công trình đạt giải ba trong cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học FTU 2013, Hy vọng tài liệu này sẽ hữu ích cho các bạn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-o0o -
Công trình tham dự Cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương 2013
Tên công trình
XÂY DỰNG MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG HOẢNG NỢ VÀ
KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
Nhóm ngành: KD1
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2013
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADB : Ngân hàng phát triển châu Á
CIA : Cục tình báo trung ương Mỹ
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
FDI : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
FII : Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GNP : Tổng sản phẩm quốc gia
HNX : Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế
IIR : Định mức tín nhiệm của Institution Investor Rating ICOR : Hệ số hiệu quả sử dụng vốn
WEF : Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 3DANH MỤC HỘP
Hộp 1: Trích các nhận định của IMF về hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn
1989-1998
Hộp 2: Trích các đánh giá của Moody’s đối với khả năng trả nợ nước ngoài của Việt
Nam giai đoạn 2001-2007
Hộp 3: Trích nhận định của Ngân hàng nhà nước về tình hình lạm phát Việt Nam
vào năm 2011
Hộp 4: Trích nhận định của Ủy ban kinh tế Quốc hội về tình hình tỉ giá năm 2011 Hộp 5: Trích các nhận định của Fitch về thực trạng ngân hàng Việt Nam
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Các số liệu về mức nợ công Việt Nam năm 2011
Bảng 2: Ảnh hưởng của định nghĩa lên thời điểm xảy ra khủng hoảng
Bảng 3: Lịch sử Khủng hoảng nợ của các quốc gia được khảo sát
Bảng 4: Các biến vĩ mô được lựa chọn cho mô hình
Bảng 5: Các kết quả thực nghiệm về ngưỡng khả thi
Bảng 6: Bảng quy đổi xác suất thực nghiệm
Bảng 7: Các kết quả thực nghiệm về QPS
Bảng 8: Xếp hạng tín nhiệm của Moody’s cho Việt Nam giai đoạn 2007-2012 Bảng 9: Xếp hạng tín nhiệm của S&P cho Việt Nam giai đoạn 2007-2012 Bảng 10: Các mức rủi ro tương ứng với các mức xác suất xảy ra khủng hoảng Bảng 11: Các mức rủi ro của Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Chỉ số hỗn hợp (6) của Việt Nam giai đoạn 1997-2011
Biểu đồ 2: Chỉ số hỗn hợp (6) và chỉ số hỗn hợp 8 biến của Việt Nam
Biểu đồ 3: Nợ nước ngoài trên GDP của Việt Nam giai đoạn 1989-1999
Biểu đồ 4: Đánh giá IIR cho Việt Nam giai đoạn 1994-1999
Biểu đồ 5: Tình hình tài khoản vãng lai Việt Nam giai đoạn 1990-1999
Biểu đồ 6: Tình hình tiền gửi ở hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1992-1999 Biểu đồ 7: Nợ nước ngoài trên GDP của Việt Nam giai đoạn 1999-2007
Biểu đồ 8: Đánh giá về nợ xấu và Z-score của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai
Biểu đồ 11: Tình hình thoái vốn của Việt Nam trong những năm gần đây
Biểu đồ 12: Đánh giá IIR cho Việt Nam giai đoạn 2007-2012
Biểu đồ 13: Tình hình nợ ngắn hạn và dự trữ ngoại hối của Việt Nam giai đoạn
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHỦNG HOẢNG NỢ VÀ XÂY DỰNG
MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG HOẢNG NỢ CHO NỀN KINH TẾ
VIỆT NAM 1
1.1 Lý luận chung về Khủng hoảng nợ 1
1.1.1 Định nghĩa 1
1.1.2 Nguyên nhân 5
1.1.3 Hậu quả 12
1.2 Xây dựng mô hình cảnh báo sớm cho nền kinh tế Việt Nam 17
1.2.1 Một số mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ 17
1.2.2 Lựa chọn mô hình thích hợp cho nền kinh tế Việt Nam 21
CHƯƠNG II: ÁP DỤNG MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG HOẢNG NỢ VÀO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 24
2.1 Lựa chọn các thông số cho mô hình 24
2.1.1 Lựa chọn mẫu 24
2.1.2 Lựa chọn ngưỡng khả thi 26
2.1.3 Xây dựng chỉ số hỗn hợp 29
2.1.4 Lựa chọn các biến vĩ mô 31
2.2 Các kết quả thực nghiệm 32
2.2.1 Các kết quả thực nghiệm về ngưỡng khả thi 32
2.2.2 Kiểm tra mức độ hiệu quả của các chỉ số hỗn hợp trên mẫu 34
2.2.3 Chuỗi chỉ số hỗn hợp thực nghiệm của Việt Nam 35
2.2.4 Chuỗi chỉ số hỗn hợp 8 biến thực nghiệm 37
2.3 Đánh giá tính hiệu quả của mô hình đối với nền kinh tế Việt Nam 37
2.3.1 Thực tiễn tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn 1997-2011 38
2.3.2 Đánh giá của các tổ chức quốc tế 56
2.3.3 Nhìn nhận xác suất Việt Nam rơi vào Khủng hoảng nợ 59
CHƯƠNG III: CÁC KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM 61
3.1 Các khuyến nghị về mô hình 61
Trang 73.1.1 Đề xuất tăng tính hiệu quả của mô hình 61
3.1.2 Đề xuất thêm các biến mới vào mô hình 62
3.2 Các khuyến nghị về chính sách 65
3.2.1 Đề xuất chính sách đối với việc vay và quản lý nợ công 65
3.2.2 Đề xuất chính sách đối với các vấn đề nội tại trong nền kinh tế 83
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay nợ công đang là vấn đề nóng bỏng không chỉ riêng ở châu Âu, Mỹ, Nhật Bản mà còn nhiều quốc gia đang phát triển khác trên thế giới cũng phải đối mặt, trong đó có Việt Nam Tính đến năm 2011, tỉ lệ nợ công trên GDP của nhiều quốc gia đã đạt đến mức đáng báo động1, vượt xa ngưỡng khuyến nghị 75% GDP
do Quỹ tiền tệ quốc tế đưa ra cho các quốc gia phát triển2, trong đó Nhật Bản là 229.8%, Mỹ 102.9%, Hy Lạp 160.8%, Italia 120.1%, Ireland 105.0% và Bồ Đào Nha là 106.8% Hệ quả tất yếu của mức nợ cao như trên là cuộc Khủng hoảng nợ công châu Âu bùng nổ năm 2010, bắt đầu từ Hy Lạp và đã lan ra trên nhiều nước châu Âu, tác động nghiêm trọng đến cả khu vực kinh tế tài chính lẫn khu vực kinh
tế thực Trên khu vực kinh tế tài chính, hàng loạt các quốc gia châu Âu bị S&P hạ bậc tín nhiệm, cùng với đó là sự tăng lên nhanh chóng của lợi suất trái phiếu chính phủ, sự sụt giảm giá trị của các tài sản tài chính và sự thoái vốn hàng loạt của các nhà đầu tư Nhiều quốc gia đã phải nhận các gói cứu trợ từ IMF, ECB và các tổ chức quốc tế khác với những điều kiện chi tiêu ngặt nghèo cùng với sự giám sát chặt chẽ của các tổ chức này Thị trường tài chính đi xuống, sự mất lòng tin của các nhà đầu tư và nguy cơ tan vỡ của liên minh tiền tệ châu Âu là những hậu quả thấy được của cuộc khủng hoảng Trên khu vực kinh tế tế thực, Khủng hoảng nợ công châu Âu khiến nhiều quốc gia thành viên tăng trưởng GDP âm, đầu tư sụt giảm, lạm phát và thất nghiệp tăng cao, nền kinh tế nhanh chóng rơi vào suy thoái Chính phủ nhiều quốc gia buộc phải thắt lưng buộc bụng, tăng thuế và cắt giảm các phúc lợi xã hội Chính trị trở nên bất ổn, dẫn đến các cuộc biểu tình và bạo động liên tục diễn ra
ở Hy Lạp, Tây Ban Nha, Italia và nhiều quốc gia khác, khiến chính phủ không thể kiểm soát được tình hình và liên tục tuyên bố sụp đổ Tất cả những hậu quả trên chính là cái giá phải trả cho các khoản vay khổng lồ tài trợ cho chi tiêu vượt quá
1 World Economic Forum, “The global competitiveness report 2012-2013”, trang 425, năm 2012
2 International Monetary Fund, “Fiscal policy as a countercyclical tool”, năm 2008
Trang 9khả năng chi trả của chính phủ
Việt Nam từ khi mở cửa tới nay, vẫn bị xếp vào nhóm các quốc gia đang phát triển Quy mô nền kinh tế vẫn còn nhỏ so với mặt bằng chung của thế giới và phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ là chủ yếu Do vậy hiện tại và trong tương lai, việc tăng vay nợ chính phủ nói riêng cũng như nợ công nói chung là khá cần thiết để Việt Nam có thêm nguồn tài chính đầu tư cho cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế Tuy nhiên, mức nợ công của Việt Nam3 năm
