1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao khả năng hợp tác của học sinh thông qua việc giảng dạy các bài luyện tập và ôn tập hóa học lớp 11 trung học phổ thông

22 587 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao khả năng hợp tác của học sinh thông qua việc giảng dạy các bài luyện tập và ôn tập hóa học lớp 11 trung học phổ thông
Tác giả Nguyễn Thị Nguyệt
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Kim Long
Trường học Trường Đại học Giáo dục
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 637,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động nhóm kết hợp với lược đồ tư duy và sơ đồ mạng Grap cho các bài luyện tập – ôn tập phần hoá học lớp 11 nâng cao.. Từ những lập luận nêu trên tôi

Trang 1

Người hướng dẫn: PGS.TS Lê Kim Long

Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về vấn đề nâng cao năng lực hợp tác của

học sinh trong dạy học Phân tích thực trạng việc dạy học bằng phương pháp dạy - học hợp tác ở các trường THPT ở Bắc Giang hiện nay Trình bày yêu cầu đối với GV phổ thông để áp dụng phương pháp dạy - học hợp tác trong giảng dạy nói chung và giảng dạy hóa học nói riêng có hiệu quả Đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động nhóm kết hợp với lược đồ tư duy và sơ đồ mạng Grap cho các bài luyện tập – ôn tập (phần hoá học lớp 11 nâng cao) Tiến

Xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ

như vũ bão đòi hỏi những chủ nhân của đất nước phải năng động, sáng tạo, sớm thích nghi với sự thay đổi của đời sống xã hội đó Chính vì lẽ đó, trong định hướng đổi mới giáo dục đã xác định :cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay là hướng vào người học, phát huy tính tích cực và khả năng sáng tạo của họ Người học chỉ có thể học tập thật sự và phát triển tốt nếu họ có cơ hội hoạt động Tổ chức hoạt động nhóm có tác dụng to lớn trong việc tăng cường hoạt động của học sinh, kích thích nỗ lực của mỗi cá nhân, qua đó sẽ góp phần quan trọng trong việc hình thành những con người sáng tạo, có khả năng thích ứng cao với cuộc sống Trong học tập không phải mọi tri thức,

kỹ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác thân thiện giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý thức mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới.Phương pháp dạy

học hợp tác theo nhóm làm tăng hiệu quả học tập nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn

Môn Hoá học là môn khoa học tự nhiên có liên quan chặt chẽ với thực tế đời sống sinh hoạt và sản xuất, nó cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học phổ thông cơ bản về các chất, sự biến đổi các chất, mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hoá học, môi trường và con người Vì vậy, để học sinh có thể chiếm lĩnh được kiến thức của bài học , khắc sâu và vận dụng có hiệu quả vào thực tiễn thì người giáo viên cần thiết kế bài giảng

Trang 2

người thực hiện các hoạt động nhằm giải quyết tình huống đó Từ những lập luận nêu trên tôi đã đi đến chọn đề

tài: "Nâng cao khả năng hợp tác của học sinh thông qua việc giảng dạy các bài luyện tập và ôn tập Hóa học

lớp 11 - THPT" với mong muốn sẽ góp một phần nhỏ bé vào công cuộc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo

dục ở THPT

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở tổng quan về lí luận và thực tiễn dạy học, mục tiêu của đề tài nhằm nghiên cứu phương pháp dạy - học hợp tác kết hợp với việc sử dụng bản đồ tư duy và sơ đồ mạng Grap qua bài luyện tập - ôn tập chương trình Hóa học lớp 11 nâng cao nhằm nâng cao khả năng hợp tác,phát huy tính tích cực, sáng tạo trong học tập của học sinh, từ đó nâng cao chất lượng dạy học nói chung và dạy học hóa học nói riêng ở trường THPT

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài cần thực hiện những nội dung nghiên cứu sau:

3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

- Quá trình dạy học

- Lý thuyết về phương pháp dạy - học hợp tác trong dạy học

- Lý thuyết về phương pháp bản đồ tư duy và sơ đồ mạng Grap trong dạy học hoá học ở trường phổ thông

3.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài

- Thực trạng việc dạy học bằng phương pháp dạy - học hợp tác ở các trường THPT ở Bắc

Giang hiện nay

- Yêu cầu đối với GV phổ thông để áp dụng phương pháp dạy - học hợp tác trong giảng dạy

nói chung và giảng dạy hóa học nói riêng có hiệu quả

- Đề ra một số biện pháp phát triển năng lực hoạt động nhóm cho HS

3.3 Nghiên cứu thiết kế nội dung: các phiếu học tập để tổ chức hoạt động học tập hợp tác trong dạy

học kết hợp với việc sử dụng bản đồ tư duy và sơ đồ mạng Grap để thiết kế một số chương ôn tập – tổng kết kiến thức dạng bài luyện tập- ôn tập chương trình Hoá học 11- nâng cao

3.4 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của phương pháp dạy - học hợp tác

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phương pháp nghiên cứu lí thuyết, phương pháp nghiên cứu các nguồn tài liệu…

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát khoa học, phương pháp chuyên gia, phương pháp thực nghiệm sư phạm…

- Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục

Trang 3

3

5 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông

6 Đối tượng nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn của phương pháp dạy - học hợp tác

- Chương trình Hóa học lớp 11 nâng cao, cụ thể qua các bài luyện tập – ôn tập

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về vấn đề nâng cao năng lực hợp tác của học sinh trong dạy

học

Chương 2: Một số biện pháp tổ chức hoạt động nhóm kết hợp với bản đồ tư duy và sơ đồ mạng Grap cho các bài luyện tập và ôn tập (phần Hoá lớp 11 nâng cao)

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC HỢP

TÁC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Quá trình dạy học

Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về quá trình dạy học nhưng nhìn chung đều cho rằng: Dạy học là hai mặt của một quá trình luôn tác động qua lại, bổ xung cho nhau, quyết định lẫn nhau thông qua hoạt động cộng tác nhằm tạo cho người học khả năng phát triển trí tuệ, góp phần hoàn thiện nhân cách Cái khác nhau của các quan niệm nằm ở chỗ đã nhấn mạnh hơn yếu tố nào trong các chức năng của dạy và học Theo quan niệm truyền thống nhấn mạnh chức năng truyền đạt của việc dạy và chức năng lĩnh hội của việc học mà chưa chú ý thích đáng chức năng điều khiển quá trình nhận thức, quá trình lĩnh hội của người học và tính tích cực, chủ động tự điều khiển quá trình nhận thức của người học trong quá trình học của mình Ngược lại theo quan niệm dạy học hiện đại, người ta rất coi trọng yếu tố điều khiển sư phạm của GV, ở đây vai trò của GV đã có sự thay đổi, người GV phải biết gợi mở, hướng dẫn, dạy cho người học cách tìm kiếm và sử lí thông tin, từ đó vận dụng chúng Như vậy, quá trình chiếm lĩnh khái niệm thành công sẽ đạt được 3 mục đích dạy học: trí dục, phát triển tư duy, giáo dục

Hoạt động dạy và học là hoạt động cộng đồng – hợp tác giữa các chủ thể trong quá trình dạy học - yếu tố duy trì và phát triển chất lượng dạy học

Trang 4

4

Như vậy, quá trình dạy học tối ưu phải xuất phát từ lôgíc của khái niệm khoa học và lôgíc lĩnh hội của HS, thiết kế công nghệ dạy học hợp lí, tổ chức tối ưu hoạt động dạy học cộng đồng – hợp tác, bảo đảm liên hệ nghịch để cuối cùng làm cho HS tự giác tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học, phát triển năng lực tư duy sáng tạo và cùng với nét đặc thù của môn học sẽ giúp cho việc nâng cao chất lượng dạy và học các môn học trong nhà trường phổ thông

1.1.2 Tìm hiểu về bài luyện tập, ôn tập trong chương trình

Bài luyện tập, ôn tập là dạng bài dạy hoàn thiện kiến thức và được thực hiện sau một số bài dạy nghiên cứu kiến thức mới hoặc kết thúc một chương , một phần của chương trình Bài luyện tập, ôn tập có giá trị nhận thức to lớn và có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành phương pháp nhận thức

và phát triển tư duy cho học sinh

Như vậy bài luyện tập, ôn tập là dạng bài học không thể thiếu được trong các môn học với các giá trị nhận thức và ý nghĩa to lớn của nó trong việc hình thành phương pháp nhận thức, phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và hình thành thế giới quan khoa học cho học sinh

Chính vì lẽ đó một trong những định hướng đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông hiện nay là tăng cường học tập cá thể với học tập hợp tác, mà một trong những phương pháp dạy học hiệu quả đáp ứng được điều này đó là phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ kết hợp với sơ đồ mạng Grap và bản đồ tư duy Dưới đây chúng tôi sẽ đề cập đến những cơ sở lí luận về phương pháp dạy học này

1.1.3 Lí thuyết về phương pháp dạy - học hợp tác

1.1.3.1 Khái niệm về dạy - học hợp tác

Có thể dùng các cách gọi khác nhau cho phương pháp dạy - học này, tùy góc độ xem xét Nếu xét từ góc độ GV với hoạt động dạy học người ta hay nói “ dạy học hợp tác” , còn nếu xét từ góc độ người học sẽ là “ học tập hợp tác” Thông thường trong các tài liệu lí luận dạy học hiện đại , do xuất phát từ quan điểm dạy học lấy người học với hoạt động học làm trung tâm nên khái niệm “ học tập hợp tác” được dùng khá phổ biến Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm dạy - học hợp tác nhưng tựu chung lại, có thể đưa ra một cách hiểu toàn diện và tổng quát nhất về dạy học hợp tác như sau: Dạy học hợp tác là một chiến lược dạy - học tích cực ,trong đó các thành viên tham gia hoạt động và học tập cùng nhau trong các nhóm nhỏ ( mỗi nhóm gồm các thành viên có trình độ và khả năng khác nhau) nhằm mục đích phát triển sự hiểu biết và chiềm lĩnh một nội dung học tập nào

đó

1.1.3.2 Các yếu tố cấu thành hoạt động học tập mang tính hợp tác

1 Sự phụ thuộc vào nhau một cách tích cực

2 Sự tương tác, hỗ trợ giữa các cá nhân trong nhóm

3 Trách nhiệm cá nhân

4 Kỹ năng giao tiếp và kỹ năng hoạt động nhóm

5 Phản hồi và điều chỉnh

1.1.3.3 Loại hình nhóm, cách chia nhóm

Nhóm là tập hợp những con người có hành vi tương tác lẫn nhau, để thực hiện các mục tiêu

(chung và riêng) và thỏa mãn các nhu cầu cá nhân

* Phân loại nhóm

Trang 5

5

Có hai loại nhóm cơ bản:

- Nhóm cố định: gồm những HS cùng nhau làm việc trong khoảng thời gian từ 1 đến vài tuần

lễ để giải quyết một bài tập lớn phức tạp

- Nhóm không cố định:

Trong loại hình nhóm không cố định, GV có thể sử dụng nhiều cách chia nhóm khác nhau tùy theo nội dung bài học và thời lượng của tiết học:

1 Làm việc theo cặp hai HS

2 Làm việc theo nhóm 4 - 5 HS hoặc 6 - 7 HS

3 Nhóm chuyên gia hay ghép nhóm

3 Tuân thủ các quy tắc của nhóm

4 Vai trò: là khuôn mẫu các hành vi quen thuộc mà cá nhân phát triển để phục vụ nhóm Một

người có thể đóng nhiều vai trò

5 Hành vi trong nhóm: khi nhóm thực hiện nhiệm vụ thường có 3 lọai hành vi: hành vi hướng

1.1.3.5 Tiến trình dạy học hợp tác theo nhóm

Có thể chia làm 3 giai đoạn:

- Nhập đề giao nhiệm vụ

- Làm việc nhóm

 Lập kế hoạch làm việc

 Thỏa thuận qui tắc làm việc

 Tiến hành giải quyết nhiệm vụ

 Chuẩn bị báo cáo kết quả ttrước lớp

- Trình bày và đánh giá kết quả

Do sự hạn hẹp về thời gian của một tiết học là 45’, thực tế hoạt động nhóm đơn giản hơn nhiều Quá trình làm việc nhóm có thể được thực hiện một cách nhanh chóng: sau khi nhóm nhận nhiệm vụ, các HS trong nhóm cùng thảo luận và đưa ra kết luận và trình bày kết quả

1.1.3.6 Yêu cầu đối với GV phổ thông để thực hiện dạy học hợp tác có hiệu quả

Trang 6

1.1.3.7 Ưu điểm của phương pháp

* Đối với người học

1 Tạo tâm lý thoải mái cho người học

2 Phát triển kỹ năng giao tiếp

3 Phát triển tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp và khả năng giải quyết vấn đề

4 HS ý thức được khả năng của mình

5 Nâng cao niềm tin của HS vào việc học tập

6 Nâng cao khả năng ứng dụng khái niệm, nguyên lý, thông tin về sự việc vào giải quyết các tình huống khác nhau

7 Ngoài những tác động về mặt nhận thức, một số tác giả còn cho rằng phương pháp này còn

có tác động cả về quan điểm xã hội

* Đối với công việc

Có rất nhiều ý tưởng và lời giải giúp cho việc giảm thời gian cũng như có nhiều cách để lựa chọn trong giải quyết vấn đề

1.1.3.8 Nhược điểm của phương pháp

- Chỉ áp dụng cho lớp không quá đông HS

- Nếu GV điều khiển lớp không tốt rất dễ dẫn đến mất trật tự

- HS chỉ quan tâm tới nội dung được giao chứ không quan tâm đến nội dung của các nhóm khác khiến kiến thức không trọn vẹn

- Cơ sở vật chất ở nhà trường phổ thông của ta chưa đáp ứng được yêu cầu của việc tổ chức hoạt động nhóm

- Thời gian chuẩn bị nhiều nên không thể áp dụng thường xuyên cho mọi tiết học

- Thời gian của mỗi tiết học chỉ hạn chế trong 45’ nên khi tổ chức học bằng tổ chức hoạt động nhóm cho HS GV không thể điểm hết các nội dung của bài học mà chỉ chú trọng vào nội dung trọng tâm

1.1.4 Lí thuyết về Grap và lược đồ tư duy

1.1.4.1 Phương pháp Grap dạy học

* Khái niệm Grap trong toán học

- Grap bao gồm một tập hợp không rỗng E những yếu tố gọi là đỉnh và một tập hợp A những yếu tố gọi là cạnh Mỗi yếu tố của A là một cặp (không xếp thứ tự) những yếu tố rõ rệt của E

Trong trường hợp một grap định hướng những yếu tố của A đều là những cặp có hướng và gọi là cung Một đôi hay cặp có thể lựa chọn hơn một lần

Trang 7

7

Trong sơ đồ grap sự sắp xếp trật tự trước sau của các đỉnh và cung (cạnh) có ý nghĩa quyết định , còn kích thước hình dáng không có ý nghĩa (chẳng hạn : cạnh hoặc cung có thể là đường thẳng hay cong , dài hay ngắn cũng được , đỉnh có thể là điểm , vòng tròn hay hình tứ giác)

* Khái niệm grap nội dung

Nói một cách chính xác và thực chất hơn , grap nội dung là tập hợp những yếu tố thành phần của một nội dung trí dục và mối liên hệ bên trong giữa chúng với nhau và diễn tả cấu trúc logic của nội dung dạy học đó bằng một ngôn ngữ trực quan khái quát đồng thời rất súc tích

*.Lập grap nội dung của bài lên lớp

Khi chuẩn bị bài luyện tập, ôn tập có sử dụng phương pháp Grap giáo viên cần tiến hành các bước sau :

+ Xác định đỉnh của grap : Tìm kiếm kiến thức chốt của bài lên lớp

5) Về tâm lí của sự lĩnh hội

1.1.4.2 Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học hoá học

Mục đích của quá trình dạy học không đơn giản chỉ giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức khoa học,

kĩ thuật, công nghệ của nhân loại mà còn giúp học sinh hình thành, phát triển và vận dụng các kĩ năng thông qua quá trình học tập nhằm hướng các em trở thành những con người năng động, sáng tạo thích ứng được với xã hội hiện đại luôn vận động và biến đổi không ngừng Việc xây dựng được một “hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo…Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” đó là lược đồ tư duy

* Nguyên lí của Lược đồ tư duy

Lược đồ tư duy (Mind Map) là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng

Ở vị trí trung tâm lược đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý tưởng hay khái niệm chủ đạo Ý trung tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1 bằng các nhánh chính, từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng

Trang 8

8

* Ứng dụng

Lược đồ tư duy là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở trường phổ thông cũng như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp giáo viên và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bài học hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới, v.v…Việc sử dụng bản đồ tư duy là rất cần thiết cho việc đổi mới phương pháp dạy học

1.2 Thực trạng sử dụng hoạt động nhóm trong dạy học hoá học hiện nay

1.2.1 Thực trạng việc dạy học bằng phương pháp tổ chức hoạt động nhóm ở nước ta hiện nay nói chung và hóa học nói riêng

1.2.1.1 Mục đích điều tra

Tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hoá học ở trường THPT

1.2.1.2 Đối tượng điều tra

Tiến hành thăm dò ý kiến của 50 GV tại 2 trường THPT trong tỉnh Bắc Giang từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 8 năm 2010

1.2.1.3 Kết quả điều tra

* Mức độ sử dụng các PPDH

PPDH theo nhóm đã được GV quan tâm sử dụng phối hợp cùng các PPDH khác nhưng ở mức độ chưa thường xuyên

* Ý kiến của GV về PPDH theo nhóm

Đa số GV khẳng định: Đây là phương pháp tạo ra nhiều cơ hội cho HS rèn luyện kĩ năng hợp tác (83,33%) - một trong những kĩ năng quan trọng, cần thiết của công dân ở thế kỉ 21 HS rèn luyện khả năng trình bày trước đám đông (82,46%)

Ngoài ra, còn có thêm một số ý kiến:

- PPDH theo nhóm tạo điều kiện cho HS tự nghiên cứu, gây hứng thú học tập và làm cho HS

tự tin hơn

- Tạo mối quan hệ gắn kết giữa thầy và trò

* Ý kiến của GV về tổ chức hoạt động nhóm

- Thời lượng tiết học ngắn là điều khó khăn nhất cho việc tổ chức hoạt động nhóm (89,47%)

- Một lớp học đông khiến GV khó thiết kế và điều khiển hoạt động nhóm (82,46%)

- Việc đánh giá chính xác kết quả hoạt động của từng HS gặp nhiều khó khăn do hiện tượng

“ăn theo” và “tách nhóm” (72,81%)

- Các thành viên phối kết hợp không nhịp nhàng, thiếu chủ động (71,05%)

- Khi thảo luận nhóm, HS thường phải di chuyển và ngồi trực diện Với cách bố trí bàn học ở các trường hiện nay (bàn 2-4 HS) cố định làm cho việc thảo luận nhóm diễn ra không thuận lợi (58,77%)

Ngoài ra còn thêm một số ý kiến khác:

- Hình thức kiểm tra đánh giá chưa phù hợp

- Mất nhiều thời gian để xây dựng hoạt động, theo dõivà đánh giá

- Khó ổn định và điều khiển lớp học; đòi hỏi sự kiên nhẫn và khéo léo của GV

- Khó triển khai hoạt động nhóm đến đối tượng HS yếu

- HS chưa có thói quen tự nghiên cứu SGK, tài liệu tham khảo

Trang 9

Các dạng tìm hiểu, báo cáo chuyên đề hoá học liên quan đến môi trường, đời sống, kinh tế, xã hội; thực hiện dự án môn học được dùng rất ít

Kết luận:

Từ kết quả điều tra tác giả nhận thấy việc tổ chức hoạt động nhóm đã được áp dụng ở các trường THPT Hầu hết GV đều công nhận những ưu điểm của phương pháp dạy học theo nhóm Nhưng thực trạng cho thấy vấn đề về sĩ số, trình độ HS; cơ sở vật chất; nội dung và chương trình dạy học còn gây nhiều khó khăn cho việc tổ chức hoạt động nhóm nên việc áp dụng còn chưa thường xuyên, cách thức hoạt động chưa đa dạng và phong phú

1.2.2 Nhận xét chung về bài ôn tập tổng kết hoá học hiện nay ở trường trung học phổ thông

Qua phần thực trạng của bài lên lớp hoá học hiện nay ta nhận thấy rằng trong các giờ ôn tập, luyện tập, tổng kết các thầy cô giáo đã có những nỗ lực đáng kể trong việc nâng cao chất lượng dạy học Tuy nhiên nhiều giờ ôn tập còn mang tính chất nhắc lại bài cũ theo một trình tự nhất định, chỉ mới “ôn” mà chưa “tập”, chưa “luyện”

Trong giờ ôn tập thầy cô giáo chưa chú ý rèn luyện cách suy nghĩ logic, cách tư duy biện chứng Với giờ ôn luyện, tư duy so sánh nổi lên hàng đầu, so sánh là cơ sở cho mọi tư duy

Phần bài tập thì chưa phân loại được, chưa tìm ra đường lối tổng quát để giải quyết một số dạng bài tập

Giờ ôn tập tổng kết nếu chỉ thuộc bài rồi liệt kê lại là chưa đủ mà phải rèn luyện cho học sinh tìm thấy sự liên hệ, bổ sung cho nhau các kiến thức đã học, hình thành cho học sinh cách nhớ hệ thống, biết suy luận hệ thống, tránh được hiện tượng hổng kiến thức chỗ này hay chỗ khác

Như vậy, bài lên lớp ôn tập tổng kết còn nhiều vấn đề cần cùng nhau tìm biện pháp để nâng cao chất lượng

2.2 Thực trạng sử dụng phương pháp dạy - học hợp tác trong dạy học hoá học hiện nay

2.2.1 Thực trạng việc sử dụng phương pháp dạy học hợp tác trong dạy học nói chung và trong dạy học hóa học nói riêng ở nước ta hiện nay

1.2.1.1 Mục đích điều tra

Tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hoá học ở trường THPT

1.2.1.2 Đối tượng điều tra

Trang 10

* Ý kiến của GV về PPDH theo nhóm

Đa số GV khẳng định: Đây là phương pháp tạo ra nhiều cơ hội cho HS rèn luyện kĩ năng hợp tác (83,33%) - một trong những kĩ năng quan trọng, cần thiết của công dân ở thế kỉ 21 HS rèn luyện khả năng trình bày trước đám đông (82,46%)

Ngoài ra, còn có thêm một số ý kiến:

- PPDH theo nhóm tạo điều kiện cho HS tự nghiên cứu, gây hứng thú học tập và làm cho HS

tự tin hơn

- Tạo mối quan hệ gắn kết giữa thầy và trò

* Ý kiến của GV về tổ chức hoạt động nhóm

- Thời lượng tiết học ngắn là điều khó khăn nhất cho việc tổ chức hoạt động nhóm (89,47%)

- Một lớp học đông khiến GV khó thiết kế và điều khiển hoạt động nhóm (82,46%)

- Việc đánh giá chính xác kết quả hoạt động của từng HS gặp nhiều khó khăn do hiện tượng

“ăn theo” và “tách nhóm” (72,81%)

- Các thành viên phối kết hợp không nhịp nhàng, thiếu chủ động (71,05%)

- Khi thảo luận nhóm, HS thường phải di chuyển và ngồi trực diện Với cách bố trí bàn học ở các trường hiện nay (bàn 2-4 HS) cố định làm cho việc thảo luận nhóm diễn ra không thuận lợi (58,77%)

Ngoài ra còn thêm một số ý kiến khác:

- Hình thức kiểm tra đánh giá chưa phù hợp

- Mất nhiều thời gian để xây dựng hoạt động, theo dõivà đánh giá

- Khó ổn định và điều khiển lớp học; đòi hỏi sự kiên nhẫn và khéo léo của GV

- Khó triển khai hoạt động nhóm đến đối tượng HS yếu

- HS chưa có thói quen tự nghiên cứu SGK, tài liệu tham khảo

- HS học nhiều môn, nếu môn nào cũng hoạt động nhóm và xây dựng dự án thì sẽ dẫn đến quá tải

- Chương trình các môn học còn nặng, HS không đủ thời gian chuẩn bị thấu đáo một vấn đề

Trang 11

1.2.2 Nhận xét chung về bài ôn tập tổng kết hoá học hiện nay ở trường trung học phổ thông

Qua phần thực trạng của bài lên lớp hoá học hiện nay ta nhận thấy rằng trong các giờ ôn tập, luyện tập, tổng kết các thầy cô giáo đã có những nỗ lực đáng kể trong việc nâng cao chất lượng dạy học Tuy nhiên nhiều giờ ôn tập còn mang tính chất nhắc lại bài cũ theo một trình tự nhất định, chỉ mới “ôn” mà chưa “tập”, chưa “luyện”

Trong giờ ôn tập thầy cô giáo chưa chú ý rèn luyện cách suy nghĩ logic, cách tư duy biện chứng Với giờ ôn luyện, tư duy so sánh nổi lên hàng đầu, so sánh là cơ sở cho mọi tư duy

Phần bài tập thì chưa phân loại được, chưa tìm ra đường lối tổng quát để giải quyết một số dạng bài tập

Giờ ôn tập tổng kết nếu chỉ thuộc bài rồi liệt kê lại là chưa đủ mà phải rèn luyện cho học sinh tìm thấy sự liên hệ, bổ sung cho nhau các kiến thức đã học, hình thành cho học sinh cách nhớ hệ thống, biết suy luận hệ thống, tránh được hiện tượng hổng kiến thức chỗ này hay chỗ khác

Như vậy, bài lên lớp ôn tập tổng kết còn nhiều vấn đề cần cùng nhau tìm biện pháp để nâng cao chất lượng

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM KẾT HỢP VỚI LƯỢC

ĐỒ TƯ DUY VÀ SƠ ĐỒ MẠNG GRAP CHO CÁC BÀI LUYỆN TẬP VÀ ÔN TẬP ( PHẦN

HOÁ LỚP 11 NÂNG CAO) 2.1 Hệ thống bài luyện tập , ôn tập trong chương trình hoá học phổ thông

- Trong chương trình hoá học phổ thông, các bài luyện tập, ôn tập được phân bố đồng đều, hợp lý theo các chương

- Số tiết học dành cho luyện tập, thực hành đã được tăng cường so với chương trình cũ.Các bài luyện tập được bố trí theo các chương, thường thì mỗi chương có một bài luyện tập nhưng với các chương lớn, số tiết học nhiều có thể có hai bài luyện tập

2.2 Đặc điểm bài luyện tập ôn tập trong chương trình hoá học phổ thông Việt Nam

Trong chương trình hoá học phổ thông Việt Nam các bài luyện tập đều có cấu trúc chung, gồm hai phần chính

- Phần các kiến thức cần nắm vững

- Phần bài tập

Trong chương trình ngoài các bài luyện tập sau mỗi chương còn có các bài ôn tập được thực hiện vào đầu năm, cuối học kỳ và cuối năm học với mục đích hệ thống quá các kiến thức cơ bản nhất trong một kỳ, một năm học và chuẩn bị cho học sinh tiếp thu kiến thức của học kỳ hoặc năm học tiếp theo

Ngày đăng: 09/02/2014, 10:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Tổng hợp kết quả điểm kiểm tra 45 phút chương Sự điện li - Nâng cao khả năng hợp tác của học sinh thông qua việc giảng dạy các bài luyện tập và ôn tập hóa học lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 3.1. Tổng hợp kết quả điểm kiểm tra 45 phút chương Sự điện li (Trang 17)
Bảng 3.7. Bảng phân phối tần suất luỹ tích các bài kiểm tra - Nâng cao khả năng hợp tác của học sinh thông qua việc giảng dạy các bài luyện tập và ôn tập hóa học lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 3.7. Bảng phân phối tần suất luỹ tích các bài kiểm tra (Trang 18)
Bảng 3.8: Kết quả phân tích thống kê điểm kiểm tra - Nâng cao khả năng hợp tác của học sinh thông qua việc giảng dạy các bài luyện tập và ôn tập hóa học lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 3.8 Kết quả phân tích thống kê điểm kiểm tra (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w