Nghiên cứu thực trạng và định hướng giảng dạy thơ trữ tình lớp 12 chương trình chuẩn, trung học phổ thông theo đặc trưng thể loại: vị trí của trữ tình lớp 12 chương trình
Trang 1Giảng dạy thơ trữ tình lớp 12 (chương trình Chuẩn, Trung ho ̣c phổ thông) theo đă ̣c trưng
thể loa ̣i Bùi Thị Thêu
Trường Đại học Giáo dục Luận văn Thạc sĩ ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học ; Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS Đoàn Đức Phương
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Khái quát những kiến thức cơ bản về thể loại Nghiên cứu thực trạng và
định hướng giảng dạy thơ trữ tình lớp 12 (chương trình chuẩn, trung học phổ thông) theo đặc trưng thể loại: vị trí của trữ tình lớp 12 chương trình chuẩn trung học phổ thông (THPT); những thuận lợi khó khăn, thực trạng giảng dạy thơ trữ tình 12 chương trình chuẩn THPT; kết quả khảo sát từ học sinh; định hướng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình cho học sinh lớp 12 chương trình chuẩn THPT theo đặc trưng thể loại Thiết
kế bài dạy thơ trữ tình 12, chương trình chuẩn, THPT theo đặc trưng thể loại Thục
nghiệm sư phạm để kiểm chứng kết quả nghiên cứu
Keywords: Phương pháp giảng dạy; Môn ngữ văn; Lớp 12; Trung học phổ thông;
Thơ trữ tình; Nghiên cứu văn học
Content
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Những đổi thay không ngừng của xã hội theo xu hướng toàn cầu hoá và sự phát triển của
khoa học, kĩ thuật hiện đại là những thách thức lớn cho giáo dục trong việc phát triển nguồn nhân lực có tri thức cao, thông minh và sáng tạo
1.2 Cùng với các môn học khác, môn Ngữ Văn có một vị trí vô cùng quan trọng trong hệ
thống giáo dục Môn Ngữ văn không chỉ giúp cho con người có những hiểu biết phong phú,
đa dạng về thế giới xung quanh mà còn có khả năng lay động con tim, thức tỉnh trí tuệ đem đến những bài học, những xúc cảm thẩm mĩ cao đẹp, sâu lắng để từ đó mỗi người có cách ứng
xử nhân văn trong cuộc sống Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giảng dạy, nâng cao khả năng tiếp nhận, cảm thụ tác phẩm văn học cho học sinh luôn được người làm công tác dạy Ngữ Văn quan tâm
1.3 Trong chương trình môn Ngữ Văn THPT, thơ trữ tình chiếm mô ̣t vi ̣ trí hết sức quan trọng, làm nên diện mạo của nền văn học dân tộc Đó là mảng văn học phong phú về thể loại,
Trang 2đa dạng về đề tài và luôn mới mẻ về nội dung, nghệ thuật Tuy nhiên, việc dạy tác phẩm thơ trữ tình trong nhà trường THPT hiện nay còn đơn điệu, tẻ nhạt, chưa xác định đúng “chất của loại” trong thể và chưa tạo được hứng thú cho học sinh Vì thế các tác phẩm văn học thực sự
có giá trị chưa có được chỗ đứng xứng đáng trong lòng những người yêu văn chương
Với những trăn trở về hiệu quả tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình của học sinh THPT cùng với mong muốn tha thiết khám phá cái hay, cái đẹp của mỗi tác phẩm, tôi tiến hành viết luâ ̣n văn này
2 Lịch sử vấn đề
Về đă ̣c trưng thể loa ̣i của thơ trữ tình, đã có những nghiên cứu như :
- Nguyễn Văn Long: Phân tích tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại (
NXB Giáo Dục, 2009)
- Phan Huy Dũng: Kết cấu thơ trữ tình ( NXB Hà Nô ̣i,1999)
- Nguyễn Đăng Điệp: Giọng điệu trong thơ trữ tình (qua một số nhà thơ tiêu biểu của phong
trào thơ Mới), ( NXB Văn học, 2002)
- Mã Giang Lân: Tìm hiểu thơ ( NXB Văn hoá Thông tin, 2000)
- Hà Minh Đức: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (NXB Giáo Dục, 1997)
Trên cơ sở học hỏi và tiếp thu thành tựu của người đi trước , tôi muốn tìm hiểu và đề
xuất vấn đề cu ̣ thể hơn đó là “Giảng dạy thơ trữ tình 12 (chương trình Chuẩn, Trung học
phổ thông) theo đặc trưng thể loại”
3 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý luận về tiếp nhận và cảm thụ tác phẩm văn chương , về đặc trưng thi pháp thể loại thơ trữ tình , đề xuất các phương pháp cụ thể của việc dạy thơ trữ tình lớp 12 theo đặc trưng thể loại nhằm nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn ho ̣c , góp phần khẳng định ưu điểm và tính khả thi của hướng dạy tác phẩm theo đặc trưng thể loại
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Giảng dạy thơ trữ tình cho học sinh lớp 12, chương trình Chuẩn , THPT
4.2 Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 12, GV dạy Ngữ Văn 12, chương trình Chuẩn ở mô ̣t
số trường THPT trên đi ̣a bàn tỉnh Nam Đi ̣nh
5 Phạm vi nghiên cứu
- Đặc trưng thi pháp thể loại và cách tổ chức hoạt động dạy học một số tác phẩm thơ trữ tình
cụ thể có trong chương trình Ngữ Văn 12, chương trình Chuẩn, THPT theo đặc trưng thể loại
- Tại trường THPT Thịnh Long, huyện Hải Hậu và một số trường THPT thuộc địa bàn tỉnh Nam Định
Trang 36 Giả thuyết nghiên cứu
Trong bối cảnh giáo viên Ngữ Văn đang có nhiều lú ng túng khi thực hiê ̣n đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c, viê ̣c xác đi ̣nh tính khả thi và vâ ̣n du ̣ng mô ̣t cách linh hoa ̣t phương pháp dạy học này sẽ góp phần đa dạng hóa phương pháp dạy học Ngữ Văn , giúp GV khai thác sâu tác phẩm văn chương, tạo hứng thú và tích cực hóa hoạt động của học sinh
7 Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu
- Khái quát những kiến thức về thể loại
- Khảo nghiệm dạy học thơ trữ tình lớp 12, chương trình Chuẩn ở mô ̣t số trường THPT trên
đi ̣a bàn tỉnh Nam Đi ̣nh
- Xác định phương hướng dạy học hợp lí và hiệu quả cho việc dạy học thơ trữ tình 12, chương trình Chuẩn, THPT theo đă ̣c trưng thể loa ̣i
- Thiết kế bài da ̣y thơ trữ tình 12, chương trình Chuẩn , THPT theo đă ̣c tr ưng thể loa ̣i Thực nghiê ̣m sư pha ̣m để kiểm chứng kết quả nghiên cứu
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tham khảo các tài liệu, giáo trình có nội dung liên quan
- Phương pháp khảo sát, thực nghiệm, thống kê, phân tích
- Phương pháp nghiên cứu theo quan điểm liên ngành: Vận dụng kiến thức về Văn học Việt Nam, Lí luận dạy học hiện đại vào giải quyết đề tài
- Phương pháp quy nạp, tổng hợp, khái quát
9 Đóng góp của luận văn
Luận văn đã chỉ ra thực trạng của việc học tập và giảng dạy và học tập văn bản thơ trữ tình trong nhà trường THPT, từ đó tìm ra những phương pháp, biện pháp thích hợp, cụ thể để dạy học một số tác phẩm thơ trữ tình lớp 12, chương trình chuẩn, THPT theo đặc trưng thể loại, giúp giáo viên và học sinh có thêm những gợi mở cần thiết khi dạy học những tác phẩm