2001 mới chỉ là 10.681 tỉ USD (chiếm 33.4% so với GDP), đã tăng lên gần 6 lần là 61.808 tỉ USD vào năm 2011 (chiếm 51.3% so với GDP), vượt qua mức khuyến nghị 25% GDP của IMF đối với các nền kinh tế mới nổi4 Xác suất vỡ nợ tích lũy (cumulative probability of default) của Việt Nam luôn ở mức trên 20% trong giai đoạn 2011-2012 gần đây; cá biệt trong quý 2 năm 2011, Việt Nam còn đứng thứ 9 trong số những quốc gia có rủi ro vỡ nợ cao nhất5 Đây là những dấu hiệu không tốt đối với tình hình nợ công của Việt Nam hiện nay Nếu một cuộc Khủng hoảng nợ công như vậy xảy ra thì hậu quả của nó khó mà có thể đánh giá hết và phải mất một thời gian dài để chúng ta có thể phục hồi lại được nền kinh tế Chính vì lẽ đó, việc xây dựng được một công cụ cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ cho nền kinh tế Việt Nam là thực sự cần thiết và hữu dụng Hay nói một cách chính xác hơn là đưa ra một mô hình qua đó xác định được các dấu hiệu của bất ổn vĩ mô, và từ các dấu hiệu mất bất ổn đó khuyến cáo các cơ quan chức năng điều chỉnh chính sách để các chỉ báo vĩ mô trở lại mức an toàn Điều này đã thôi thúc chúng tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình cảnh báo Khủng hoảng nợ và các khuyến nghị cho Việt Nam”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Về tình hình nghiên cứu trong nước, đã có rất nhiều bài báo và công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề nợ công ở nước ta, trong đó có thể kể ra một vài bài
Trang 10viết và bài nghiên cứu tiêu biểu như:
“Nợ công ở Việt Nam-Một số phân tích và thảo luận” của tiến sỹ Nguyễn Đức Thành, trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và chính sách VEPR
“Chính sách tài khóa và vấn đề nợ công của Việt Nam” của tiến sỹ Vũ Đình Ánh, viện Nghiên cứu thị trường và giá cả, bộ Tài chính
“Nợ công và những tác động của nó đến nền kinh tế” của giáo sư Ngô Thế Chi, giám đốc Học viện tài chính
“Mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hữu Tuấn đăng trên tạp chí Phát triển và Hội nhập số 4, tháng 6 năm 2012
“Khả năng trả nợ và tính bền vững nguồn vốn ODA tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Kim Đức đăng trên tạp chí Phát triển và Hội nhập số 1, tháng 11 năm 2011
“Luận bàn vấn đề nợ công ở Việt Nam” của thạc sỹ Nguyễn Quốc Nghi đăng trên tạp chí Nghiên cứu tài chính và marketing số 6, năm 2011
Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu trong nước chỉ dừng lại ở việc phân tích thực trạng và tính bền vững của nợ công, đưa ra các chính sách tái cơ cấu
nợ công hoặc xem xét ảnh hưởng của nợ công đến sự phát triển kinh tế, mà chưa có công trình nào đề cập đến việc xây dựng một mô hình cảnh báo sớm khả năng xảy
ra Khủng hoảng nợ ở Việt Nam
Về tình hình nghiên cứu nước ngoài, việc xây dựng một mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ đã được các nhà kinh tế học thực hiện từ rất sớm Các cách thức định nghĩa Khủng hoảng nợ cũng như phương pháp tiếp cận mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ vô cùng đa dạng và phong phú Trong số đó phải kể đến một vài công trình tiêu biểu như:
Công trình của Paolo Manasse, Nouriel Roubini và Axel Schimmelpfennig
Trang 11(2003)6, các ông định nghĩa một quốc gia lâm vào Khủng hoảng nợ khi quốc gia đó bị S&P xếp hạng là vỡ nợ (default) và nhận một khoản vay lớn7không ưu đãi từ IMF (nonconcessional IMF loan) Từ định nghĩa này, các ông xây dựng được một mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ bằng cách
sử dụng phối hợp phương pháp Logit và phương pháp Tree analysis Mô hình cảnh báo sớm được thực nghiệm trên 47 nền kinh tế từ năm 1970 đến năm 2002
Công trình của Alessio Ciarlone và Giorgio Trebeschi (2006)8, các ông định nghĩa một quốc gia lâm vào Khủng hoảng nợ khi có một trong bốn điều kiện xảy ra9 Từ các định nghĩa này, các ông sử dụng phương pháp Multinomial Logit để xây dựng nên mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ Mô hình cảnh báo sớm được thực nghiệm trên 28 nền kinh tế mới nổi từ năm 1980 đến năm 2002
Công trình của Ana Maria Feurtes và Elena Kalotychou (2007)10, các ông định nghĩa một quốc gia bị xếp vào vỡ nợ (default) nếu lượng tiền nợ chưa trả vượt quá ngưỡng cho phép so với nợ nước ngoài và có sự xuất hiện của một thỏa thuận giãn nợ, ở đó tổng số nợ được giãn vượt quá vượt quá lượng tiền nợ đã giảm Từ định nghĩa này, các ông xây dựng được một mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ bằng cách sử dụng phối hợp ba phương pháp
là Logit-M, Logit-R và K-clustering Mô hình cảnh báo sớm được thực nghiệm trên 75 nền kinh tế mới nổi và đang phát triển từ năm 1983 đến năm
2000
6 Paolo Manasse et al, “Predicting sovereign debt crises”, IMF working paper, năm 2003
7 “Khoản vay lớn” ở đây theo Paolo Mansse et al định nghĩa là vượt quá 100% hạn ngạch của IMF
8 Alessio Ciarlone và Giorgio Trebeschi, “A multinomial approach to early warning system for debt crises”, Ngân hàng trung ương Italia, năm 2006
9 Xem thêm ở phần phụ lục 1
10 Ana Maria Feurtes và Elena Kalotychou, “Optimal design of early warning systems for sovereign debt crises”, International Journal of Forecasting, năm 2007
Trang 12 Công trình của Marco Fioramanti (2008)11, ông định nghĩa một quốc gia lâm vào Khủng hoảng nợ tương tự như trong công trình của Paolo Manasse et al
Từ định nghĩa này, ông sử dụng phương pháp Artificial neural networks để xây dựng nên mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ Mô hình cảnh báo sớm được thực nghiệm trên tất cả các cuộc Khủng hoảng nợ diễn ra ở các quốc gia đang phát triển từ năm 1980 đến năm 2004
Công trình của Tobias Knedlik và Gregor von Schweinitz (2011)12, các ông
sử dụng trái phiếu 10 năm loại AAA làm chuẩn mực để định nghĩa khi nào một quốc gia lâm vào Khủng hoảng nợ Từ định nghĩa này, các ông sử dụng phương pháp Signals Approach để xây dựng nên mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ Mô hình cảnh báo sớm được thực nghiệm trên tất cả các cuộc Khủng hoảng nợ của các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu từ năm
1999 đến năm 2011
Dựa trên tất cả các công trình nghiên cứu về nợ công đã tham khảo, chúng tôi quyết định chọn phương pháp Signals Approach để xây dựng nên một mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ cho nền kinh tế Việt Nam Về ưu nhược điểm của từng loại phương pháp đã đề cập và lý do chọn phương pháp Signals Approach sẽ được nhóm trình bày cụ thể ở các phần sau
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài chủ yếu tập trung vào nghiên cứu tình hình kinh tế vĩ mô của 42 quốc gia trong mẫu nghiên cứu của Reinhart và Rogoff13, và được nhóm nghiên cứu bổ sung thêm Việt Nam Phạm vi nghiên cứu là trong khoảng thời gian
Trang 134 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài nhằm tính toán thực nghiệm trên tình hình kinh tế của 43 quốc gia được khảo sát, để từ đó rút ra được các “ngưỡng khả thi” cho mô hình Signal Approach Từ các ngưỡng khả thi thực nghiệm này, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành tính toán xác suất xảy ra Khủng hoảng nợ cho nền kinh tế Việt Nam và đưa ra các chính sách nhằm giảm thiểu rủi ro khủng hoảng trong tương lai
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài có tính kế thừa và sử dụng các kết quả nghiên cứu của nhiều công trình đi trước nhằm xây dựng một bộ biến tốt nhất cho Việt Nam Các bộ biến này sẽ được kiểm tra tính hiệu quả trực tiếp để từ đó có thể loại đi các biến chưa tốt và giữ lại các biến tốt Các chỉ báo vĩ mô sẽ được lấy từ cùng một nguồn để hạn chế tối đa tình trạng không nhất quán của số liệu Các số liệu về Khủng hoảng nợ cũng sẽ chỉ được lấy từ nguồn của Reinhart và Rogoff14 để đảm bảo tính tương đồng giữa số liệu và định nghĩa Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp phân tích sẽ được sử dụng chủ yếu, đồng thời kết hợp thu thập dữ liệu, nghiên cứu tình huống để so sánh, đánh giá hiệu quả của mô hình
