ( Xác định
về chủ thể, mục đích
Trang 6của văn bản tố tụng và nội dung của văn bản
tố tụng đó)
9 Yêu cầu Yêu cầu về nội dung:
- Với tính chất văn bản mang quyền lợi nhà nước , do đó văn bản tố tụng phải phản ánh đúng, đủ, rõ ràng, chính xác đối tượng điều chỉnh, phạm vi áp dụng, nội dung của quan hệ tố tụng và phù hợp với hình thức văn bản tố tụng
- Một văn bản tố tụng bao giờ cũng có tính xác định về chủ thể (do cơ quan hay người tiến hành tố tụng ban hành,cho người tiến hành tố tụng nào hoặc cho cá nhân tổ chức nào) , mục đích của văn bản tố tụng là gì,( ghi nhận, phản ánh hoạt động tố tụng hay thông báo hay định đoạt quyền và nghĩa vụ),nội dung của văn bản là gì
- Khi soạn thảo văn bản tố tụng, bất kể hình thức văn bản
gì thì văn bản đó cũng phải tuân thủ các yêu chung của việc soạn thảo văn bản là: nội dung thông tin, dữ liệu phải rõ ràng,
Yêu cầu về thể thức văn bản:
Theo quy định hiện nay, thể thức văn bản quản lý hành chính bao gồm hai loại thành phần thể thức:
– Các thành phần chung;
– Các thành phần bổ sung
Các thành phần chung
là các yếu tố bắt buộc phải trình bày trong hầu hết các văn bản của cơ quan tổ chức Các thành phần bổ sung bao gồm các yếu
tố được sử dụng trong một số trường hợp cụ thể đối với từng văn bản do yêu cầu công tác riêng biệt của các
cơ quan, tổ chức
1 Các thành phần thể thức chung bao gồm:
Trang 7ngôn ngữ trong sáng, sử dụng
từ ngữ phải phải chính xác,
thuật gữ pháp lí, cấu trúc câu
đơn giản, dấu câu phải đúng và
đủ
Yêu cầu về hình thức:
Việc soạn thảo phải được thực
hiện và ban hành theo quy định
về thể thức và kỹ thuật trình
bày ta Thông tư số
01/2011/TT-BNV của Bộ nội
vụ hướng dẫn, cụ thể:
.Văn bản tố tụng còn được coi
là văn bản hành chính chuyên
ngành , do đó văn bản được sử
dụng phải là văn bản hành
chính được quy định tại K2,
điều 4, NĐ số
110/2004/NĐ-CP 2004 về công tác văn thư,
được sửa đổi bổ sung theo NĐ
số 09/2010/NĐ-CP 2010
Phải đảm bảo đầy đủ yêu cầu
thể thức của văn bản hành
chính: đủ thành phần cư
bả( quốc hiệu, số hiệu, tên cơ
quan,…); đúng yêu cầu kỹ
thuật trình bày (trình bày cân
đối, đúng khổ giấy, kiểu chữ,
giãn cách từ,câu,…)
– Quốc hiệu và tiêu ngữ;
– Tên cơ quan ban hành
– Số và ký hiệu;
– Địa danh và ngày tháng năm ban hành; – Tên loại;
– Trích yếu;
– Nội dung;
– Thẩm quyền người ký; chữ ký; họ tên người ký;
– Con dấu;
– Nơi nhận
2 Các yếu tố thể thức
bổ sung – Dấu chỉ độ mật, khẩn;
– Tên người chế bản,
số lượng bản, số phát hành;
– Các dấu hiệu sao y, sao lục, trích sao; – Các yếu tố chỉ dẫn phạm vi phổ biến; – Địa chỉ, số điện thoại, số fax của cơ quan ban hành… Mỗi
Trang 8yếu tố thể thức kể trên đều chứa đựng những thông tin cần thiết cho việc hình thành, sử dụng, quản lý văn bản Mặt khác, chúng có tầm ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình thực hiện văn bản trong thực tế hoạt động của các tổ chức cơ quan
*Ý nghĩa thực tiễn của việc soạn thảo văn bản tố tụng trong Tòa án:
- Phản ánh diễn biến của phiên tòa, là bằng chứng cho việc thực thi pháp luật tại phiên tòa, đảm bảo đúng người đúng tội
- Là chứng cứ pháp lý thể hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của con người có thẩm quyền trong Tòa án
Ví dụ: Trong tố tụng hình sự quy định: Chánh án phân công thẩm phán xử lý
vụ án hình sự, Thư ký tòa án phải ghi biên bản phiên tòa…
- Soạn thảo văn bản tố tụng còn cho thấy được năng lực của người được giao nhiệm vụ soạn thảo văn bản tố tụng là người có kiến thức về lĩnh vực pháp luật, có kỹ năng lắng nghe và tổng hợp thông tin, viết và sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật trong công tác soạn thảo văn bản
Là nguồn tài liệu cho các nhà nghiên cứu, sinh viên chuyên ngành tham khảo để phục vụ cho công tác nghiên cứu và thực tập
Ví dụ: Sinh viên Học viện tòa án tham khảo các văn bản tố tụng các Tòa án