này
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận , Khuyến nghi ̣, Tài liệu tham khảo và Phụ lục ,
nô ̣i dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
- Chương 2: Thực tiễn giảng dạy văn bản thơ trữ tình ở trường THPT
- Chương 3: Đổi mới phương pháp dạy học văn bản thơ trữ tình lớp 12, chương trình Chuẩn, THPT theo đặc trưng thể loại
CHƯƠNG 1
Trang 4CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Thể loại và dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
1.1.1 Thể loại văn học
Thể loại văn học là phương thức tái hiện đời sống và thể thức cấu tạo văn bản Tên gọi thể loại của tác phẩm cho ta biết: phạm vi và phương thức tiếp xúc, tái hiện đời sống; hệ thống các phương tiện, phương pháp thể hiện tương ứng
Mỗi loại tác phẩm văn học lại có một phương thức kết cấu hình tượng văn học để phản ánh cuộc sống và biểu hiện tư tưởng của nhà văn Nếu hình tượng thiên nhiều về phản ánh cuộc sống, với con người, sự việc, sự vật trong tính khách quan ta sẽ có những tác phẩm tự
sự, nếu hình tượng thiên nhiều về biểu hiện tư tưởng, tình cảm… của con người, hiện thực trực tiếp biểu hiện ý nghĩ chủ quan của tác giả ta sẽ có tác phẩm trữ tình Khi tác phẩm tự sự tập trung, cô đọng đến mức bản thân các sự vật, sự việc có thể tự bộc lộ độc lập trên sân khấu hoặc trong trang sách… ta có tác phẩm kịch
1.1.2 Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
Vấn đề dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại đã được các nhà lí luận nghiên cứu phương pháp quan tâm như Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng, PGS Nguyễn Thị Thanh Hương, PGS Nguyễn Viết Chữ…
Đặc trưng thể loại của tác phẩm là điều kiện đầu tiên quyết định hiệu quả của quá trình tiếp nhận của HS Khi định hướng dạy học tác phẩm văn chương phải xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm, đối tượng tiếp nhận để tổ chức học sinh cảm thụ tác phẩm, từ đó tìm ra khả năng tác động đặc biệt của tác phẩm đó đối với HS trong lớp
1.2 Những vấn đề chung về thơ trữ tình
1.2.1 Khái niệm về thơ trữ tình
Thơ trữ tình là thuật ngữ chỉ chung cho các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hoá của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hoá của
sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình
có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học
1.2.2 Vài nét về thơ trữ tình hiện đại hiện đại Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám
1945 đến hết thế kỉ XX
1.2.2.1 Cách mạng tháng Tám thành công đã khai sinh nền văn học mới Thơ trữ tình không
chỉ là cái tôi khép kín riêng lẻ mà còn là cái tôi hoá thân vào cộng đồng, thống nhất cái riêng với cái chung, cái tôi nhà thơ hoà với cái tôi quần chúng công nông…
Trang 51.2.2.2 Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, cái tôi trữ tình trong thơ thời kì này
cũng trở nên đa dạng hơn với sự xuất hiện trở lại của cái tôi cá thể, cái tôi riêng tư trong quan
hệ thống nhất với cái chung và xuất hiện cái tôi trữ tình sử thi