-Các kết quả tính toán rủi ro Khủng hoảng nợ của Việt Nam là phù hợp với các báo cáo của các tổ chức quốc tế uy tín, như Moody’s, Standard and Poor’s hay Institutional Investors
14 Số liệu về Khủng hoảng nợ sẽ được lấy từ: http://www.reinhartandrogoff.com/
Trang 14-Trên cơ sở các kết quả tính toán, nhóm nghiên cứu có thể đưa ra được các chính sách hợp lý nhất nhằm hạn chế tối thiểu rủi ro khủng hoảng trong tương lai
Trang 15CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHỦNG HOẢNG NỢ VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG HOẢNG NỢ CHO NỀN
KINH TẾ VIỆT NAM 1.1 Lý luận chung về Khủng hoảng nợ
1.1.1 Định nghĩa
Định nghĩa về nợ công
Trước khi làm rõ khái niệm Khủng hoảng nợ, chúng ta hãy xem xét về khái niệm nợ công Hiện nay có rất nhiều cách để định nghĩa về nợ công, tùy theo cách thức định nghĩa nợ công và phương pháp sưu tập dữ liệu, mà các tổ chức quốc tế có những con số thống kê khác nhau Chẳng hạn, xét riêng Việt Nam vào năm 2011, bốn tổ chức lớn đã có bốn con số thống kê khác nhau về mức nợ công của Việt Nam:
Bảng 1: Các số liệu về mức nợ công Việt Nam năm 20111
Tổ chức Mức nợ công của Việt Nam năm 2011 (%GDP)
Sự không đồng nhất giữa các số liệu ở bảng trên thể hiện rõ sự khác nhau đáng
kể trong việc định nghĩa và tính toán nợ công của mỗi tổ chức Tùy từng mục đích
sử dụng và đặc thù kinh tế riêng của mỗi quốc gia mà chúng ta có cách định nghĩa
nợ công riêng Việc định nghĩa nợ công quá rộng và tính toán nợ công quá cao gây
ra sự phức tạp trong tính toán, khiến nợ công trở nên khó quản lý và không có nhiều
ý nghĩa kinh tế Thêm nữa, việc tính nợ công ở mức cao còn tạo ra sự hoang mang trong các nhà đầu tư, khiến việc huy động vốn nước ngoài của chính phủ trở nên
1 Do nhóm nghiên cứu tự tổng hợp, số liệu được lấy trên trang chủ của các tổ chức
Trang 16khó khăn hơn và đôi khi chi phí phải trả cao hơn Ngược lại, việc định nghĩa nợ công ở mức quá hẹp và tính toán quá thấp khiến các các nhà quản lý không lường trước được rủi ro của các khoản nợ công tiềm tàng, hoặc của các khoản nợ không được tính đến Điều này sẽ khiến các khoản nợ ngày càng chồng chất và nguy cơ vỡ
nợ của quốc gia cao hơn
Như vậy câu hỏi đặt ra là chúng ta phải định nghĩa nợ công như thế nào cho hợp lý? Theo quan điểm của Luật quản lý nợ công Việt Nam2, nợ công là khoản nợ bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương Định nghĩa này hẹp hơn định nghĩa của các tổ chức quốc tế như IMF, WB hay UNDTAD và vấp phải nhiều tranh cãi trong việc có nên đưa nợ của doanh nghiệp nhà nước vào trong tính toán nợ công hay không Còn theo quan điểm rộng hơn của IMF, nợ công là nợ của toàn bộ khu vực công Ở đó khu vực công bao gồm chính quyền (general government) và các tổ chức công (public corporations) So với định nghĩa của Luật quản lý nợ công Việt Nam, định nghĩa của IMF bổ sung thêm nợ của ngân hàng trung ương và nợ của doanh nghiệp nhà nước ở tất cả các cấp chính quyền vào trong tính toán3 Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ sử dụng định nghĩa nợ công của IMF làm chuẩn mực vì những lý do sau:
-Thứ nhất, định nghĩa nợ công của IMF là một định nghĩa rộng và bao quát được hầu hết các khía cạnh của nợ công Định nghĩa này được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế chấp nhận rộng rãi và được coi là một chuẩn mực để định nghĩa về nợ công Các định nghĩa nợ công của các tổ chức quốc tế khác hầu như chỉ tương đương hoặc hẹp hơn so với định nghĩa của IMF
-Thứ hai, phương pháp tính toán nợ công theo định nghĩa của IMF được chia thành nhiều cấp độ và tùy từng đặc thù riêng của nền kinh tế mà chúng ta lựa chọn được từng cấp độ riêng Chính vì vậy định nghĩa của IMF khá linh hoạt và có thể áp dụng được cho mọi nền kinh tế Thêm nữa, tùy thuộc cấp độ sử dụng mà một nền
2 Luật quản lý nợ công của quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 Số hiệu 29/2009/QH12, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2010
3 Xem thêm ở phụ lục 3
Trang 17kinh tế có thể tính ra được nhiều mức nợ công khác nhau, điều này tạo điều kiện cho các nhà hoạch định chính sách có thêm sự đối chiếu, tham khảo để có thể nắm
rõ hơn về cơ cấu nợ công của quốc gia mình
-Thứ ba, số liệu về nợ công theo tính toán của IMF khá dồi dào, đầy đủ và liên tục cho nhiều quốc gia Bài nghiên cứu của chúng tôi sử dụng nhiều nguồn số liệu, nhưng chủ yếu là từ IMF và World Bank, chính vì vậy việc sử dụng các định nghĩa của IMF là khá hợp lý
Định nghĩa về Khủng hoảng nợ
Cũng giống như khái niệm nợ công, khái niệm Khủng hoảng nợ hiện nay không
cố định và cũng được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa trên các cơ sở khác nhau 4 Hiểu theo nghĩa hẹp, thì Khủng hoảng nợ là tình trạng chính phủ của một quốc gia mất khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn của mình Tuy nhiên, trải qua thời gian dài vận động và phát triển của nền kinh tế thế giới, nhiều cuộc Khủng hoảng nợ mới
đã liên tục nổ ra, các cuộc khủng hoảng sau dường như diễn biến phức tạp và bất quy luật hơn so với các cuộc khủng hoảng trước đó Điều này sớm biến các định nghĩa cổ điển trở nên lỗi thời và đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần phải phát triển các định nghĩa về Khủng hoảng nợ theo hướng mới rộng và bao quát hơn Chính vì lẽ
đó, định nghĩa về Khủng hoảng nợ luôn thay đổi nhiền lần và liên tục cải biến Nhìn chung, khi nói về Khủng hoảng nợ, thì chúng ta có thể xem xét một vài định nghĩa tiêu biểu của một số học giả sau:
Theo quan điểm của Detragiache và Spilimbergo (2001)5, các ông cho rằng một cuộc Khủng hoảng nợ xảy ra khi thõa mãn một trong hai điều kiện: thứ nhất, các nghĩa vụ nợ phải trả hoặc các khoản lãi vay đối với nước ngoài của các chủ nợ là ngân hàng hoặc các chủ sở hữu trái phiếu vượt quá hơn 5% số nợ còn lại; thứ hai, các quốc gia xin giãn nợ hoặc kéo dài thời gian trả nợ đối với chủ nợ được niêm yết trên danh sách của Trung tâm phát triển tài chính toàn
4 Xem thêm ở phần phụ lục 1
5 Enrica Detragiache và Antonio Spilimbergo, “Crises and liquidity: Evidence and interpretation”, IMF working paper, năm 2001
Trang 18cầu thuộc Ngân hàng thế giới (World Bank’s Global Development Finance)
Theo quan điểm của Knedlik và Schweinitz (2011)6, các ông gọi = −
là hiệu giữa lợi xuất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm tại thời điển t của quốc gia k nào đó với lợi xuất trái phiếu Chính phủ loại AAA của các quốc gia thuộc khu vực đồng tiền chung Châu Âu Gọi và lần lượt là trung bình và phương sai của chuỗi các giá trị , khi đó một quốc gia được coi là rơi vào Khủng hoảng nợ nếu ≥ + 1.6
Theo quan điểm của Manasse và Roubini (2008)7, các ông cho rằng một quốc gia được coi như lâm vào Khủng hoảng nợ nếu xảy ra một trong hai điều kiện: quốc gia đó bị xếp loại vỡ nợ (default) bởi Standard and Poor’s; hoặc nhận một khoản vay lớn không ưu đãi từ IMF (“khoản vay lớn” ở đây có nghĩa là vượt quá 100% hạn ngạch của IMF)
Theo quan điểm của Pescatori và Sy (2003)8, các ông cũng định nghĩa một quốc gia là lâm vào Khủng hoảng nợ nếu vượt quá điểm phân vị 95% ít nhất là 94.7 9 trong phân phối thực nghiệm của
Như vậy vấn đề đặt ra là chúng ta nên lựa chọn định nghĩa nào thì hợp lý nhất? Trên thực tế, việc lựa chọn định nghĩa ảnh hưởng rất lớn đến thời điểm xảy ra của Khủng hoảng nợ Chẳng hạn khi đối chiếu ba định nghĩa của Knedik và Schweinitz (2011), Pescatori và Sy (2004) và Manansse và Roubini (2008) lên các nước châu Âu, chúng ta sẽ thấy sự khác nhau đáng kể trong thời điểm xảy ra Khủng hoảng nợ giữa các định nghĩa:
Trang 19Bảng 2: Ảnh hưởng của định nghĩa lên thời điểm xảy ra Khủng hoảng10
Knedlik và
