Một số biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ cử nhân quản lý giáo dục tại khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội Abstract: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động
Trang 1Một số biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ
cử nhân quản lý giáo dục tại khoa Sư phạm -
Đại học Quốc gia Hà Nội
Abstract: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động đào tạo
(QLHĐĐT) cử nhân quản lý giáo dục (QLGD): nêu ra một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu; giới thiệu một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến công tác QLHĐĐT cử nhân QLGD Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác QLHĐĐT hệ cử nhân QLGD: giới thiệu khái quát về khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN); tìm hiểu các đặc trưng của công tác đào tạo hệ cử nhân QLGD của Khoa; trình bày thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý của Phòng Đào tạo Kiến nghị một số biện pháp nhằm QLHĐĐT hệ cử nhân QLGD tại khoa Sư phạm, ĐHQGHN như: nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho học viên, giảng viên, cán bộ quản lý Khoa và đơn vị liên kết đào tạo
về tầm quan trọng của đào tạo đội ngũ cán bộ QLGD; phân tích nhu cầu và kế hoạch hóa quá trình đào tạo; hoàn thiện quy trình đào tạo hệ không chính quy (trong đó có đào tạo
cử nhân QLGD); áp dụng phương pháp dạy học người lớn đối với các khóa đào tạo cử nhân QLGD để tăng cường hiệu quả công tác giảng dạy; vận dụng phương thức đào tạo
từ xa để mở rộng cơ hội học tập cho học viên; tăng cường sự phối hợp với đơn vị liên kết đào tạo trong việc triển khai kế hoạch giảng dạy
Keywords: Giáo dục đại học; Hoạt động đào tạo; Quản lý giáo dục; Đại học Quốc gia Hà
Nội
Content
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trang 2Đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam là một tất yếu khách quan thể hiện quy luật về quy định của xã hội đối với giáo dục Một trong những khâu đột phá trong đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay là đổi mới công tác quản lý giáo dục mà nòng cốt là công tác đối với cán bộ quản lý giáo dục Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có chất lượng chính là tiền đề cho đổi mới quản lý giáo dục trên quy mô quốc gia cũng như ở từng cơ sở giáo dục Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục gồm 3 khâu có liên quan chặt chẽ, mật thiết với nhau: phát hiện, lựa chọn - đào tạo; bồi dưỡng và sử dụng, trong đó đào tạo, bồi dưỡng là một trong những khâu quyết định chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
Thực hiện quan điểm của Đảng và chủ trương của Nhà nước về công tác phát triển cán bộ quả lý giáo dục, trong thời gian quan, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục đã triển khai tổ chức các khoá bồi dưỡng ngắn hạn cho cán bộ quản lý giáo dục Tuy nhiên, khi quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng phát triển theo xu hướng là một nghề trong xã hội, khi yêu cầu về năng lực phẩm chất người cán bộ quản lý giáo dục ngày càng được nâng cao thì các khoá bồi dưỡng ngắn hạn đã bộc lộ nhiều hạn chế Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục cần thiết phải được đào tạo chuyên sâu từ trình độ cử nhân đến thạc sĩ và tiến sĩ quản lý giáo dục
Từ năm 1998, ở một số cơ sở đào tạo trong nước đã tiến hành đào tạo cử nhân quản lý giáo dục, năm 2003 Khoa Sư phạm đã được Đại học Quốc gia Hà Nội phê duyệt cho đào tạo chương trình cử nhân quản lý giáo, và Khoa Sư phạm đã triển khai đào tạo chuyên ngành này ở