1.2.2.3 Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đã đưa nền thơ sang một giai đoạn mới Thơ
trữ tình sáng tạo hình tượng cao đẹp về Tổ quốc, nhân dân, kết tinh được những phẩm chất dân tộc và tinh thần thời đại Cùng với việc tăng cường tính chính luận, thơ trữ tình chú trọng
mở rộng chất liệu từ hiện thực đời sống và thúc đẩy tự do hoá hình thức thơ
1.2.2.4 Năm 1975 là mốc son lịch sử chói lọi đánh dấu thời kì mới: thời kì độc lập , thống
nhất của dân tộc , thơ trữ tình chuyển hướng rõ rệt sang cảm hứng đời tư và thế sự với những khám phá hiện thực đời sống trên nhiều phương diện, nhất là đời sống nội tâm của con người như khát vọng tự khám phá và biểu hiện con người cá nhân
Về hình thức, xu hướng tự do hoá được thể hiện ngày càng sâu sắc cùng với nhiều khám phá, cách tân mạnh bạo trên mọi phương diện
1.2.3 Đặc trưng của thơ trữ tình
1.2.3.1 Tứ thơ
Có nhiều cách quan niệm về tứ thơ nhưng tựu chung có thể hiểu một cách ngắn gọn:
Tứ thơ như một ý chính, ý lớn bao quát toàn bài thơ nhưng không phải là một ý tưởng hoàn toàn trừu tượng mà nó là những gì rất cụ thể của đời sống (một hiện tượng, một hình ảnh, một suy nghĩ…) được lựa chọn làm điểm tựa cho sự vận động của cảm xúc Còn cấu tứ là cách tổ chức tứ thơ, tạo mạch vận động và những tương quan của tư tưởng, cảm xúc, hình tượng trong bài thơ
Nhìn chung, mỗi bài thơ đều được xây dựng trên một tứ thơ Có những tứ thơ được xác lập công phu , có tứ thơ giản dị Trong sáng tạo nghệ thuật, có được một tứ hay là điều đặc biệt quan trọng Tứ chỉ đạo trực tiếp hướng vận động và phát triển của cảm xúc, suy nghĩ và xây dựng hình ảnh Một tứ thơ hay phải là tứ thơ tạo được sự mới lạ, độc đáo
1.2.3.2 Nhân vật trữ tình, cái tôi trữ tình, hình ảnh thơ, hình tượng thơ
Cái tôi trữ tình là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới và con người thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới riêng biệt độc đáo, mang tính thẩm mĩ nhằm truyền đạt năng lượng tinh thần ấy đến cho người đọc
Cái tôi trữ tình bộc lộ dưới nhiều dạng thức: Trực tiếp viết về chính bản thân mình và trong những quan hệ riêng tư - cái tôi của tác giả Trường hợp thứ hai là cảnh ngộ, sự việc trong thơ không phải là cảnh ngộ riêng của tác giả Nhà thơ nói lên cảm nghĩ về những sự việc mà mình có dịp trải qua hoặc chứng kiến như một kỉ niệm, một quan sát Trường hợp thứ
Trang 6ba là những bài thơ trữ tình viết về một loại nhân vật nào Tuy nhiên, cần phải lưu ý khi tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ là không nên đồng nhất cái tôi trữ tình với chủ thể nhà thơ trong mọi trường hợp
Nhân vật trữ tình là người trực tiếp thổ lộ những suy nghĩ và cảm xúc trong bài thơ Nhân vật trữ tình không có diện mạo, tiểu sử, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể nhưng được thể hiện qua giọng điệu, cảm xúc, cách cảm, cách nghĩ Nhân vật trữ tình có khi biểu hiện trực tiếp cái tôi thứ hai của tác giả, nhưng nhiều khi chỉ là cái tôi nhập vai trữ tình Cần phân biệt nhân vật trữ tình với nhân vật trong thơ trữ tình
Hình ảnh thơ là hình ảnh thực nảy lên trong tâm hồn khi ta sống trong một cảnh huống hoă ̣c trạng thái nào đấy Tùy trường hợp mà hình ảnh thơ được gợi lên từ một từ , mô ̣t cu ̣m từ,
mô ̣t câu thơ hay mô ̣t khổ , mô ̣t đoa ̣n thơ Hình ảnh thơ thường gắn với các phương thức tu từ được nhà thơ sử du ̣ng như điê ̣p ngữ, đảo ngữ, ví von, hoán dụ, ẩn dụ, nhân hóa, tượng trưng…
Tình cảm trong thơ là nhân tố trực tiếp xây dựng hình tượng thơ Do đó, hình tượng thơ vận động dưới nhiều dạng thức phong phú, có khi vận động một cách tuần tự bình thường,
có khi vận động một cách đột biến, có khi vận động theo dạng thức quy nạp, có khi vận động theo dạng thức diễn dịch, vận động đối xứng, song song, nhất tuyến, đa tuyến
1.2.3.3 Ngôn ngữ trong thơ trữ tình
Ngôn ngữ thơ tuy cũng bắt nguồn từ ngôn ngữ trong đời sống, nhưng được tổ chức
đặc biệt Vì thế, thơ có thể nói được những điều hết sức lắng đọng, kết tinh mà nhiều khi văn
xuôi không nói được
Ngôn ngữ thơ thường có nhiều từ ngữ cảm thán, hô gọi, những câu hỏi tu từ và sử dụng phổ biến các phương thức chuyển nghĩa như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng Phân tích ngôn ngữ thơ phải chỉ ra các biện pháp tu từ ấy và làm rõ giá trị về phương diện tạo hình và biểu hiện của mỗi thủ pháp
Nhạc tính là đặc điểm rất quan trọng của ngôn ngữ thơ, nhạc tính của đoạn thơ, bài thơ là sự tổng hợp của nhiều yếu tố, từ thanh điệu cao, thấp, độ âm vang của các chữ, đến vần, cách ngắt nhịp và cả nhịp điệu của hình ảnh, cảm xúc, các yếu tố ấy phối hợp, tổng hợp, tổng hoà theo những cách khác nhau
1.2.3.4 Kết cấu thơ trữ tình
Có nhi ều cách kết cấu bài thơ , nhưng về cơ bản kết cấu của tác phẩm thơ trữ tình chính là mạch diễn biến của tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình Tìm hiểu nội dung trữ tình của bài thơ nhất thiết phải tìm ra được mạch diễn biến, triển khai của tâm trạng, cảm xúc, suy tư của chủ thể trữ tình Kết cấu là toàn bộ tổ chức phức tạp của bài thơ, bao gồm mọi yếu
tố và tầng bậc của tác phẩm để bài thơ trở thành một chỉnh thể thống nhất và sinh động Kết
Trang 7cấu chi phối việc tổ chức mọi yếu tố (ngôn từ, chất liệu, hình ảnh, hình tượng, giọng điệu, cảm xúc, ý tưởng) nhưng yếu tố cơ bản quy định nên kết cấu của một bài thơ chính là mạch diễn biến của cảm xúc và ý tưởng Nó làm nên cốt lõi của bài thơ và chi phối sự tổ chức mọi yếu tố khác, giống như xương sống của một cơ thể Tư tưởng, cảm xúc trong thơ không thể tách rời, mà hoà quyện thống nhất ngay cả khi nhà thơ đưa ra một triết lí thì cũng không tồn tại khách quan, lạnh lùng như một luận lí Nhưng cảm xúc và tư tưởng trong thơ không tồn tại trần trụi và trừu tượng mà phải được hoá thân trong hình ảnh, hình tượng thơ Như vậy, tìm hiểu kết cấu bài thơ cũng chính là tìm ra kết cấu hình tượng của tác phẩm, tức là sự tổ chức và mối quan hệ trong thế giới hình ảnh, hình tượng thơ
1.2.3.5 Tình cảm, cảm xu ́ c trong thơ trữ tình
Thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, là tiếng nói, khúc hát của tâm hồn Vì thế, tình cảm chính là sinh mệnh của thơ Tình cảm trong thơ là tình cảm được ý thức, tình cảm được lắng lọc qua cảm xúc thẩm mĩ Vì vậy, tình cảm trong thơ phải là tình cảm lớn, thấm nhuần tư