Schweinitz 01/01/2010 01/06/2010 01/07/2010 01/06/2010 (chưa xảy ra) Pescatori và Sy 01/11/2008 01/02/2009 01/05/2010 01/06/2010 01/06/2010 Manasse và
Roubini 01/05/2010 01/12/2010 01/05/2011 (chưa xảy ra) (chưa xảy ra)
Do công trình của chúng tôi sử dụng dữ liệu Khủng hoảng nợ từ các công trình của Reinhart và Goroff nên để đảm bảo tính nhất quá của số liệu, chúng tôi sẽ sử
dụng định nghĩa của Reinhart và Goroff làm định nghĩa Khủng hoảng nợ xuyên suốt bài nghiên cứu lần này Theo Reinhart và Goroff11, sự kiện Khủng hoảng nợ sẽ bao gồm 2 sự kiện đó là vỡ nợ nước ngoài và vỡ nợ trong nước Vỡ nợ nước ngoài được định nghĩa là khi Chính phủ thất bại trong việc trả nợ lãi hoặc nợ gốc đúng hạn với các chủ nợ nước ngoài Và nó còn bao gồm cả việc tái cơ cấu nợ nhưng với các điều khoản ít thuận lợi hơn so với các điều khoản ban đầu Vỡ nợ trong nước liên quan đến sự kiện đóng băng các khoản tiền gửi ngân hàng và/hoặc bắt buộc các khoản
tiền gửi đó phải chuyển đổi từ đồng dollar sang đồng bản tệ12
13 Xem thêm phần phụ lục 2
Trang 20kích thích nhập khẩu, làm giảm nguồn thu cho quốc gia Thứ hai, khi nhà đầu tư kỳ vọng rằng chính phủ sẽ phải từ bỏ chính sách tỉ giá cố định trong tương lai, giới đầu
cơ sẽ bắt đầu tấn công đồng nội tệ Chính phủ sẽ phải tăng lãi suất hoặc bán ra dự trữ ngoại hối để bảo vệ tỉ giá Thông thường chính phủ sẽ không chọn phương án tăng lãi suất vì điều này sẽ kìm hãm tăng trưởng kinh tế và gia tăng thất nghiệp, mà chọn phương án đơn giản hơn đó là bán ra ngoại tệ Tuy nhiên việc bán ra ngoại tệ
sẽ làm dữ trự ngoại hối dần cạn kiệt, buộc chính phủ phải đi vay nợ để bảo vệ tỉ giá đến cùng Với quy mô to lớn của các cuộc tấn công tiền tệ trong lịch sử, chính phủ cuối cùng cũng lựa chọn việc từ bỏ chính sách tỉ giá cố định để giảm thiệt hại cho nền kinh tế Khi đó, quốc gia sẽ nhanh chóng rơi vào Khủng hoảng nợ do đã vay nợ
để bù đắp lượng ngoại tệ thiếu hụt, trong khi nguồn thu lớn từ xuất khẩu giảm sút
do một thời gian dài định giá cao đồng bản tệ
Tác động của cú sốc kinh tế-tài chính trên thế giới
Khi một quốc gia mở cửa và hội nhập một cách sâu rộng với các nền kinh tế trên thế giới, thì chỉ cần có những bất ổn về kinh tế-tài chính xảy ra với các nền kinh tế khác, quốc gia đó cũng sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ Điều này lý giải tại sao các cú sốc kinh tế-tài chính từ bên ngoài có thể kéo theo nó là những cuộc Khủng hoảng nợ trong nước Thực tiễn đã chứng minh rất nhiều ví dụ như vậy, chẳng hạn cuộc Đại khủng hoảng 1929-1933, bắt đầu từ Hoa Kỳ, đã nhanh chóng lan ra trên toàn cầu Hậu quả của nó là gần 50% các quốc gia trên thế giới bị lâm vào tình trạng
vỡ nợ hoặc phải tái cơ cấu nợ với các chủ nợ nước ngoài trong suốt những năm 1934-1939 tiếp sau14 Hay sự tăng giá dầu lửa trong những năm 1979-1981 và sự tăng lãi xuất cho vay trên thế giới trong những năm 1979-1983 cũng đã trực tiếp tạo
ra cuộc Khủng hoảng nợ ở các quốc gia Mỹ Latin 1982 Gần đây nhất là cuộc Khủng hoảng nợ dưới chuẩn ở Mỹ năm 2008, đã tác động không nhỏ đến nền kinh
tế châu Âu và góp phần tạo ra cuộc Khủng hoảng nợ công châu Âu năm 2010 kéo dài cho đến hiện nay Cơ chế chung của các cuộc Khủng hoảng nợ như thế này đều
14 Reinhart và Rogoff (2010)
Trang 21là: Các quốc gia đi vay quá phụ thuộc vào các dòng vốn nước ngoài, dẫn đến vay nợ
ở mức cao Khi cú sốc xảy ra, các nguồn thu của chính phủ, đặc biệt là xuất khẩu, giảm mạnh khiến khả năng trả nợ cũng giảm theo Ngoài ra, cú sốc tạo ra tâm lý hoang mang cho các nhà đầu tư nước ngoài, khiến họ đồng loạt rút vốn ra khỏi các thị trường, hoặc tăng lãi suất cho vay Hai điều trên xảy ra đồng thời khiến chính phủ quốc gia đi vay không thể kịp thời điều tiết, dẫn đến buộc phải tuyên bố vỡ nợ hoặc cầu cứu IMF
Chính phủ lạm dụng vay nợ
Khi phải đối diện với tình trạng thâm hụt ngân sách, chính phủ các quốc gia trên thế giới thường có ba phương án chính để đối phó: giảm chi tiêu chính phủ, tăng thuế hoặc tăng vay nợ Thông thường, việc giảm chi tiêu chính phủ là rất khó khăn
vì hầu hết các khoản chi của chính phủ là không thể cắt giảm (an sinh xã hội, lương, đầu tư công, gói kích cầu,…) Tăng thuế cũng không khả thi vì việc này sẽ ảnh hưởng đến đầu tư và vấp phải sự phản đối của người dân Chính vì lẽ đó, vay nợ thường là phương án ưa thích được nhiều chính phủ chọn lựa vì dễ thực hiện và thường ít để lại hậu quả trong ngắn hạn Nếu chính phủ kiểm soát được mức vay nợ, đưa ra được các chương trình bền vững ngân sách và giảm nợ được trong tương lai một cách hiệu quả thì chắc chắn Khủng hoảng nợ đã không thể xảy ra Trên thực tế, nhiều quốc gia đã lạm dụng việc vay nợ để tài trợ cho chi tiêu, sử dụng các khoản
nợ mới để trả các khoản nợ đến hạn mà không cần quan tâm đến các mục tiêu giảm
nợ trong dài hạn Điều này đẩy các khoản nợ chính phủ dần tăng lên nhanh chóng
và tạo ra ba rủi ro Thứ nhất, nếu chính phủ cân nhắc thấy khả năng trả được nợ là thấp, họ sẽ có xu hướng không muốn trả nợ nữa và vay nợ nhiều hơn để xoay vòng các khoản nợ đến hạn và tài trợ cho chi tiêu15 Điều này trực tiếp làm mức nợ hiện tại tăng lên, và sự tăng lên này, đến lượt nó lại làm tăng áp lực trả nợ lên chính phủ
Trang 22Chính phủ lại buộc phải tăng vay nợ để xoay vòng các khoản nợ lớn hơn sắp đáo hạn Vòng luẩn quẩn này cứ lặp lại cho tới khi quốc gia đó không thể vay thêm nợ
để xoay vòng nữa thì buộc phải tuyên bố vỡ nợ Thứ hai, khi mức nợ tăng lên vượt quá ngưỡng an toàn, tăng trưởng kinh tế và đầu tư sẽ giảm16 Điều này trực tiếp làm ảnh hưởng đến nền kinh tế và làm tăng rủi ro vỡ nợ quốc gia Thứ ba, mức nợ cao cũng có thể khiến quốc gia bị hạ bậc tín nhiệm trên thị trường Việc bị hạ bậc tín nhiệm làm cho việc đi vay của chính phủ thêm khó khăn (do lãi suất đi vay tăng lên hoặc thậm chí không thể vay thêm được nợ mới), hoặc trường hợp xấu hơn là các nhà đầu tư rút vốn ra khỏi thị trường Cả hai điều này đều có thể đẩy một quốc gia lâm vào tình trạng vỡ nợ
Hiện tượng “Không dung nạp nợ” (Debt intolerance)
Như đã đề cập ở trên, mức nợ cao là một trong những nguyên nhân chính tạo ra rủi ro Khủng hoảng nợ của quốc gia Tuy nhiên trong cuộc khảo sát trên các quốc gia có thu nhập trung bình trong giai đoạn 1970-2008, Reinhart và Goroff17 đã chỉ
ra rằng: 51.7% các quốc gia vỡ nợ hoặc phải tái cơ cấu nợ khi nợ chỉ mới đạt ở mức dưới 60% GNP 60% GNP là một mức nợ trung bình, không phải là cao nếu so sánh với mức nợ ở các nước phát triển và chưa vỡ nợ tại cùng thời điểm (ví dụ Nhật bản
là 170% GNP) Thậm chí có những quốc gia vỡ nợ hoặc phải tái cơ cấu nợ khi mức
nợ còn nằm trong vùng an toàn, như Chi-lê năm 1972 (31.1% GNP), Ecuador năm
2008 (20.0% GNP) hay Albani năm 1990 (16.6% GNP) Để lý giải cho nghịch lý này, Reinhart et al18 đã đưa ra khái niệm “không dung nạp nợ” (debt intolerance)-đề cập đến sự trì trệ mà nhiều nền kinh tế mới nổi phải trải qua khi nợ nước ngoài mới chỉ đạt đến mức “an toàn” (an toàn ở đây là mức vẫn còn dễ dàng quản lý được đối với các quốc gia phát triển) Theo Reinhart, các quốc gia “không
16 Theo các bằng chứng thực nghiệm của: Bauerfreund (1989), Geiger (1990), Afxentiou (1993), Cunnigham (1993), Deshpande (1997), Fosu (1999), Reinhart và Rogoff (2009), Kumar and Woo (2010), Checherita và Rother (2010), Balassoni et al (2011), Arkand et al (2011)
17 Reinhart và Rogoff (2010)
18 Carmen Reinhart, Kenneth Rogoff và Miguel Savastano, “Debt intolerance”, National Bureau of Economic Research, năm 2003
Trang 23dung nạp nợ” thường có lịch sử thể chế yếu kém và hệ thống chính trị có vấn đề Những nhược điểm này khiến các quốc gia đó có xu hướng lạm dụng vay nợ hơn Khi vỡ nợ xảy ra, tình trạng khủng hoảng đến lượt nó lại làm trầm trọng thêm các vấn đề của hệ thống tài chính và tài khóa hiện có, điều này khiến tình trạng vỡ nợ có nhiều khả năng tái diễn, tạo ra một chuỗi vỡ nợ (serial default) Kết quả là, một mẫu hình của khả năng quản lý nợ kém, một khi được thiết lập, có xu hướng tồn tại khá lâu dài Và trong tương lai, những quốc gia “không dung nạp nợ” có nguy cơ vỡ nợ tái diễn rất cao ngay cả khi nợ còn đang ở mức tương đối thấp Cũng theo Reinhart, mức độ “không dung nạp nợ” và ngưỡng nợ an toàn của một quốc gia có thể được đánh giá dựa vào các quan sát vỡ nợ và lạm phát trong quá khứ của quốc gia đó Rủi ro từ các khoản nợ ẩn (hidden debt)
Nợ ẩn ở đây được định nghĩa là các nghĩa vụ nợ tiềm tàng của chính phủ (tức là chỉ trở thành nợ trong những điều kiện nhất định), có thể bao gồm nợ được bảo lãnh công khai (explicit guarantee), nợ được bảo lãnh ngầm (implicit guarantee), nợ của ngân hàng trung ương, nợ ngoại bảng (off-balance sheet debts) tạo ra từ thị trường chứng khoán phát sinh, và tất cả các nghĩa vụ nợ của Chính phủ mà không được thống kê chính thức Theo Reinhart và Goroff19, các khoản nợ ẩn thường có quy mô rất lớn và việc chính phủ không nhận thức được một cách đúng đắn sự tồn tại của chúng sẽ có thể tạo ra rủi ro vỡ nợ Có thể chỉ ra rất nhiều ví dụ cho việc chính phủ
sẽ phải gánh chịu rủi ro lớn khi nợ ẩn phát sinh như: Chính phủ Mỹ (2007) bảo lãnh hai tập đoàn Fannie Mae và Freddie Mac (bảo lãnh công khai); Thái Lan (1997) che dấu khoản lỗ lớn do đã can thiệp quá sâu vào thị trường hối đoái kỳ hạn (nợ ngoại bảng tạo ra từ thị trường chứng khoán phát sinh); Hy Lạp (2008), dưới sự giúp đỡ của Goldman Sachs, che dấu khoản thâm hụt ngân sách hơn 12% do đã tài trợ cho khoản lỗ của các doanh nghiệp quốc doanh (bảo lãnh ngầm); Khủng hoảng tài chính châu Á (1997) với khoản nợ khu vực tư chuyển thành nợ công chiếm tới 34.8%
19 Carment Reinhart và Keneth Rogoff, “From financial crash to debt crisis”, National Bureau of Economic Research, năm 2010
Trang 24tổng số nợ Hay theo như Laeven và Valencia20, chi phí của chính phủ cho việc đương đầu với các cuộc khủng hoảng ngân hàng phát sinh trong 3 thập kỷ vừa qua lên tới 16% GDP (nợ ẩn phát sinh) Nhìn chung, lịch sử các cuộc Khủng hoảng nợ hầu hết đều ghi nhận sự xuất hiện đột biến của nợ ẩn như một trong cách tác nhân gây ra khủng hoảng Chúng ta, dù không thể ước đoán chính xác bao nhiêu và khi nào một khoản nợ ẩn sẽ phát sinh trong tương lai, cũng nên tạo ra các không gian
dự phòng cho các khoản nợ này Chẳng hạn việc cố gắng duy trì thặng dư ngân sách sau mỗi năm tài khóa cũng là một trong những biện pháp tốt giúp giảm thiểu rủi ro của những khoản nợ ẩn đột biến trong tương lai
Một số nguyên nhân khác
Ngoài những nguyên nhân chính và và phổ biến đã đề cập ở trên, Khủng hoảng
nợ còn có thể bị gây ra bởi những nguyên nhân khác, gián tiếp và ít quan trọng hơn, chẳng hạn như:
-Chính phủ có tư duy nhiệm kỳ: Việc tư duy nhiệm kỳ thường khiến chính phủ
có ít trách nhiệm hơn với những quyết định vĩ mô của mình Họ thường có xu hướng lạm dụng vay nợ và chi tiêu tràn lan hơn, thậm chí đầu tư vào những dự án ít lợi nhuận hoặc không có lợi nhuận để cốt tạo ra các lợi ích chính trị cho bản thân Điều này khiến các khoản nợ cứ liên tục tăng lên sau mỗi năm tài khóa, trong khi việc sử dụng các khoản nợ này thì lại rất kém hiệu quả Laver và Hunt21 đã từng chỉ
ra rằng, các nhà chính trị các quốc gia Nam Âu, đặc biệt là Hy Lạp, thường mang nặng tư duy nhiệm kỳ như vậy Bởi họ biết rằng, người phải gánh chịu hậu quả các khoản nợ do họ vay, sẽ là các chính phủ kế nhiệm Thành thử, nợ công ở Hy Lạp cứ ngày càng chồng chất theo thời gian và thâm hụt ngân sách chính phủ thường tăng cao đột biến trước mỗi đợt bầu cử
-Hiện tượng “Original sin”: Original sin là hiện tượng được đưa ra bởi
Trang 25Eichengreen et al22, đề cập tới tình huống nhiều quốc gia không thể đi vay nợ nước ngoài bằng đồng bản tệ của họ Tuy hiện tượng này tương đối phổ biến trên thế giới, nhưng đối với những nền kinh tế kém và đang phát triển, thì đây là một trong những nguyên nhân quan trọng tạo ra rủi ro vỡ nợ Orignal sin tạo ra rủi ro vỡ nợ theo nguyên tắc sau: Các quốc gia kém và đang phát triển thường có nhu cầu vay nợ cao (đầu tư, chi tiêu, nhập khẩu hàng hóa,… ) Tuy nhiên, do đồng bản tệ của họ là đồng tiền yếu, nên khi thanh toán các khoản nợ với nước ngoài, họ buộc phải chi trả bằng ngoại tệ mạnh Nguồn thu ngoại tệ từ việc xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ của các quốc gia kém và đang phát triển thường rất hạn chế vì giá trị và sức cạnh tranh thấp Thêm nữa họ cũng không thể phá giá đồng tiền để kích thích xuất khẩu vì như vậy
sẽ làm cho giá trị các khoản nợ nước ngoài cũng tăng lên tương ứng Như vậy các quốc gia này không còn cách nào khác đành phải vay thêm nợ mới để trả nợ cũ Đây chính là nguyên nhân tạo ra rủi ro vỡ nợ
-Sự bất ổn của các nhân tố vĩ mô: Sự bất ổn của các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến rủi ro Khủng hoảng nợ theo hiệu ứng dây chuyền Chẳng hạn, khi giá cả hàng hóa trên thế giới tăng, sẽ khiến giá trị hàng hóa nhập khẩu vào quốc gia đó cũng tăng theo Điều này góp phần tạo nên lạm phát trong nước Khi lạm phát trở nên quá cao và khó kiểm soát sẽ tạo áp lực trượt giá lên đồng bản tệ Chính phủ, vì những lý
do chính trị và kinh tế riêng, quyết định bán ra dự trữ ngoại hối để ổn định tỉ giá, tránh đồng tiền trượt giá quá sâu Điều này góp phần làm giảm lượng dự trữ ngoại hối quốc gia, khiến rủi ro thanh khoản tăng lên Ngoài ra, nhiều nhân tố vĩ mô tuy không phải là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, nhưng cũng có thể được sử dụng như những chỉ báo trước cho một cuộc khủng hoảng, vì hiệu ứng dây truyền như trên Chẳng hạn, theo Reinhart23, khi các dòng vốn vay nợ nước ngoài đổ vào một quốc gia một cách hào phóng, các ngân hàng trong nước sẽ có xu hướng cho vay nợ
22 Barry Eichengreen, Ricardo Hausmann và Ugo Panizza, “Original sin: the pain, the mystery, and the road
to redemption”, Financial Policy Forum, năm 2002
23 Carmen Reinhart và Kenneth Rogoff, “A decade of debt”, Policy Analyses in International Economics, năm 2011
Trang 26tràn lan mà không cần xem xét kĩ khả năng trả nợ của người đi vay, dẫn đến tăng trưởng tín dụng nóng Khi tín dụng bùng nổ, người dân sẽ đổ tiền vào đầu tư những thị trường lợi nhuận cao như bất động sản, khiến giá bất động sản cũng nhảy vọt theo Tới một lúc nào đó, bong bóng bất động sản vỡ, ngân hàng bị mắc kẹt với những khoản nợ nước ngoài lớn, trong khi khoản tiền ngân hàng cho vay thì bị người dân găm giữ trong các tài sản bất động sản đang mất giá Lúc này, các khoản
nợ khu vực tư (private sector) sẽ dần chuyển thành nợ công và nợ của hệ thống ngân hàng, làm tăng rủi ro vỡ nợ quốc gia Chính vì lẽ đó, EC đề xuất “sự tăng giá nhà thực” (increase in real house prices) hay như ECB đề xuất “sự bùng nổ tín dụng” như những chỉ báo vĩ mô giúp phán đoán khả năng xảy Khủng hoảng nợ của quốc gia
1.1.3 Hậu quả
Khác với những khoản nợ thông thường của các cá nhân là những khoản nợ có thể thu hồi dựa trên cơ sở luật pháp, nợ của Chính phủ đứng ngoài luật pháp của một nước Nó hoàn toàn dựa vào lòng tin và sự tín nhiệm đối với chính phủ đi vay Chính vì vậy, có những trường hợp, dù chính phủ vẫn đủ khả năng trả nợ (ability to repay) nhưng lại không mong muốn trả nợ (unwilling to repay), và tuyên bố vỡ nợ
để giảm các áp lực nợ lên quốc gia, trong khi các khoản tiền không phải trả có thể
sử dụng để chi tiêu trong nước Như vậy trên lý thuyết, vỡ nợ là một sự kiện có lợi cho nền kinh tế Tuy nhiên, trên thực tế, các quyết định tuyên bố vỡ nợ thường là các quyết định khó khăn, vì cái giá phải trả của nó vượt quá lợi ích mà nó đem lại Sau đây là một số hậu quả tiêu biểu mà các quốc gia phải gánh chịu khi lâm vào tình trạng vỡ nợ
Trang 27bị hạ bậc tín nhiệm trên thế giới, dẫn đến tình trạng tiếp cận các thị trường vốn trong tương lai gặp nhiều khó khăn24 (không thể vay nợ nhiều như trước hoặc vay
nợ phải chịu lãi suất cao hơn,….); hay sự mất lòng tin ở các chủ thể kinh tế mà chính phủ ký hợp đồng (các công ty hoặc người lao động,….), dẫn đến tình trạng sụt giảm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn vì các chủ thể này giảm đầu tư do lo sợ
bị quốc hữu hóa hoặc sự tăng thuế trong tương lai25; hoặc thậm chí các chính sách
vĩ mô của chính phủ trong tương lai cũng sẽ bị giảm hiệu lực vì thị trường sẽ không
kỳ vọng rằng chính phủ đủ khả năng duy trì các chính sách đó tới cùng Ngược lại, Sandleris (2008) chỉ ra rằng, việc chính phủ nỗ lực trả nợ sẽ tạo ra hiệu ứng tốt với các chủ thể kinh tế, giúp họ tin rằng chính phủ cũng sẽ đủ khả năng duy trì các
“nguyên tắc tốt khác” (good fundamentals) như kiểm soát tham nhũng hay duy trì các quyền sở hữu tài sản (property right) English (1996) và Tomz (2007) củng cố quan điểm này bằng việc chứng minh uy tín là lý do chính giải thích tại sao các quốc gia nỗ lực trả nợ tới cùng Eaton và Gersovitz (1981) thì tin rằng, nếu phải cân nhắc đánh đổi giữa việc mất uy tín chính phủ và việc thu được khoản tiền ròng từ tuyên bố vỡ nợ, chính phủ sẽ lựa chọn việc duy trì trả nợ Nhìn chung, các học giả khi nghiên cứu về sự kiện vỡ nợ, đều ủng hộ một quan điểm chung đó là: việc vỡ nợ
sẽ khiến chính phủ đi vay mất uy tín, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp cận các thị trường vốn trong tương lai, làm giảm hiệu lực của các chính sách vĩ mô
và có xu hướng giảm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn vì sự sụt giảm trong đầu tư Nếu cân nhắc đánh đổi giữa lợi ích và tác hại của tuyên bố vỡ nợ, thì việc duy trì trả
nợ đến cùng lại là một quyết định khôn ngoan
Sự trừng phạt của kẻ cho vay
Lịch sử đã ghi nhận nhiều trường hợp, khi kẻ cho vay không thể thu hồi các khoản nợ với chính phủ, thì sự trừng phạt mà những kẻ cho vay áp đặt lên chính phủ đó đôi khi vượt quá cả giá trị khoản nợ Những sự trừng phạt này thường rất đa
24 English (1996); Tomz (2007); Eaton và Gersovitz (1981)
25 Quan điểm của Cole và Kehoe (1998) Ngoài ra các ông cũng chỉ ra rằng, vỡ nợ có thể khiến chính phủ trở nên không còn đáng tin cậy trong các lĩnh vực khác, nằm ngoài quan hệ tín dụng với người cho vay
Trang 28dạng và biến đổi trong suốt lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới Ở thế kỷ 19,
sự trừng phạt có thể là việc gây hấn quân sự với quốc gia không trả được nợ, nếu kẻ cho vay cũng là quốc gia26 (như trường hợp Anh tấn công Istanbul vì Thổ Nhĩ Kỳ không trả được nợ năm 1876; Mỹ chiếm Hahiti với lý do thu hồi các khoản nợ năm 1915) Bước vào thời kỳ hiện đại, sự trừng phạt bằng quân sự có xu hướng dần bị bãi bỏ, thay vào đó là các sự trừng phạt về kinh tế-tài chính-thương mại như: tịch thu các tài sản và hàng hóa của quốc gia đi vay ở nước ngoài27; gây áp lực lên các thực thể tài trợ tín dụng thương mại (trade credit) cho quốc gia đi vay, làm cản trở xuất nhập khẩu28; loại trừ quốc gia đi vay ra khỏi thị trường vốn quốc tế hoặc tăng lãi suất cho vay, khiến việc đi vay trong tương lai gặp khó khăn29; hay áp đặt các lệnh cấm vận thương mại lên quốc gia đi vay30 Nhìn chung những sự trừng phạt lên quốc gia vỡ nợ của kẻ cho vay thường khá hà khắc và gây ảnh hưởng dài hạn lên nền kinh tế Chính phủ các nước, ngoài việc cân nhắc đến uy tín chính phủ, cũng phải cần lường trước những rủi ro trừng phạt mà quốc gia phải gánh khi tính đến chuyện tuyên bố vỡ nợ Các hậu quả của sự trừng phạt này lớn đến mức, Eaton và Gersovitz (1981) khuyên các quốc gia nên nỗ lực trả nợ đến cùng hơn là tuyên bố
vỡ nợ khi vẫn còn đủ năng lực trả nợ
Làm suy yếu hệ thống ngân hàng
Có rất nhiều bằng chứng cho việc một cuộc Khủng hoảng nợ có thể làm suy yếu đáng kể hệ thống ngân hàng quốc gia Thông thường việc này thường được thực hiện trên 2 cơ chế Cơ chế thứ nhất, với những cuộc Khủng hoảng nợ phát sinh từ việc phá giá đồng tiền, theo Kaminsky và Reinhart (1999), việc phá giá đồng tiền sẽ tạo ra sự mất cân xứng tiền tệ (currency mismatch), nhất là đối với những ngân
Trang 29hàng vay lượng ngoại tệ lớn từ nước ngoài Khi sự mất cân xứng tiền tệ kéo dài, ngân hàng sẽ phải chịu lỗ lớn và với những trường hợp xấu hơn đó là phải chịu rủi
ro phá sản Điều này được minh chứng rõ ràng ở cuộc Khủng hoảng nợ Nga năm
1998, khi nhiều ngân hàng Nga chủ yếu đi vay USD ở nước ngoài và cho vay ra dưới dạng Rúp Nga Khi đồng Rúp bị phá giá, người gửi tiền nhanh chóng chuyển đổi các khoản tiền Rúp của họ sang USD và rút tiền ồ ạt ra khỏi các ngân hàng, dẫn đến ngân hàng bị mất thanh khoản Trong khi với các khoản nợ nước ngoài, ngân hàng buộc phải sử dụng việc chuyển đổi Rúp sang USD để trả nợ, và việc phá giá đồng Rúp vô hình chung làm tăng giá trị khoản nợ lên tương ứng Hai điều này tác động trực tiếp đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản hoặc phải cầu cứu sự hỗ trợ từ ngân hàng trung ương Cơ chế thứ hai, theo Kumhof và Tanner (2005), là do các ngân hàng thường nắm giữ một lượng lớn nợ của chính phủ dưới dạng trái phiếu Nếu chính phủ không thể phân định rạch ròi giữa nợ trong nước và nợ nước ngoài, thì khi chính phủ tuyên bố vỡ nợ, các ngân hàng trong nước cũng sẽ phải gánh chịu rủi ro như các chủ nợ nước ngoài Hoelscher và Quintyn (2003) bổ sung rằng, khi chính phủ tiến nhanh đến bờ vực vỡ nợ, trong khi các khoản vay nước ngoài ngày càng khó khăn hơn, chính phủ sẽ có xu hướng tăng vay nợ ở hệ thống ngân hàng trong nước Khi tình trạng vỡ nợ xảy ra, hệ thống ngân hàng sẽ trở nên suy yếu và
có nguy cơ lâm vào khủng hoảng Lúc này, sự mất uy tín của chính phủ đến lượt nó làm giảm hiệu lực của các chính sách do chính phủ đưa ra, khiến các nỗ lực cứu cánh hệ thống ngân hàng không còn phát huy được tác dụng31 Nhìn chung dù vận động theo cơ chế nào thì một cuộc Khủng hoảng nợ cũng làm yếu đi trầm trọng hệ thống ngân hàng, làm củng cố thêm cho quan điểm “hầu hết các cuộc Khủng hoảng
31 Có thể lấy ví dụ, chẳng hạn khi hệ thống ngân hàng có nguy cơ lâm vào khủng hoảng, người gửi tiền sẽ ồ
ạt rút tiền ra khỏi hệ thống ngân hàng Chính phủ có thể giải cứu bằng cách đưa ra các biện pháp bảo lãnh toàn bộ (blanket gurantee) để ngăn chặn việc rút tiền hoặc phát hành trái phiếu tái cấp vốn (recapitalization bond) Tuy nhiên người gửi tiền sẽ không tin một chính phủ vỡ nợ đủ uy tín để tiến hành các chính sách bảo lãnh đó tới cùng hay nhà đầu tư cũng sẽ không tin ở giá trị những trái phiếu mới do một chính phủ vỡ nợ phát hành Thành thử các biện pháp giải cứu sẽ không phát huy được hiệu lực
Trang 30nợ đều có thể kéo theo sau nó là một cuộc Khủng hoảng ngân hàng”32
Ảnh hưởng xấu đến hệ thống doanh nghiệp
Theo Sandleris (2006), vỡ nợ thường làm giảm mong muốn đầu tư và tăng thắt chặt tín dụng ở thị trường tín dụng nội địa, khiến các doanh nghiệp khó tiếp cận với nguồn vốn trong nước hơn Arteta và Hale (2006) thì dẫn chứng rằng Khủng hoảng
nợ quốc gia thường song hành với sự sụt giảm mạnh của tín dụng quốc tế dành cho các doanh nghiệp trong nước33 Agca và Celsun (2009) chỉ ra khi nợ công, nợ nước ngoài gia tăng, nhất là khi có Khủng hoảng nợ thì chi phí các khoản vay của hệ thống doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên Nhìn chung hầu hết các học giả, khi nghiên cứu về những tác động của hiện tượng vỡ nợ, đều chứng minh được rằng sự khó khăn trong việc tiếp cận với thị trường tín dụng sau khủng hoảng là nguyên nhân chính tạo khó khăn cho các doanh nghiệp trong nước Đấy là chưa kể đến các hậu quả từ hiện tượng “mất cân xứng tiền tệ” ở các doanh nghiệp nếu cuộc khủng hoảng gây ra sự phá giá đồng tiền34; hay với các doanh nghiệp nước ngoài đặt tại quốc gia
vỡ nợ thì sẽ phải chịu rủi ro bị chưng thu hay quốc hữu hóa tài sản trong tương lai35 Một số hậu quả khác
Ngoài những hậu quả chính và trực tiếp gây ra cho nền kinh tế đã đề cập ở trên, Khủng hoảng nợ còn gây ra các hậu quả gián tiếp khác như giảm tăng trưởng GDP, gia tăng thất nghiệp, bất ổn chính trị, rối loạn xã hội,… Chẳng hạn, do kỳ vọng chính phủ sẽ tăng thuế hoặc quốc hữu hóa các doanh nghiệp vốn nước ngoài khi vỡ
32 Genaioli et al (2011); Brutti (2011); Basu (2009) ; Borensztein và Panizza (2009) ; Acharya et al (2011)
33 Mendoza và Yue (2011) giải thích hiện tượng cắt giảm tín dụng của các nhà đầu tư nước ngoài dành cho khu vực tư là do họ lo sợ tình trạng kiểm soát vốn và tỉ giá của chính phủ sau khủng hoảng
34 Sự mất cân xứng tiền tê ở đây là do doanh thu của các doanh nghiệp trong nước thường dưới dạng đồng bản tệ, trong khi các khoản vay nước ngoài và vay dành cho xuất-nhập khẩu lại là các khoản vay ngoại tệ
35 Theo Reinhart và Goroff (2010), những công ty nước ngoài tiến hành đầu tư FDI với các quốc gia vỡ nợ thường sẽ rất lo ngại về việc tài sản, cơ sở vật chất của họ sẽ bị chưng thu trong tương lai Đây là một rủi ro rất phổ biến trong suốt những thập niên 60 và 70, với ví dụ điển hình là Chilê đã chưng thu các mỏ đồng của mình từ các công ty khai khoáng của Mỹ năm 1977 và quốc hữu hóa tất cả các doanh nghiệp dầu mỏ do nước ngoài nắm giữ trong suốt thập kỷ 70
Trang 31nợ, dòng FDI đổ vào quốc gia đó thường sẽ giảm rõ rệt sau khủng hoảng36 Hay do
sự yếu kém của hệ thống ngân hàng, việc tiếp cận nguồn vốn vay thường khó khăn hơn hoặc với chi phí cao hơn sau khủng hoảng, điều này đến lượt nó buộc các doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô, dẫn tới gia tăng thất nghiệp Borrensztein và Pannizza (2008) thì lý luận rằng, sự suy giảm chất lượng tín dụng (credit quality) ở các doanh nghiệp xuất khẩu là nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp này khó tiếp cận với các dịch vụ tín dụng thương mại hơn sau khủng hoảng, điều này ít nhiều ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu của quốc gia
1.2 Xây dựng mô hình cảnh báo sớm cho nền kinh tế Việt Nam
1.2.1 Một số mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ
Mô hình Panel Logit
Giả sử chúng ta có 1 mẫu gồm quốc gia, = 1, 2, … , Mỗi quốc gia được quan sát tại điểm thời gian, = 1, 2, … , Gọi ∗, là biến đại diện cho khả năng xảy ra Khủng hoảng nợ của quốc gia tại thời điểm Giả sử rằng ∗,
là hàm tuyến tính với một ma trận gồm biến giải thích , , một hằng số và một sai số ngẫu nhiên , Chúng ta biểu diễn:
Trang 32, = 0 với trường hợp còn lại Khi đó, xác suất xảy ra Khủng hoảng nợ sẽ được tính theo công thức:
=∏ ∏ [1 + exp( +∏ ∏ exp [( + , ) , ]
, )]
Các giá trị của ′, ′ tại điểm cực đại của hàm sẽ là các giá trị ước lượng cần tìm
Mô hình Signal Approach
Giả sử chúng ta có biến vĩ mô , của một quốc gia được quan sát tại điểm thời gian ( ∈ {1, 2, … , }; ∈ {1, 2, … , }) Lựa chọn ℎ ∈ là khoảng thời gian mà mỗi biến vĩ mô được trông đợi sẽ thể hiện khả năng dự báo khủng hoảng (khoảng thời gian cửa sổ) Ký hiệu là biến chỉ báo khủng hoảng, với quy ước:
= 1 0 ℎ [ , + ℎ]
Từ mỗi biến vĩ mô , chúng ta xác định được ngưỡng khả thi Nếu một biến
vĩ mô vượt quá ngưỡng khả thi tại một thời điểm nào đó thì chúng ta nói nó đã phát ra một tín hiệu cảnh báo khủng hoảng Ký hiệu , là biến tín hiệu với quy ước:
, = 0 ℎ1 , ≥
Trang 33Với mỗi biến vĩ mô , ta đếm các quan sát , và rồi thống kê vào bảng sau:
ở đó:
là số điểm thời gian mà = 1 và , = 1
là số điểm thời gian mà = 0 và , = 1
là số điểm thời gian mà = 1 và , = 0
là số điểm thời gian mà = 0 và , = 0
Từ các thống kê quan sát được, chúng ta xây dựng tham số tín hiệu nhiễu cho mỗi biến vĩ mô bằng cách lấy tỉ số:
= ++
= ( + )( + )
Như vậy chỉ số hỗn hợp (composite indicator) đại diện cho khả năng xảy ra Khủng hoảng nợ tại thời điểm sẽ được xác định theo công thức:
= (1 , ) Việc chuyển đổi giá trị của thành xác suất xảy ra Khủng hoảng nợ được thực hiện dựa trên phép chuyển đổi:
Trang 34Xét một mẫu gồm các quan sát về trạng thái Khủng hoảng nợ hoặc Không Khủng hoảng nợ của quốc gia tại điểm thời gian Giả sử chúng có biến
vĩ mô , ∈ {1, 2, … , } sẽ được sử dụng trong việc phán đoán Khủng hoảng nợ
và với mỗi biến chúng ta xác định được một ngưỡng khả thi Với mỗi biến, chúng ta sẽ phân tích một mẫu thành 2 mẫu con bằng cách trả lời “Yes” hoặc “No” cho câu hỏi “Liệu có xảy ra > hay không” Một mẫu sẽ chứa tất cả các quan sát cho câu trả lời “Yes” và một mẫu sẽ chứa tất cả các quan sát cho câu trả lời “No” Với mỗi mẫu con thu được ở trên, việc đặt câu hỏi “Yes-No” lại được tiếp tục với các biến khác Cứ như vậy, từ mẫu quan sát ban đầu, việc trả lời một loạt các câu hỏi “Yes-No” sẽ cho chúng ta một sơn đồ phân nhánh, mà mỗi nhánh sẽ tỏa ra hai nhánh khác thông qua câu trả lời “Yes-No” Để dễ hình dung, ta lấy ví dụ một nhánh đơn giản như sau:
Việc lựa chọn các , hoặc quyết định khi nào ngưng quá trình phân nhánh không thể dựa vào ý muốn chủ quan của người sử dụng mô hình, mà phải dựa trên các tiêu chuẩn tối ưu37 Toàn bộ kết quả thực nghiệm của quá trình phân nhánh sẽ
37 Các tiêu chuẩn tối ưu này cũng rất đa dạng, có thể dựa trên tiêu chuẩn đề xuất của Roubini (2009); Savona
và Vezzoli (2012) hoặc Hastie et al (2009)
Trang 35được sử dụng cho việc dự đoán xác suất xảy ra Khủng hoảng trong tương lai Chẳng hạn nếu một quốc gia X nằm trong mẫu quan sát, vào năm 2013 có tổng nợ nước ngoài là 67%, lạm phát 20% thì theo sơ đồ phân nhánh ở trên, xác suất để quốc gia này lâm vào Khủng hoảng nợ sẽ là 66.8%
Một vài mô hình khác
Nếu đánh giá dựa trên hiệu quả dự báo, mức độ được sử dụng rộng rãi và tính đơn giản thì ba mô hình kể trên là được coi là tốt nhất hiện nay dành cho các dự báo khủng hoảng nói chung38 Có một số mô hình khác cũng có thể được sử dụng để dự báo sớm Khủng hoảng nợ như Discriminant Analysis; Artificial Neural Network; Markov-switching approach; K-clustering approach;….Tuy nhiên, những mô hình này thường mắc các nhược điểm như tính toán phức tạp, ít được sử dụng, ít được kiểm chứng thực nghiệm hay ít được được đánh giá khách quan về hiệu quả dự báo Chính vì những lý do như vậy, chúng tôi sẽ không đề cập sâu đến các mô hình đó trong bài nghiên cứu lần này
1.2.2 Lựa chọn mô hình thích hợp cho nền kinh tế Việt Nam
Như vậy việc lựa chọn mô hình thích hợp cho Việt Nam sẽ được nhóm nghiên cứu cân nhắc trên cơ sở xem xét 3 mô hình: Logit, Classiffication and Regression Tree (viết tắt là CART) và Signal Approach Nhóm nghiên cứu quyết định chọn mô hình Signal Approach cho bài nghiên cứu lần này vì hai lý do cơ bản sau:
-Việc quản lý vĩ mô theo “ngưỡng an toàn” mấy năm gần đây đang dần trở nên phổ biến và là một công cụ hữu hiệu để các nhà hoạch định chính sách có thể điều hành nền kinh tế một cách hiệu quả và dễ dàng hơn Quản lý theo “ngưỡng an toàn” có nghĩa là, mỗi biến vĩ mô sẽ được khuyến cáo một ngưỡng, khi biến vĩ mô vượt qua ngưỡng đó thì đồng nghĩa với việc bất ổn Nhà hoạch định chính sách cần đưa ra ngay các phương án giải quyết để điều chỉnh biến vĩ mô quay lại dưới ngưỡng an toàn, tránh tình trạng bất ổn kéo dài có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế Các ngưỡng
Trang 36an toàn tiêu biểu có thể kể đến như: Ngưỡng nợ khuyến nghị 25% GDP đối với các nền kinh tế mới nổi (của IMF)39; Bộ ngưỡng an toàn của Roubini40; Ngưỡng nợ 90% GDP của Reinhart41; Bộ ngưỡng an toàn bền vững nợ công (của IMF)42; … Gần đây nhất là Bảng điểm bất ổn vĩ mô (Scoreboard of Macroeconomic Imbalances) được đưa ra bởi EC (đưa ra tháng 2 năm 2012), bảng này gồm một tập hợp các chỉ báo vĩ mô và các ngưỡng an toàn cho tất cả các quốc gia thuộc EC Khi một chỉ báo
vĩ mô của một quốc gia vượt qua ngưỡng, quốc gia đó sẽ bị buộc phải thực thi các chính sách vĩ mô phù hợp để đưa chỉ báo đó trở lại dưới ngưỡng an toàn43 Hoạt động của mô hình Signal Approach cũng dựa trên các ngưỡng an toàn tương tự như vậy, do đó mô hình này không những có thể cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách một con số xác suất xảy ra khủng hoảng, mà nó còn cho biết chỉ báo vĩ mô nào đang trở nên bất ổn và cần phải được điều chỉnh Thế nên việc sử dụng Signal Approach là phù hợp với xu thế chung hiện nay
-Việc xử lý số liệu của mô hình Signal Approach là đơn giản hơn so với 2 mô hình còn lại vì các thao tác tính toán không phức tạp và hoàn toàn có thể thực hiện được chỉ trên phần mềm Excel Mô hình CART cần có số lần thao tác lớn hơn nhiều; theo tính toán của Roubini44, với một mẫu gồm 14 biến vĩ mô của 43 quốc gia kéo dài trong suốt 20 năm, thì chỉ để có được một phân nhánh đầu tiên, chúng ta đã phải cần tới ít nhất là 14 x 43 x 30=18060 lần thực nghiệm để chọn ra được cách phân nhánh tốt nhất Cứ như vậy, để chọn được phân nhánh thứ 2, số lần thực nghiệm tiếp tục cũng sẽ không dưới 15000 Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng, sự phức tạp
39 International Monetary Fund, “Fiscal policy as a countercyclical tool”, năm 2008
40 “A survey of experiences with emerging market sovereign debt restructurings”, International Monetary Fund, năm 2012
41 Reinhart và Rogoff (2010) Theo các ông, tăng trưởng GDP và mức nợ có mối tương quan nghịch rõ rệt khi nợ vượt qua ngưỡng trên
42 “Revisiting the debt sustainability framework for low-income countries”, International Monetary Fund, năm 2012
43 Tobias Knedlik, “The European Commission’s Scoreboard of Macroeconomic Imbalances-The impact of preferences on an early warning system”, Halle Institute for Economic Research, năm 2012
44 Manasse và Roubini (2009)
Trang 37trong tính toán của mô hình Logit, hay thậm chí là CART, hoàn toàn có thể được khắc phục bằng việc sử dụng các phần mềm kinh tế lượng chuyên dụng (chẳng hạn như STATA hay SPSS); tuy nhiên, thực tiễn của cuộc Khủng hoảng nợ công châu
Âu năm 2010 đã chứng minh “các mô hình dự báo có kỹ thuật phức tạp không đồng nghĩa với hiệu quả45”.Vì thế, nhóm nghiên cứu sẽ thiên về những mô hình có các tính toán đơn giản mà mà vẫn có thể đưa ra các dự báo đáng tin cậy như mô hình Signal Approach46
45 Việc dùng các mô hình CART và Logit để dự báo Khủng hoảng nợ đã có từ lâu, trước cả khi cuộc Khủng hoảng hoảng nợ công châu Âu nổ ra năm 2010 Tuy nhiên, đã không có mô hình nào cảnh báo sớm được cuộc khủng hoảng này Trong nỗ lực tìm ra các kiểu mô hình mới đơn giản và hiệu quả hơn, việc áp dụng Signal Approach trong cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ đã bắt đầu được các học giả quan tâm và tiến hành những tháng cuối năm 2011
46 Quá trình thực nghiệm Signal Approach trên mẫu của Knedlik và Schweinitz (2011) cho QPS lên tới 0.0239 và dự báo chính xác 73.45% các trường hợp
Trang 38CHƯƠNG II: ÁP DỤNG MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG
HOẢNG NỢ VÀO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 2.1 Lựa chọn các thông số cho mô hình
2.1.1 Lựa chọn mẫu
Chúng ta có 2 phương án để lựa chọn mẫu cho mô hình: lựa chọn mẫu là các chỉ báo kinh tế của nền kinh tế Việt Nam hoặc lựa chọn mẫu là các chỉ báo kinh tế của một nhóm gồm nhiều quốc gia trên thế giới Nhóm nghiên cứu không tán thành cách chọn mẫu nhứ nhất vì hai lý do:
-Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam chỉ mới mở cửa cách đây khoảng hơn 2 thập kỷ
Số liệu về các chỉ báo kinh tế còn rất hạn chế và chưa có hệ thống Do vậy mẫu thu được nhỏ và độ tin cậy của mô hình sẽ thấp
-Thứ hai, việc tính toán độ nhiễu và ngưỡng khả thi của mô hình đòi hỏi quốc gia được khảo sát phải trải qua Khủng hoảng nợ trong quá khứ Tuy nhiên, Việt Nam chưa từng trải qua một cuộc Khủng hoảng nợ nào kể từ năm 1975 đến nay47 Điều này làm cho việc tính toán các thông số của mô hình trở nên bất khả thi
Như vậy nhóm nghiên cứu quyết định lựa chọn mẫu là các chỉ báo kinh tế của một nhóm gồm nhiều quốc gia trên thế giới Các quốc gia được nhóm nghiên cứu lựa chọn đều dựa trên sự tổng hợp từ nhiều nguồn và nhiều công trình nghiên cứu đi trước, nhưng để đảm bảo tính nhất quán về định nghĩa Khủng hoảng nợ, nhóm nghiên cứu lấy số liệu khủng hoảng chủ yếu từ nguồn của Reinhart và Goroff48 Khoảng thời gian được lựa chọn khảo sát là từ năm 1980-2010 để đảm bảo tính cập
47 Chưa từng xảy ra theo quan điểm của IMF Trường hợp vỡ nợ năm 1975 chúng tôi loại bỏ vì đây là sự vỡ
nợ của Chính quyền Việt Nam cộng hòa khi chính phủ sụp đổ (Reinhart 2009) Ngoài ra nếu theo quan điểm của các học giả khác thì số cuộc Khủng hoảng nợ này cũng khá ít, chẳng hạn là 2 trường hợp theo quan điểm của Trebesch (2012), là 1 theo quan điểm của Sturzeneger và Zettelmeyer (2007) hoặc Detragiache và Spilimbergo (2001)
48 Số liệu được lấy chủ yếu tại công trình “This time is different chartbook: country histories of debt, default, and financial cirises” của Reinhart (2010) hoặc trang web chính thức của Reinhart và Goroff (http://www.reinhartandrogoff.com/)
Trang 39nhật của số liệu và hạn chế tối đa tình trạng thiếu số liệu49 Khoảng thời gian cửa sổ
ℎ của mô hình được nhóm lựa chọn là 2 năm dựa việc tham khảo nhiều khuyến nghị của các học giả50 Sau đây là bảng danh sách các quốc gia được lựa chọn khảo sát, tương ứng với thời điểm quốc gia đó bị lâm vào Khủng hoảng nợ:
Bảng 3: Lịch sử Khủng hoảng nợ của các quốc gia được khảo sát
Danh sách các quốc gia được khảo sát STT Tên quốc gia Thời điểm xảy ra
Khủng hoảng nợ STT Tên quốc gia
Thời điểm xảy ra Khủng hoảng nợ
3 Argentina
1982-1993, 2001-2005, 2007-2009
49 Một số công trình gần đây có sử dụng cả số liệu trước năm 1980 như Roubini (2009) sử dụng số liệu từ 1970-2002 hay Sanova và Vezzoli (2012) sử dụng số liệu từ 1975-2002 Tuy nhiên các công trình này đều gặp khó khăn về vấn đề số liệu không đầy đủ hoặc nguồn số liệu không nhất quán Thêm nữa việc chọn năm kết thúc là 2002 khiến mô hình thiếu đi tính cập nhật
50 Trong đó có thể kể đến Kaminsky et al (2000), Reinhart (2002) hay Knedlik và Schweinitz (2012)
Trang 4018 Ấn Độ 1989-1990 40 Venezuela
1983-1988, 1990, 1995-1998, 2004-2005
2.1.2 Lựa chọn ngưỡng khả thi
Chúng ta có 3 phương án để lựa chọn ngưỡng khả thi cho mô hình: chọn ngưỡng khả thi theo quan điểm của Kaminsky và Reinhart (1999); chọn ngưỡng khả thi theo quan điểm của Alessi và Detken (2011) hoặc dựa trên các ngưỡng khả thi đã được tính toán từ các công trình đi trước
Chọn ngưỡng khả thi theo quan điểm của Kaminsky và Reinhart
Như đã đề cập ở chương I, với mỗi ngưỡng khả thi được chọn cho biến vĩ
mô , các quan sát của , và sẽ được thống kê thành bảng Khi đó tỉ lệ mắc sai lầm loại 1 và sai lầm loại 2 của biến vĩ mô sẽ tương ứng là và Theo Kaminsky, một ngưỡng khả thi lý tưởng là một ngưỡng mà làm cho biến vĩ
mô mắc ít sai lầm loại 1 và loại 2 nhất Dựa vào điều kiện lý tưởng này, ông đề xuất chọn các ngưỡng khả thi là ngưỡng mà làm tối thiểu hóa tỉ số tín hiệu nhiễu
51(Noise-to Signal):
=1 − = ( + )( + )Biến vĩ mô chỉ được chấp nhận nếu < 1 để hạn chế các sai lầm loại 1