hệ tại chức và chuyên tu Tuy thời gian đào tạo chuyên ngành này chưa lâu nhưng hiện tại Khoa
đã triển khai 12 lớp ở một số địa phương trong cả nước Trong thời gian qua, Khoa Sư phạm đã đóng góp phần đáng kể trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giáo dục Qua hình thức liên kết với các đơn vị ở địa phương khác Khoa triển khai đào tạo cử nhân quản lý giáo dục phần nào đã tạo
ra nguồn lực tại chỗ, phục vụ nhu cầu cán bộ quản lý cho các địa phương, đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu công tác trong điều kiện mới Bên cạnh những kết quả đạt được, Khoa sư phạm do mới được thành lập, các cán bộ quản
lý đào tạo trẻ về tuổi đời và tuổi nghề do đó vẫn còn lúng túng trong việc quản lý các lớp liên kết đào tạo với các địa phương phần nào ảnh hướng tới chất lượng đào tạo Xuất phát từ ý nghĩa và
tính cấp thiết trên tác giả quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp quản lý hoạt động đào tạo
hệ cử nhân quản lý giáo dục tại Khoa Sư phạm- Đại học Quốc gia Hà Nội” để nghiên cứu
trong luận văn với hy vọng đề xuất một số biện pháp quản lý phù hợp, có tính khả thi trong hoạt
Trang 3động đào tạo cử nhân quản lý giáo dục của Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội hợp lý góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Khoa
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những đặc trưng của công tác quản lý đào tạo, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý, cũng như một quy trình quản lý hoạt đào tạo cử nhân quản lý giáo dục tại Khoa Sư phạm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo hệ cử nhân này trong hoàn cảnh hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động đào tạo cử nhân nói chung và hoạt động đào tạo cử nhân quản lý giáo dục nói riêng có tác động để tìm ra một số biện pháp quản lý hoạt động đào tạo phù hợp (đối tượng học, đặc thù công việc, địa bàn mở lớp )
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động đào tạo cử nhân quản lý giáo dục
ở Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội – chỉ ra nguyên nhân của thực trạng
- Rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động đào tạo
hệ cử nhân quản lý giáo dục phù hợp, khả thi tại Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: công tác quản lý hoạt động đào tạo
- Đối tượng nghiên cứu: các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo cử nhân quản lý giáo dục tại Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội
5 Giả thuyết khoa học
Việc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ cử nhân quản lý giáo dục cho các hình thức đào tạo hiện nay tại Khoa và vận dụng đồng bộ các biện pháp đó vào trong thực tế quản lý công tác giảng dạy và học tập sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của các lớp này, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn hiện nay
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Các nghiên cứu khảo sát được tiến hành ở một số khoá đào tạo cử nhân quản lý giáo dục do Khoa Sư phạm đã triển khai từ năm 2003 hệ chuyên tu, tại chức
- Khảo sát và sử dụng các số liệu đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục tại Khoa Sư phạm từ các năm 2003 trở lại đây
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận:
Trang 4Tổng kết thực tiễn công tác quản lý hoạt động đào tạo hệ cử nhân quản lý giáo dục của Khoa Sư phạm, chỉ ra những bài học thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ cử nhân quản lý giáo dục
- Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho các cơ sở khác trong cả nước đang đào tạo
cử nhân quản lý giáo dục Nó còn có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý giáo dục
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và phân tích tài liệu, nghiên cứu các văn bản về
quản lý đào tạo nói chung và chương trình đào tạo cử nhân quản lý giáo dục nói riêng, tổng hợp các quan điểm, lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra - khảo sát bằng phiếu hỏi, tổng
kết kinh nghiệm, tham vấn chuyên gia
- Phóm phương pháp xử lý thông tin: Định lượng, định tính, thống kê và phân tích thống
kê
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý hoạt động đào tạo hệ cử nhân quản lý giáo dục
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động đào tạo cử nhân quản lý giáo dục tại Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ cử nhân quản lý giáo dục tại Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Với vị trí quan trọng trong điều hành, chỉ đạo đảm bảo chất lượng của giáo dục - đào tạo các
bộ quản lý giáo dục, các nhà nghiên cứu ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đã quan tâm đầu
tư nhiều công sức, trí tuệ để nghiên cứu trong mối tương quan tổng thể các vấn đề liên quan đến việc nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục thông qua quá trình đào tạo từ việc
Trang 5tuyển chọn người học, đến chương trình đào tạo, nội dung, phương pháp đào tạo, quản lý hoạt động đào tạo Ở nước ta, do công tác đào tạo cán bộ quản lý giáo dục nói chung trong nhiều năm qua chưa được coi trọng, nhất là đối với cán bộ quản lý giáo dục có trình độ cao Trên thực tế công tác đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục mới chỉ được tiến hành chưa đầy 10 năm nay, do vậy công trình nghiên cứu về vấn đề này còn rất ít và chưa có nhiều công trình nghiên cứu lớn, bài bản, mà chỉ thường xuất hiện một số bài báo không hệ thống đăng trên các tạp chí hoặc các kỷ yếu về giáo dục
Và trong chương trình đào tạo cán bộ quản lý giáo dục trình độ Tiến sĩ của Khoa, đã có một đề tài luận án của tác giả Nguyễn Thu Hằng nghiên cứu về vấn đề “Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán
bộ quản lý giáo dục có trình độ thạc sĩ quản lý giáo dục hiện nay”
Vận dụng các kiến thức đã tiếp thu được trong quá trình học chuyên ngành quản lý giáo dục nhằm góp phần giải quyết một trong những vấn đề còn hạn chế trong việc triển khai đạo tạo chuyên ngành cử nhân quản lý giáo dục hiện nay của Khoa, thông qua thực nghiệm tác giả sẽ nghiên cứu vấn đề một cách tương đối toàn diện, từ đó đề xuất các hướng giải quyết dưới dạng các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ cử nhân quản lý giáo dục Đề tài “Một số biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ cử nhân quản lý giáo dục của Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia
Hà Nội" lần đầu tiên được nghiên cứu với các điều kiện và số liệu cụ thể ở hệ đào tạo cử nhân quản lý giáo dục của Khoa Sư phạm, ĐHQGHN
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Hoạt động đào tạo
1.2.1.1.Hoạt động
Hoạt động là một phương pháp đặc thù của con người quan hệ với thế giới chung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ cuộc sống của mình.”
1.2.1.2 Đào tạo
Đào tạo một quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và
nắm vững những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống, nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và có khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội
1.2.2 Quản lý và các chức năng cơ bản của quản lý
1.2.2.1 Quản lý
Quản lý là một quá trình tác động có ý thức, có định hướng và có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất trong điều kiện biến động của môi trường
Trang 61.2.2.2 Các chức năng cơ bản của quản lý
Quản lý có bốn chức năng cơ bản là: kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra
1.2.2.3 Biện pháp quản lý
Biện pháp quản lý là tổng thể cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản
lý trong quá trình tiến hành các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra Có 4 loại biện pháp quản lý cơ bản là: biện pháp hành chính tổ chức, biện pháp kinh tế, biện pháp tâm lý - giáo dục
1.2.3.2 Đặc trưng của quản lý giáo dục
- Sản phẩm giáo dục là nhân cách, là sản phẩm có tính đặc thù nên quản lý giáo dục phải ngăn ngừa sự dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm cũng như không được phép tạo
1.2.3.3 Chức năng của quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục cũng có những chức năng cơ bản của quản lý nói chung đó là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra cùng với các hoạt động chung là thông tin và quyết định
1.2.4 Khái niệm về chất lượng đào tạo
Trang 7nhiệm trong giới hạn được công chúng chấp nhận và thống nhất thể hiện ở mức độ đóng góp nhân cách được đào tạo vào sự phát triển xã hội
1.2.4.3 Chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo là trình độ đạt được so với mục tiêu đào tạo thể hiện ở trình độ phát triển nhân cách của sinh viên sau khi kết thúc qua trình đào tạo, được xem xét, đánh giá toàn diện hay từng mặt và trong một hệ thống điều kiện nhất định sát với thực tiễn nhu cầu
xã hội
1.2.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
- Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về giáo dục: luật giáo dục, quy định, quy chế, điều lệ, các chuẩn,tiêu phí
- Bộ máy tổ chức quản lý và lực lượng giáo dục: cơ chế quản lý,cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, sinh viên
- Mục tiêu, nội dung, chương trình hình thức và phương pháp dạy học
- Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
- Môi trường giáo dục và môi trường dạy học
- Thông tin giáo dục và thông tin dạy học
1.2.4.5 Chất lượng đào tạo đại học
Có 6 quan điểm về chất lượng trong giáo dục và đại học : Chất lượng được đánh giá bằng
“đầu vào”, Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra”, Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”, Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”, Chất lượng được đánh giá bằng “Văn hoá tổ chức riêng”, Chất lượng được đánh giá bằng “kiểm toán”
1.2.5 Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục:
1.2.5.1 Đội ngũ cán bộ quản lý:
Cán bộ quản lý là người thực hiện một hay toàn bộ các chức năng quản lý Là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích
1.2.5.2 Khái niệm cán bộ quản lý giáo dục:
Cán bộ quản lý giáo dục là người thực hiện một hay toàn bộ các chức năng của quản lý giáo dục để làm cho hệ thống giáo dục vận hành, phát triển, đạt các mục tiêu giáo dục đề ra
1.2.5.3 Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục:
Trang 8Từ các định nghĩa trên có thể suy ra đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là tập hợp các cán
bộ quản lý giáo dục đang giữ các chức vụ quản lý trong hệ thống giáo dục
1.3 Một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động đào tạo cử nhân quản
lý giáo dục
1.3.1 Mục tiêu đào tạo cử nhân quản lý giáo dục
Chương trình đào tạo nhằm giúp trang bị cho học viên các kiến thức:
- Nắm vững những kiến thức cơ bản, nền tảng, những kiến thức chuyên ngành bước đầu về khoa học giáo dục và khoa học quản lý giáo dục
- Nắm vững những kiến thức cập nhật, hiện đại và các phương pháp nghiên cứu của khoa học giáo dục nới chung và khoa học quản lý giáo dục nói riêng
Chương trình đào tạo nhằm giúp trang bị cho học viên các kỹ năng:
- Kỹ năng vận dụng những kiến thức về khoa học giáo dục và quản lý giáo dục vào quản lý các
cơ sở giáo dục và các hoạt động sư phạm;
- Kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các hoạt động giáo dục và kỹ năng giao tiếp trong quản lý giáo dục;
Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo cử nhân quản lý giáo dục có thể:
- Có khả năng tham gia công tác quản lí các cơ sở giáo dục và đào tạo;
- Có khả năng nghiên cứu về khoa học giáo dục cũng như khoa học quản lý giáo dục;
- Làm việc tại các cơ quan quản lý giáo dục ở các cấp hoặc các tổ chức cần sử dụng đến kiến thức quản lý giáo dục;
1.3.2 Những yêu cầu đặt ra đối với cán bộ quản lý giáo dục trong giai đoạn phát triển giáo dục hiện nay
Một trong những vấn đề có tính thời sự hiện nay của đời sống giáo dục nước ta cũng như trên toàn cầu, đó là vấn đề quản lý giáo dục và người cán bộ quản lý giáo dục, Như Bác Hồ đã dạy: vấn đề cán bộ có ý nghĩa quan trong quyết định sự thành công của mọt sự nghiệp
Người cán bộ QLGD có những trách nhiệm - nghĩa vụ rất nặng nề dù rằng vẻ vang Họ là những người chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt dộng của cơ sở giáo dục, ở nơi đầu sóng ngọn gió của đời sống giáo dục Người cán bộ quản lý giáo dục là yếu tố quyết định nhất của sự phát triển tại một cơ sở đào tạo
1.3.2 Vai trò của cán bộ quản lý giáo dục đối với sự phát triển giáo dục hiện nay
Trang 9Cán bộ quản lý giáo dục có vai trò quan trọng trong việc tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục giúp cho hoạt động giáo dục diễn ra đúng pháp luật, có tổ chức, đảm bảo chất lượng giáo dục và đạt được những mục tiêu giáo dục
1.3.3 Tầm quan trọng của vấn đề đào tạo cán bộ quản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Đa số cán bộ quản lý giáo dục chưa được đào tạo có hệ thống về quản lý, làm việc dựa vào kinh nghiệm cá nhân, tính chuyên nghiệp thấp Năng lực điều hành, quản lý của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục còn bất cập Kiến thức về pháp luật, về tổ chức bộ máy, về quản lý nhân
sự, nhất là về quản lý tài chính còn nhiều hạn chế dẫn đến lúng túng trong thực thi trách nhiệm
và thẩm quyền, đặc biệt khi được Nhà nước phân quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm Phần lớn cán bộ quản lý giáo dục còn bị hạn chế về trình độ ngoại ngữ, kỹ năng sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin
Một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục còn chạy theo thành tích Một bộ phận nhỏ cán bộ quản lý giáo dục buông lỏng quản lý, không đấu tranh với tiêu cực, thậm chí còn thoả hiệp, tham gia vào các hiện tượng tiêu cực, tiếp tay cho người học gian dối trong học tập, thi cử Có lẽ, những tiêu cực vừa qua của ngành giáo dục và cả việc chất lượng giáo dục của Việt Nam còn thấp cũng xuất phát từ sự yếu kém trong khâu quản lý của những cán bộ làm công tác này trong ngành giáo dục Để thay đổi được thực trạng này sẽ cần một khoảng thời gian và một sự đầu tư lớn Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này là ngành giáo dục hoàn toàn chưa có chiến lược về xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục Công tác quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng còn mang tính hình thức, chưa thực sự phát huy hiệu quả Bộ Giáo dục và Đào tạo tuy đã có xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ quản lý giáo dục nhưng các chương trình này còn nặng về lý thuyết, nội dung dàn trải, thiếu tính thức tế và dành cho số ít Để đáp ứng có hiệu quả nhu cầu đổi mới nền giáo dục nước nhà hiện nay, cần phải có một đội ngũ cán bộ quản
lý tinh thông nghiệp vụ ở tất cả các cấp
1.3.4 Một số vấn đề về đào tạo cử nhân quản lý giáo dục
Mỗi ngành đào tạo tất yếu đều có đặc thù riêng, cử nhân quản lý giáo dục là một ngành
có nhiều đặc thù, cụ thể:
-Học viên: học viên cử nhân quản lý giáo dục là những người học đã tham gia lao động nghề
trong lĩnh vực giáo dục Đa số học viên ở tuổi trung niên họ đã có ít nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, giáo dục, quản lý giáo dục Động cơ học tập của học viên đa dạng Giá trị của kiến
Trang 10thức sẽ tác động tới sự hình thành động cơ hoạt động, học tập, tính tích cực và mục đích học tập của họ Họ sẽ tích cực học khi họ thấy các kiến thức đó thực sự có lợi cho công việc của họ Họ muốn thu nhận được những điều bổ ích từ mỗi buổi học Tuy vậy số lượng học viên thường là những người đã có tuổi, nên cũng có những cản trở nhất định trong quá trình học tập, sức ì của kinh nghiệm ảnh hưởng đến việc tiếp thu và hình thành những kỹ năng mới
- Giảng viên: là những người được chuẩn hoá, được đào tạo chuyên sâu về quản lý giáo
dục, có năng lực giảng dạy, nghiên cứu khoa học, có hiểu biết và kinh nghiệm quản lý giáo dục, quản lý nhà trường Họ không chỉ am hiểu về lý luận quản lý mà có có khả năng hướng dẫn học viên ứng dụng lý thuyết đó và giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tế
- Phương pháp học: Phương pháp học hiệu quả nhất đối với các cử nhân quản lý giáo
dục là phương pháp thích hợp nhất với tố chất của từng người theo sở thích, tính cách, cách tư duy, môi trường, kinh nghiệm ý thức được về các đặc điểm riêng biệt của mình cùng với việc nắm vững các lý thuyết quản lý, kết hợp với kinh nghiệm trong hoạt động giáo dục mà người học điều chỉnh cách học của mình để có thể phát huy các lợi thế đồng thời khắc phục các hạn chế
- Phương pháp giảng dạy: việc dạy học cho các học viên này được xác định không chỉ là
quá trình tích luỹ kiến thức về quản lý giáo dục mà là quá trình phát triển kỹ năng, tập trung vào khả năng sử dụng lý thuyết quản lý đó trong các tình huống cụ thể trong công việc hàng ngày của người quản lý Phương pháp giảng dạy xuất phát từ quan điểm trên thiên về đường hướng dạy thực hành Trong dạy - học không tồn tại hình thức độc thoại, truyền thụ kiến thức một chiều mà mọi hoạt động phải do người học thực hành đa chiều, người học phải trở thành trung tâm của mọi hoạt động dạy học
- Hình thức tổ chức học tập: Do hình thức tổ chức đào tạo ở các lớp đại học cử nhân quản lý giáo dục là tập trung theo tháng và tập trung theo quý và thời gian học tập là liên tục cuốn chiếu
Tiểu kết chương 1
Sau hơn 20 năm đổi mới, giáo dục nước ta đã phát triển rõ rệt Để nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ mới, giáo dục nước ta phải đổi mới một cách mạnh mẽ, cơ bản và toàn diện hơn Để có một đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng được yêu cầu đó thì việc đào tạo cán bộ QLGD chuyên sâu, có trình độ cao là một yêu cầu cấp bách
Trang 11Đội ngũ cán bộ QLGD phải có đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng đồng bộ về cơ cấu,
có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, được đào tạo đúng quy định, có phẩm chất đạo đức, có năng lực quản lý, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ của ngành trong giai đoạn mới
Nếu lựa chọn được các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo cử nhân chuyên ngành quản
lý giáo dục có khả thi thì chúng ta sẽ đào tạo được một đội ngũ cán bộ QLGD có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO HỆ CỬ NHÂN
QUẢN LÝ GIÁO DỤC TẠI KHOA SƯ PHẠM ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2.1.Giới thiệu về Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội
2.1.1 Lịch sử hình thành
Khoa Sư phạm – ĐHQGHN được thành lập theo Quyết định số 1841/TCCB ngày 21/12/1999 của Giám đốc ĐHQGHN với nhiệm vụ là thể nghiệm một mô hình mới về đào tạo giáo viên trong 1 đại học đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao Ngoài ra, Khoa Sư phạm có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục, cán bộ nghiên cứu khoa học giáo dục và chuyên gia trong một số lĩnh vực khoa học giáo dục mà Việt Nam đang cần, như giáo dục hướng nghiệp, sức khoẻ tâm thần, quản lí hệ thống đào tạo và việc làm v.v
2.1.4 Các chương trình đào tạo
- Hệ đào tạo đại học chính quy: đào tạo giáo viên bậc phổ thông bao gồm có 2 mô hình
Trang 12mô hình 3 + 1: được thiết kế với thời gian đào tạo 3 năm kiến thức chuyên môn cơ bản tại các trường đại học thành viên của ĐHQGHN và 1 năm rèn luyện kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ
sư phạm tại Khoa Sư phạm
mô hình 4 + 1: được thiết kế 1 năm rèn luyện kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ sư phạm, thực tập sư phạm cho các đối tượng đã tốt nghiệp đại học với chuyên ngành có môn học ở bậc phổ thông
- Hệ đào tạo đại học không chính quy: đào tạo hệ chuyên tu, tại chức chuyên ngành sư phạm Toán, Toán tin và quản lý giáo dục
- Hệ đào tạo sau đại học: bao gồm trong nước và chương trình liên kết với nước ngoài
2.1.5 Đội ngũ cán bộ giảng viên
2.2 Công tác đào tạo cử nhân quản lý giáo dục của Khoa
2.2.1.Đặc điểm của học viên
Thứ nhất: Họ là những người đang làm giáo viên ở các trường phổ thông và những người đang giữ các chức vụ quản và lãnh đạo trong ngành giáo dục, trưởng thành về tâm lý, có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống công tác và những kinh nghiệm đó có ảnh hưởng đến công việc học tập của họ
Thứ hai: động cơ học tập của họ có mục đích cụ thể liên quan đến việc làm, thu nhập hoặc sự thành đạt cá nhân
Thứ ba: học tập cử họ sẽ có kết quả cao khi quá trình dạy học được thực hiện qua hành động, qua giải quyết vấn đề và gắn với những ứng dụng thực tiễn
Thứ tư: số lượng học viên lớn tuổi cũng có những cản trở nhất định trong quá trình học
tập
Thứ năm: vị trí công việc cũng vừa tạo động lực vừa gây lực cản
2.2.2 Đặc điểm của cơ sở đào tạo và cơ sở liên kết đào tạo
Địa điểm tổ chức đào tạo là các trường cao đẳng, các trung tâm giáo dục thường xuyên của các tỉnh vì thế cơ sở vật chất của các đơn vị liên kết đào tạo phần đa chưa đáp ứng được yêu cầu
về phòng thí nghiệm, các cơ sở thực tập, trang thiết bị dạy học hiện đại, thư viện Các cơ sở liên kết chưa tham gia giảng dạy được nhiều các môn học trong chương trình đào tạo mà chỉ dừng lại
ở mức phối hợp quản lý lớp và học viên
2.2.3 Các hệ đào tạo:
Các hệ đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục ở Khoa là hệ chuyên tu (học 24 tháng) và
hệ tại chức (học 27 tháng)
Trang 132.3 Thực trạng đội ngũ quản lý và giảng viên giảng dạy chuyên ngành quản lý giáo dục
2.3.1 Thực trạng đội ngũ giảng viên giảng dạy chuyên ngành quản lý giáo dục
2.3.1.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ giáo viên cơ hữu giảng dạy chuyên ngành QLGD của Khoa
Tổng số cán bộ giảng viên giảng dạy của Khoa là 35 người trong đó có 14 là giảng viên giảng dạy chuyên ngành quản lý giáo dục
* Đánh giá về thực trạng đội ngũ giảng viên giảng dạy chuyên ngành của Khoa
Đội ngũ giảng viên cơ hữu giảng dạy chuyên ngành QLGD của Khoa đều là những giảng viên có trình độ cao, đào tạo đúng chuyên ngành, nhưng số lượng giảng viên còn khá mỏng Phân tích kỹ lưỡng chúng ta có thể đưa ra các nhận định về điểm mạnh, điểm yếu cũng như là nguyên nhân của thực trạng nêu trên:
+ Tất cả giảng viên có phẩm chất chính trị tốt, luôn phấn đấu và rèn luyện vì sự nghiệp chung của Đảng, của Nhà nước, vì sự phát triển giáo dục
+ Họ có lòng yêu nghề, tinh thần khắc phục khó khăn, yên tâm trong công tác; có tinh thần tương thân, tương ái giúp đỡ, đùm bọc đồng nghiệp; có lối sống giản dị, gương mẫu, chuẩn về đạo đức
2.3.1.2 Đội ngũ giáo viên giảng dạy theo hợp đồng
Ngoài số lượng giảng viên cơ hữu của Khoa, trên thực tế hoạt động của quá trình đào tạo
hệ cử nhân QLGD Khoa còn phải ký hợp đồng giảng dạy một số môn nhất định Những giáo viên được mời hầu hết là những người có chuyên môn sâu, có thâm niên giảng dạy lâu năm, phù hợp cho việc đào tạo chuyên môn
Đội ngũ cán bộ giảng viên giảng dạy theo hợp đồng của Khoa có sự đảm bảo về mặt chất lượng Các giảng viên theo hợp đồng là những người đào tạo có chuyên môn sâu về nghề và kinh
Trang 14nghiệm giảng dạy lâu năm Hơn nữa, họ là những người đã và đang giữa vị trí công tác cao tại các cơ quan chuyên nghiên cứu về giáo dục nên rất thuận lợi cho việc truyền đạt kỹ năng, kinh nghiệm về công tác quản lý cho học viên Tuy nhiên, những giảng viên này công tác tại hai nơi nên rất bị động cho việc xếp lịch học của Khoa
2.2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý của Phòng Đào tạo
Phòng đào tạo gồm 8 người: 01 trưởng Phòng, 03 chuyên viên quản lý đào tạo và xây dựng kế hoạch tiến độ, thời khoá biểu, 01 chuyên viên thư viện, 01 chuyên viên kiêm nhiệm quản lý đào tạo, 01 người là giảng viên kiêm nhiệm trợ lý đào tạo
Trình độ chuyên môn: 01 là tiến sĩ, 05 người có trình độ thạc sĩ, 02 người tham gia học cao học, 04 người có trình độ đại học Độ tuổi trung bình là: 37 tuổi, đều trong độ tuổi từ 30 đến
50, 06 người là nam và 02 nữ thể hiện một tỷ lệ nam - nữ không đồng đều
Đội ngũ CBQL của Phòng phần lớn là những người có nhiều kinh nghiệm, có thâm niên trong nghề, thạo việc, năng động, tinh gọn, hoàn thành tốt khối lượng công việc lớn và đa dạng trong các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, kế hoạch tài chính Có sự phối hợp, hợp tác chặt chẽ với các bộ phận, giữa cán bộ quản lý với các giảng viên và chuyên viên nên mọi công việc được tiến hành có hiệu quả Tuy nhiên, với một số lượng công việc lớn trong quá trình đào tạo các lớp không chính quy trong đó có các lớp cử nhân quản lý giáo dục chỉ có 1 trưởng phòng và 2 chuyên viên đảm nhận, với lực lượng cán bộ mỏng như vậy đã làm ảnh hưởng không
ít đến chất lượng công việc, nhiều công việc đã lập kế hoạch nhưng không tổ chức thực hiện được hoặc thực hiện không đúng tiến độ
2.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động đào tạo cử nhân quản lý giáo dục của Khoa Sư phạm
2.2.1 Quản lý việc thực hiện các văn bản pháp quy
Với sự giám sát chặt chẽ của Đại học Quốc gia Hà Nội và sự chỉ đạo sát sao của Ban Chủ nhiệm Khoa, việc tuân thủ quy chế đã trở thành nề nếp hoạt động ở Khoa Sự tuân thủ quy chế thể hiện trước hết ở việc đảm bảo thực hiện chỉ tiêu đào tạo Ngoài ra, Khoa tuyệt đối không để xảy ra những tồn tại điển hình ở hệ tại chức như: tự mở lớp mà không báo cáo, các cơ sở đặt lớp
tự thông báo tuyển sinh, hợp thức hoá đầu vào của số sinh viên không đủ điều kiện nhập học, không đảm bảo thời gian đào tạo theo quy định, cắt xén môn học, tiết học
Tuy nhiên, do quản lý chưa sát sao, việc áp dụng quy chế trong đào tạo vẫn còn một số tồn tại chủ yếu ở khâu học tập và thi, kiểm tra của sinh viên Cụ thể: hầu hết sinh viên nghỉ học