để phục vụ cho việc học tập như diễn án và phục vụ cho công tác sau này khi
về đơn vị làm việc
Trang 9- Thông qua các văn bản tổ tụng, đặc biệt là bản án của tòa án có thể truyền bá và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của công dân
- Là công cụ để ngăn ngừa và phòng chống tội phạm nhằm duy trì, ổn định trật tự xã hội
Câu 2: Anh Nguyễn Văn A là sinh viên của HVTA Vào nhá nhem tối ngày
12/03/2022, trên đường đi xe máy từ nội thành Hà Nội về HVTA tại xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, khi đi đến đoạn đường gần chùa Keo thì trời đã tối, anh
A bị một đối tượng tên B chắn đường chặn xe của anh A và dùng búa đinh đập vào gáy anh A làm anh A gục xuống, sau đó đối tượng B đã lấy chiếc xe máy của anh A rồi bỏ trốn, sau khi được người dân phát hiện anh A được người dân đưa đi bệnh viện Gia Lâm và sau đó thì đã chết tại bệnh viện.
1 Anh (chị) xác định theo BLHS thì đối tượng B phạm tội gì?
2 Anh (chị) hãy viết phần nhận định của bán án Giả sử tại phiên tòa, đại diện gia đình của anh A đề nghị Tòa án giải quyết về phần dân sự theo quy định của pháp luật thì hướng giải quyết của anh (chị) như thế nào và căn cứ vào đâu để giải quyết?
3 Anh (chị) hãy viết toàn bộ phần quyết định (cả phần hình sự và dân sự)
Trả lời:
1 Xác định tội của B theo BLHS:
Hành vi của B thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm 2 tội trong Bộ luật Hình sự đó là Tội giết người (Điều 123) và Tội cướp tài sản (Điều 168)
a Tội giết người được quy định trong Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi
bổ sung 2017
Thứ nhất, về khách thể của tội phạm: tội giết người xâm phạm quan hệ nhân thân, cụ thể là xâp phạm quyền sống của con người Xét trong tình huống cụ thể đề bài đưa ra là quyền sống của A
Thứ hai, về chủ thể của tội phạm: chủ thể tội giết người là bất kì người nào đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự Trong tình huống này
Trang 10không hề nhắc đến độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự của B nên B mặc nhiên thỏa mãn dấu hiệu là chủ thể của tội giết người
Thứ ba, về mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác, hay nói cách khác là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt
sự sống của họ Trong tình huống này B đã cầm búa đinh đập vào đầu anh A, hành vi cầm búa để đánh đã rất nguy hiểm, hơn nữa B lại đánh vào đầu A là
vị trí hiểm yếu, khả năng gây ra cái chết cho A là rất cao B đã thực hiện hành
vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của A
Thứ tư, về mặt chủ quan của tội phạm:
- Lỗi của người phạm tội: Lỗi của B là lỗi cố ý trực tiếp bởi B nhận thức rõ hành vi dùng búa đinh là vật có khả năng gây chết người, đánh vào đầu A là hết sức nguy hiểm B biết trước hành vi dùng búa đinh đánh vào đầu A thì A
sẽ chết hoặc có khả năng tước đi tính mạng của A (thấy trước hậu quả tác hại của hành vi) Khi cầm búa đinh đánh vào đầu A – vị trí hiểm yếu của con người, chứng tỏ B mong muốn cho A chết Theo khoa học chứng minh vùng gáy là nơi chưa cơ quan quan trọng nhất của cơ thể là não Nó điều kiển mọi hoạt động sống của con người Khi B dùng cây bún đinh đập mạnh vào gáy của A thì B chắc chắc biết làm như vậy có thể tước đi mạng sống của A Nhưng A vẫn quyết định làm
- Mục đích, động cơ phạm tội: Mục đích của B là giết A để chiếm đoạt tài sản
Từ những phân tích trên đây có thể thấy hành vi của B thỏa mãn cấu thành tội phạm tội giết người Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017
b Hành vi của B thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của Tội cướp tài sản (Điều 168)
Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định, tội cướp tài sản là “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có
Trang 11hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống
cự được nhằm chiếm đoạt tài sản…”
- Khách thể của tội phạm: Hành vi cướp tài sản xâm hại đồng thời hai quan
hệ được luật hình sự bảo vệ Đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu Bằng hành vi phạm tội của mình B xâm phạm trước hết đến thân thể của A, tự
do của A qua đó xâm phạm đến tài sản sở hữu của A
Đối tượng tác động: tài sản của A (cụ thể là chiếc xe máy)
- Mặt khách quan của tội phạm:
Theo quy định của điều luật có 3 dạng hành vi khách quan được coi là hành vi phạm tội của tội cướp tài sản là: hành vi dùng vũ lực; hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc; hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được Trong tình huống này B đã thực hiện dạng hành vi thứ nhất là hành vi dùng vũ lực Hành vi dùng vũ lực được hiểu là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động vào người khác nhằm đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của người này chống lại việc chiếm đoạt, hành vi đó trước hết phải nhằm vào con người B đã thực hiện hành vi dùng vũ lực nhằm vào A, dùng dao tấn công A đè bẹp sự chống cự của A để thực hiện mục đích cướp tài sản của mình
Việc B dùng vũ lực tuy tác động vào vị trí nguy hiểm nhưng tính chất không dồn dập và cũng ko nhằm mục đích cố ý làm tổn hại đến sức khoẻ người khác mà chỉ nhằm để lấy bằng được tài sản là chiếc xe máy của A Hành vi của B đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ tài sản của A cũng như
để lại hậu quả là tài sản của A đã bị chiếm đoạt Bên cạnh đó, tuy không nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho A song vì để chiếm đoạt bằng được tài sản của A mà B đã dùng vũ lực làm A ngất và để lại hậu quả A chết
- Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội cướp tài sản là chủ thể thường nên chỉ đòi hỏi có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định Trong tình huống này không hề nhắc đến độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự của B nên B mặc nhiên thỏa mãn là chủ thể của tội cướp tài sản
Trang 12- Mặt chủ quan của tội phạm:
+ Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp
+ B biết hành vi của mình là hành vi gây nguy hiểm cho người khác và nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm trực tiếp tới quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân nhưng vẫn muốn làm nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của A
+ B nhận thức rõ hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó gây ra và mong muốn cho nó xảy ra (việc chiếm đoạt đạt được mục đích là lấy được tài sản và tài sản đó B mong muốn chiếm được) Khi thực hiện hành vi phạm tội, B biết mình có hành vi dùng vũ lực tấn công
A và mong muốn hành vi dùng búa đinh đánh vào đầu A sẽ giết được A hoặc
ít nhất đè bẹp được sự chống cự của A để có thể thực hiện được mục đích chiếm đoạt tài sản
Từ những phân tích trên cho thấy hành vi của B thỏa mãn cấu thành tội phạm tội Cướp tài sản theo Khoản 4 - Điều 168 BLHS 2015 (hậu quả làm chết người)
Ở đây B không phải phạm 1 tội là giết người hoặc cướp tài sản mà phạm
cả hai tội do xét đến yếu tố lỗi của B cũng như mục đích động cơ phạm tội Nếu A và B có mâu thuẫn từ trước, B có ý định muốn giết A, xong thấy tài sản của A nên nảy sinh ý định chiếm doạt tài sản Hoặc có thể ý định ban đầu của B là muốn cướp tài sản của A nhưng lại dùng hung khí là búa đinh và đập mạnh lên đầu A và bỏ mặc A nằm đó không quan tâm Xét về mặt lỗi là B đã
có lỗi cố ý trực tiếp đối với cái chết của A do B đã dùng hung khí có tính xác thương cao đập trực tiếp vào vùng sau gáy của nạn nhân là nạn nhân gục xuống và B lại tiếp tục bỏ mặc nạn nhân không đưa nạn nhân đi bệnh viện dẫn đến cái chết của A Còn về lỗi trong tội cướp tài sản thì dù ý định có trước hay có sau đề là lỗi cố ý
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN