Phân loại và giải các bài toán hóa học vô cơ - phần phi kim theo một phương pháp chung góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học trung học phổ thông Categorize and solve the che
Trang 1Phân loại và giải các bài toán hóa học vô cơ - phần phi kim theo một phương pháp chung góp phần nâng cao hiệu quả dạy và
học môn hóa học trung học phổ thông
Categorize and solve the chemistry of inorganic-nonmetallic parts according to a common methodology contributes to enhancing the effectiveness of teaching and
learning of chemistry education NXB H : ĐHGD, 2012 Số trang 118 tr +
Trương Thành Chung
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học Giáo dục Luận văn ThS ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học (bộ môn Hóa học);
Mã số: 60 14 10 Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Ngọc Ban
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học
(trung học phổ thông) THPT; ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học trong quá trình dạy và học môn hóa học; cơ sở lựa chọn, phân loại các bài tập hóa học; thực trạng của việc sử dụng các bài toán hóa học của giáo viên và học sinh THPT Nghiên cứu phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT và vận dụng để giải các bài toán hóa học vô cơ - phần phi kim
đó lựa chọn và phân loại Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đề tài
Keywords: Phương pháp giảng dạy; Hóa học vô cơ; Trường trung học phổ thông
Content
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong dạy học hóa học, một trong những hoạt động chủ yếu để phát triển tư duy cho học sinh
là việc sử dụng các bài tập hóa học (gồm bài tập định tính và bài tập định lượng) Việc sử dụng các bài toán hóa học, vừa góp phần củng cố, khắc sâu kiến thức cho học sinh, vừa rèn luyện, phát triển năng lực nhận thức tư duy cho học sinh
Trong quá trình dạy học, người giáo viên luôn quan tâm tìm tòi, lựa chọn các câu hỏi, bài toán phù hợp cũng như các cách giải hiệu quả nhất để phục vụ cho các giờ lên lớp, các giờ luyện tập hoặc kiểm tra, đánh giá học sinh nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng giảng dạy Còn đối với học sinh, các
em cũng luôn mong muốn có được những câu hỏi, những bài toán tốt, có những cách giải dễ dàng,
Trang 2Tuy nhiên, hiện nay trong các tài liệu tham khảo hóa học, số lượng bài tập hóa học quá lớn và
đa dạng, phương pháp giải các bài toán hóa học đưa ra lại nhiều nên học sinh và ngay cả một số giáo viên cũng cảm thấy lúng túng trong việc lựa chọn và giải các bài toán hóa học
Để góp phần tháo gỡ khó khăn trên, chúng tôi chọn đề tài “Phân loại và giải các bài toán hóa học vô cơ - phần phi kim theo một phương pháp chung góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học trung học phổ thông”
2 Lịch sử nghiên cứu
Như đã trình bày ở trên, cho đến nay nhiều tác giả khác nhau đã đưa ra nhiều phương pháp giải các bài toán hóa học, đặc biệt là các phương pháp giải nhanh các bài toán hóa học trắc nghiệm
Trong tài liệu "Phương pháp chung giải các bài toán hóa học trung học phổ thông", tác giả đã
hệ thống và đưa ra một phương pháp chung giải các bài toán hóa học đơn giản và dễ sử dụng đối với học sinh Việc áp dụng phương pháp chung nêu trên để giải các bài toán Hóa vô cơ Lớp 12 và bài toán xác định công thức phân tử hợp chất hữu cơ đã được trình bày ở hai luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội
Trong luận văn này, chúng tôi tiếp tục áp dụng phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT để giải các bài toán hóa học vô cơ - phần phi kim góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn Hóa học THPT
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT và vận dụng để giải các bài toán hóa học vô cơ - phần phi kim đã lựa chọn và phân loại
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đề tài
4 Phạm vi nghiên cứu
Các bài toán hóa học vô cơ - phần phi kim trong chương trình trung học phổ thông
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học môn Hóa học ở trường THPT
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bài tập hóa học vô cơ - phần phi kim trong chương trình THPT
Trang 36 Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở để lựa chọn và phân loại các bài toán hóa học là gì ?
- Phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT là phương pháp nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu lựa chọn và phân loại tốt các bài toán hóa học vô cơ - phần phi kim và sử dụng tốt phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT để giải các bài toán đó sẽ có được một hệ thống các bài toán, là tài liệu hữu ích cho giáo viên và học sinh tham khảo, sử dụng góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy và học môn Hóa học ở trường trung học phổ thông
8 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Nghiên cứu các tài liệu lý luận liên quan đến đề tài đang xét
+ Nghiên cứu sách giáo khoa phổ thông và các tài liệu tham khảo về phần phi kim trong chương trình hóa học ở THPT
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra tình hình sử dụng bài toán hóa học và phương pháp giải chúng trong dạy học hóa học + Trao đổi kinh nghiệm với giáo viên và chuyên gia về phương pháp giải các bài toán hóa học trong dạy học hóa học
+ Thực nghiệm sư phạm và xử lý kết quả thực nghiệm bằng phương pháp thống kê toán học và khoa học ứng dụng sư phạm
9 Đóng góp mới của đề tài
Đã lựa chọn và phân loại được hệ thống các bài toán hóa học vô cơ - phần phi kim theo bốn mức
độ tư duy từ thấp đến cao: Biết - Hiểu - Vận dụng - Vận dụng Sáng tạo và giải các bài toán đó theo phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT Đây là một tài liệu tham khảo tốt cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn Hóa học ở THPT
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Lựa chọn, phân loại các bài toán hóa học vô cơ - phần phi kim và giải theo phương
pháp chung giải bài toán hóa học trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 4CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình dạy và học môn Hóa học trung học phổ thông
Trong hai yếu tố là chất lượng giảng dạy của người dạy và chất lượng học tập của người học thì chất lượng dạy học được biểu hiện tập trung nhất ở chất lượng học tập của người học Người học
là người quyết định chính đến chất lượng dạy học Muốn nâng cao chất lượng dạy học thì đồng nghĩa với việc phải nâng cao chất lượng học tập của người học
1.1.3 Một số biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học
Chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy và học phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nội dung và chương trình môn học ; hệ thống sách giáo khoa ; đổi mới phương pháp dạy học ; điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình dạy và học, Trong bản luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến việc sử dụng bài toán hóa học, trong đó, chú trọng vào việc lựa chọn, phân loại và phương pháp giải bài toán hóa học, để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học THPT
1.2 Bài tập hóa học
1.2.1 Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học
Bài tập hóa học là một hệ thống các câu hỏi và bài toán về hóa học nhằm đạt được một hay nhiều những mục tiêu kiến thức cần đánh giá đối với HS Việc dạy học không thể thiếu bài tập Sử dụng bài tập để luyện tập là một biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học
Bài tập hóa học có ý nghĩa, tác dụng về nhiều mặt: ý nghĩa trí dục, ý nghĩa phát triển và ý nghĩa giáo dục
Trang 51.2.2 Lựa chọn, phân loại bài tập hóa học
Hiện nay, trong các sách tham khảo hóa học, số lượng câu hỏi và bài toán hóa học rất phong phú và đa dạng Để phục vụ tốt cho việc dạy và học hóa học, chúng tôi lựa chọn các bài tập hóa học dựa vào những tiêu chí sau:
- Bám sát nội dung chương trình, mục tiêu của môn học, bám sát nội dung sách giáo khoa hóa học THPT
- Có nội dung phong phú, đậm bản chất hóa học và có tính thực tế, tránh sự nặng nề lắt léo về mặt toán học Bên cạnh những bài tập cơ bản, cần có những bài tập tổng hợp, sâu sắc phát triển trí thông minh sáng tạo, khơi dậy hứng thú học tập của HS Bên cạnh những bài tập có hướng dẫn giải cần phải có những bài tập tự luyện, giúp HS tự học, phát huy tính chủ động sáng tạo của HS Bên cạnh những bài tập tự luận là những bài tập trắc nghiệm,
Sau khi đã lựa chọn được các bài tập thì việc phân loại chúng có ý nghĩa quan trọng Có nhiều cách phân loại bài tập tùy thuộc vào cơ sở phân loại Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sử dụng cách phân loại bài tập theo hướng dẫn của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Việt Nam: phân loại các bài tập
theo các mức độ nhận thức tư duy gồm các dạng: dạng Biết - dạng Hiểu - dạng Vận dụng - dạng
Vận dụng sáng tạo
- Các bài tập dạng biết:
Các bài tập ở dạng biết chỉ yêu cầu về năng lực nhận thức của học sinh là nhớ lại và nhắc lại những kiến thức đã học một cách máy móc Tư duy của học sinh ở mức độ biết là tư duy cụ thể và kỹ năng tương ứng chỉ là kỹ năng bắt chước theo mẫu
- Các bài tập dạng hiểu:
Các bài tập ở dạng hiểu yêu cầu học sinh có năng lực nhận thức là tái hiện kiến thức, diễn giải kiến thức, mô tả kiến thức Ở mức độ này, học sinh phải có tư duy logic, tương ứng với kỹ năng phát huy sáng kiến (làm không còn bắt chước máy móc)
- Các bài tập dạng vận dụng:
Ở các bài tập vận dụng, yêu cầu học sinh cần phải có là khả năng vận dụng kiến thức để xử lý tình huống khoa học cụ thể hay tình huống mới, tình huống trong đời sống thực tiễn Ở đây, tư duy học sinh đã được nâng lên một trình độ cao hơn đó là tư duy hệ thống (suy luận tương tự, tổng hợp,
so sánh, khái quát hóa) Kỹ năng tương ứng mà học sinh cần đáp ứng là kỹ năng đổi mới (không bị lệ thuộc vào mẫu, có sự đổi mới, hoàn thành kỹ năng nhịp nhàng không phải hướng dẫn)
- Các bài tập dạng vận dụng sáng tạo:
Dạng vận dụng được nâng lên ở trình độ cao hơn đó là vận dụng sáng tạo Ở trình độ này, học sinh có năng lực nhận thức là phân tích, tổng hợp, đánh giá và phải có tư duy trừu tượng (suy luận các vấn đề một cách sáng tạo, ngoài các khuôn khổ quy định) Kỹ năng tương ứng là kỹ năng có sáng
Trang 6tạo, đạt tới trình độ cao; sáng tạo ra một quy trình hoàn toàn mới, nguyên lý mới, tiếp cận mới, tách
ra khỏi mẫu ban đầu
1.2.3 Thực trạng việc sử dụng bài toán hóa học ở trường phổ thông
Để đánh giá thực trạng việc sử dụng bài toán hóa học ở trường phổ thông, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm điều tra thực tế qua bảng câu hỏi điều tra dành cho giáo viên và học sinh
Tại trường THPT Marie Curie thành phố Hải Phòng, sau khi tham khảo ý kiến của 10 giáo viên trong tổ Hóa học và điều tra 580 học sinh tại trường, kết hợp với kết quả trong nhóm được điều tra ở một số trường khác trong thành phố, chúng tôi có nhận xét:
- 100% các giáo viên đều thống nhất việc sử dụng bài toán hóa học trong việc nâng cao hiệu quả dạy học là rất cần thiết
- Hầu hết các giáo viên (> 90%) không hướng dẫn học sinh giải các bài toán hóa học theo phương pháp chung mà theo các phương pháp khác nhau theo từng dạng bài
- 100% các giáo viên đều sử dụng các định luật bảo toàn hóa học và một số phương pháp khác
đã nêu để hướng dẫn học sinh giải nhanh các bài toán hóa học
- Với học sinh, hầu hết các em (> 90% HS) cho rằng việc giải các bài toán hóa học là khó khăn Các em giải thích với nhiều lí do, trong đó có một nguyên nhân là do các Thầy, Cô đưa ra nhiều cách giải khác, tùy theo mỗi dạng bài nên các em không nắm được bản chất, thường lúng túng, không linh hoạt trong giải bài toán hóa học
1.3 Phương pháp chung giải các bài toán hóa học trung học phổ thông
Các bài toán hóa học có thể giải dựa vào quan hệ giữa số mol của các chất phản ứng và dựa vào các công thức chuyển đổi giữa số mol chất (n) với khối lượng (m), thể tích (V), nồng độ (CM, C%) của chất
1.3.1 Các công thức cần thiết khi giải bài toán hóa học
n = M
Trang 7mm = 100%
Trang 81.3.3 Phương pháp chung giải bài toán hóa học trung học phổ thông
Các bài toán hóa học có thể chia làm hai loại:
1) Các bài toán liên quan đến phản ứng của một chất qua một giai đoạn hay một dãy biến hóa 2) Các bài toán liên quan đến phản ứng của một hỗn hợp chất
Các bài toán liên quan đến phản ứng của một hỗn hợp chất được gọi là các bài toán hỗn hợp còn các bài toán liên quan đến phản ứng của một chất được gọi là các bài toán "không hỗn hợp"
■ Loại bài toán "không hỗn hợp"
Phương pháp giải các bài toán loại này là lập biểu thức tính đại lượng mà bài toán đòi hỏi rồi dựa vào quan hệ giữa số mol của "chất cần tính toán" với số mol của "chất có số liệu cho trước" trong phương trình hóa học và dựa vào các công thức để giải
■ Loại bài toán hỗn hợp
Phương pháp giải bài toán hỗn hợp là đặt ẩn số, lập phương trình và giải phương trình
để suy ra các đòi hỏi của bài toán
- Ẩn số thường đặt là số mol của các chất trong hỗn hợp
- Các phương trình được thiết lập bằng cách biểu thị mối quan hệ giữa các số liệu cho trong bài (sau khi đã đổi ra số mol chất, nếu có thể được) với các ẩn số
- Giải các phương trình sẽ xác định được các ẩn số, rồi dựa vào đó suy ra các đòi hỏi khác nhau của bài toán
Chú ý: - Nhiều bài toán hỗn hợp có số phương trình lập được ít hơn số ẩn số Trong
trường hợp này, để giải hệ các phương trình vô định có 2 phương pháp chính, đó là:
● Giải kết hợp với biện luận, dựa vào điều kiện của các ẩn số
Thí dụ, nếu ẩn số là số mol của các chất thì chúng phải luôn luôn dương, ẩn số là số nguyên tử cacbon (n) trong các chất hữu cơ thì n phải là số nguyên dương Với hiđrocacbon là chất khí thì n
4 , với ancol chưa no thì n 3, Dựa vào các điều kiện như vậy có thể giải được hệ phương trình
vô định và giải được bài toán
● Giải dựa vào việc tính khối lượng mol trung bình của hỗn hợp
Thí dụ, với hỗn hợp gồm 2 chất 1 và 2, có hh hh 1 1 2 2
1 2 hh
tố hóa học,
Trang 9- Với các bài toán hỗn hợp cùng loại, có các phản ứng xảy ra tương tự nhau, hiệu suất như
nhau thì có thay thế hỗn hợp bằng một chất có công thức phân tử trung bình (CTPTTB) để giải
Chúng ta nhận thấy cách giải các bài toán "không hỗn hợp" và các bài toán hỗn hợp tuy có
những điểm khác nhau nhưng chúng đều thống nhất ở chỗ là đều dựa vào quan hệ giữa số mol của
các chất phản ứng và các công thức biểu thị quan hệ giữa số mol chất với khối lượng, thể tích, nồng độ của chất Đó chính là nội dung của phương pháp chung giải các bài toán hóa học
Hiện nay, hình thức thi trắc nghiệm ngày càng phổ biến mà đặc điểm của loại hình kiểm tra này là số lượng câu hỏi nhiều, vì thế mà thời gian làm bài rất ngắn Ngoài việc áp dụng phương pháp
chung giải các bài toán hóa học THPT, cần kết hợp, vận dụng hợp lý các định luật sẵn có trong hóa
học như: Định luật bảo toàn khối lượng; định luật bảo toàn electron; định luật bảo toàn nguyên
tố ; định luật bảo toàn điện tích để giải nhanh các bài toán hóa học
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, bao gồm:
- Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình dạy và học môn Hóa học trung học phổ thông
- Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học; cơ sở lựa chọn, phân loại các bài toán hóa học; thực trạng việc sử dụng bài toán hóa học ở trường THPT
- Phương pháp chung giải các bài toán hóa học ở THPT
CHƯƠNG 2 LỰA CHỌN, PHÂN LOẠI CÁC BÀI TOÁN HÓA HỌC VÔ CƠ - PHẦN PHI KIM VÀ GIẢI THEO PHƯƠNG PHÁP CHUNG GIẢI BÀI TOÁN HÓA HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1 Tổng quan về chương trình hóa học vô cơ - phần phi kim trong trung học phổ thông
Chương trình trung học phổ thông, phần hóa học vô cơ - phi kim bao gồm các nội dung như sau:
Hóa học 10
Chương 5 Nhóm Halogen Chương 6 Nhóm Oxi - Lưu huỳnh
Hóa học 11
Chương 2 Nhóm Nitơ - Photpho Chương 3 Nhóm Cacbon - Silic
Trang 102.2 Hệ thống các bài toán hóa học vô cơ - phần phi kim lựa chọn, phân loại và giải theo phương pháp chung
Trong mỗi chủ đề về bài tập của chương, chúng tôi trình bày với 3 nội dung chính:
- Tóm tắt một số kiến thức cần nắm vững của chương
- Nêu lên một số lưu ý trong quá trình giải bài toán hóa học
- Lựa chọn và phân loại hệ thống các bài toán của chương theo 4 mức độ: Biết - Hiểu - Vận dụng - Vận dụng sáng tạo ; đồng thời; giải các bài toán này theo phương pháp chung giải bài toán hóa học THPT Bên cạnh đó, chúng tôi biên soạn các bài toán tự luyện của mỗi chương để HS tự luyện tập ở nhà, có kèm theo đáp số và đáp án
2.2.1 Bài toán về nhóm Halogen
a) Một số kiến thức cần nắm vững:
b) Một số điểm lưu ý khi giải toán:
c) Hệ thống bài toán nhóm Halogen
- Bài tập dạng Biết
- Bài tập dạng Hiểu
- Bài tập dạng Vận dụng
- Bài tập dạng Vận dụng sáng tạo
d) Các bài toán tự luyện
2.2.2 Bài toán về nhóm Oxi - Lưu huỳnh
2.2.3 Bài toán về nhóm Nitơ - Photpho
2.2.4 Bài toán về nhóm Cacbon - Silic
2.3 Sử dụng hệ thống bài toán hóa học theo mức độ nhận thức tư duy trong quá trình dạy và học phần phi kim - chương trình Hóa học vô cơ THPT
Ở bất kỳ giai đoạn, quá trình dạy học đều có thể sử dụng bài toán hóa học Khi dạy học bài mới, có thể dùng bài toán để vào bài, để tạo tình huống có vấn đề, để chuyển tiếp từ phần này sang phần khác, để củng cố bài, để hướng dẫn HS học bài ở nhà Hệ thống bài toán hóa học đã được biên soạn ở trên được chúng tôi lựa chọn và sử dụng trong các hoạt động dạy học:
- Để hình thành kiến thức mới
- Để vận dụng củng cố kiến thức, kỹ năng của HS
- Để kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng của HS
Tùy theo mục đích, yêu cầu và đối tượng HS mà giáo viên có thể thiết kế, sử dụng các bài toán
đã biên soạn cho HS sử dụng sao cho linh hoạt
2.3.1 Sử dụng bài toán hóa học theo mức độ nhận thức tư duy trong việc hình thành kiến thức mới
Thông thường trong một bài học, giáo viên thường sử dụng bài toán theo các giai đoạn dạy học:
Trang 11- Giai đoạn 2: Giải quyết các vấn đề thuộc bài mới, bằng các bài toán ở dạng biết và hiểu
- Giai đoạn 3: Tổng kết tìm ra các mối liên hệ, thông thường sử dụng các bài toán dạng vận
dụng và vận dụng sáng tạo
2.3.2 Sử dụng bài toán hóa học theo mức độ nhận thức tư duy để vận dụng củng cố kiến thức, kỹ năng
Thực tiễn dạy học tại trường phổ thông cho thấy, việc sử dụng bài toán hóa học để củng cố kiến thức mang lại hiệu quả rất cao Bởi vì nó giúp cho HS khắc sâu kiến thức trọng tâm và rèn luyện
kỹ năng hóa học
Trong các bài luyện tập, ôn tập, có thể hệ thống các kiến thức cần nắm vững sau đó mới đưa ra các bài toán cho HS vận dụng hoặc có thể trình bày xen kẽ giữa việc ôn kiến thức lý thuyết với các bài toán để vận dụng cho từng phần kiến thức
Thí dụ: Trong các giờ ôn tập, luyện tập chương, giáo viên có thể sử dụng các bài toán dạng
Vận dụng và Vận dụng sáng tạo, mang tính chất tổng hợp nội dung của chương
2.3.3 Sử dụng bài toán hóa học theo mức độ nhận thức tư duy nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ vận dụng kiến thức, kỹ năng của học sinh
Kiểm tra đánh giá là công đoạn cuối cùng và rất quan trọng trong quá trình dạy học Căn cứ vào kết quả kiểm tra đánh giá, giáo viên và học sinh biết được hiệu quả phương pháp dạy học và tự điều chỉnh phương pháp cũng như cách dạy, cách học Việc kiểm tra đánh giá có thể áp dụng trong mọi khâu của quá trình dạy học, với nhiều hình thức khác nhau như: kiểm tra miệng, kiểm tra vấn đấp, kiểm tra viết, trắc nghiệm, hoặc phối hợp các hình thức kiểm tra với nhau Tùy vào mục đích kiểm tra và đối tượng học sinh, ta có thể sử dụng các bài toán ở cả 4 mức độ tư duy nhận thức
Cụ thể, chúng tôi đã xây dựng được 4 đề kiểm tra: 2 đề kiểm tra 30 phút và 2 đề kiểm tra 45 phút Sau khi dạy bài mới, ôn tập và luyện tập chương, chúng tôi đã sử dụng các đề trên để đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh Qua kết quả kiểm tra, giáo viên chỉ ra cho học sinh các thiếu sót, lỗ hổng trong kiến thức, đồng thời có kế hoạch bổ sung cho quá trình dạy học
Tiểu kết chương 2
Trong chương 2, chúng tôi đã trình bày các vấn đề sau:
- Tổng quan về chương trình hóa học vô cơ - phần phi kim; tóm tắt một số kiến thức cần nắm vững; những lưu ý trong quá trình giải bài toán hóa học
- Lựa chọn, phân loại và xây dựng hệ thống các bài toán hóa học vô cơ - phần phi kim ở từng chương theo 4 mức độ nhận thức tư duy và giải các bài toán hóa học vô cơ - phần phi kim trên theo phương pháp chung giải bài toán hóa học THPT
Cụ thể, chúng tôi đã biên soạn được 88 bài toán có lời giải (gồm 38 bài toán tự luận và 50 bài toán trắc nghiệm) và 64 bài toán tự luyện (gồm 32 bài toán tự luận và 32 bài toán trắc nghiệm)