tưởng nhân văn
Tình cảm trong thơ trữ tình còn là nhân tố trực tiếp xây dựng hình tượng thơ Tình cảm ở trong thơ không ở trạng thái tĩnh mà luôn luôn có xu hướng vận động Cảm xúc trong thơ không tách rời với tư tưởng Nhưng tư tưởng trong thơ không phải là mô ̣t luâ ̣n lí trừu tượng, nó chỉ được rút ra từ những nghiệm sinh cua chính đời sống tâm hồn nhà thơ , nên luôn là tư tưởng thấm nhuần và hòa tan trong tình cảm, cảm xúc
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIẢNG DẠY THƠ TRỮ TÌNH LỚP 12 (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN, THPT) THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
2.1 Thực trạng giảng dạy thơ trữ tình lớp 12, chương trình Chuẩn, THPT
2.1.1 Vị trí của thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn 12, chương trình Chuẩn, THPT
Trong chương trình Ngữ Văn 12, chương trình Chuẩn , THPT, thơ trữ tình có vị trí đặc biệt quan trọng và chiếm một số lượng lớn so với các thể loại văn học khác và tiêu biểu cho từng giai đoạn văn học, từng trường phái, trào lưu, từng phong cách tác giả, từng khuynh hướng sáng tác…
Thống kê văn bản thơ trữ tình ở bộ SGK Ngữ văn 12, chương trình Chuẩn, ta có thể thấy số lượng văn bản thơ trữ tình tương đối nhiều so với các thể loại khác (Xem bảng thống kê)
2.1.2 Những thuận lợi, khó khăn
2.1.2.1 Thuận lợi
Trang 8Đối với người học: Kiến thức lí luận về thể loại của học sinh còn mơ hồ Việc học tác phẩm thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại sẽ là c hìa khoá để học sinh biết cách khám phá cái hay, cái đẹp của tác phẩm, đồng thời phân biệt được ranh giới giữa đặc trưng của thơ với các thể loại văn học khác
Đối với người dạy: Dạy học tác phẩm thơ trữ tình là con đường quan trọng khai thác tác phẩm ở những thể loại khác nhau Trong thực tế các tác phẩm thường thâm nhập vào nhau, nếu giáo viên biết bám sát vào đặc trưng thể loại sẽ khai thác hết sức mạnh của nó
2.1.2.2 Khó khăn
Về nội dung chương trình: Một số tác phẩm dài chỉ trích dẫn một số đoạn tiêu biểu
Hơn nữa, học sinh cũng rất lúng túng khi tiếp cận với văn bản Đàn ghi ta của Lorca của nhà
thơ Thanh Thảo vì đây là bài thơ tự do được viết theo phong cách tượng trưng, siêu thực Thời gian phân phối cho một số tác phẩm còn ít Thơ trữ tình hiện đại tuy giản dị, gần gũi nhưng lại mang nhiều tầng ý nghĩa
Về phía học sinh: Học sinh thờ ơ và bi ̣ động khi tìm hiểu bài học Văn chương ít có tính năng ứng dụng, tương lai người học ít được bảo đảm, học sinh ngày càng rời xa môn học này Sách tham khảo quá nhiều, làm cho học sinh bỏ rơi sách giáo khoa
Về phía giáo viên: Nhiều giáo viên chỉ đi sâu tìm hiểu nội dung và tư tưởng phản ánh trong bài thơ, chưa chú ý đến hình thức nghệ thuật Hoặc chú ý đến hình thức nghệ thuật nhưng tách rời các hình thức nghệ thuật ra khỏi nội dung
2.1.3 Thực trạng giảng dạy thơ trữ tình 12, chương trình chuẩn ở trường THPT
Để tìm hiểu thực trạng dạy và học thơ trữ tình trong chương trình Ngữ Văn 12, chương trình Chuẩn, THPT, chúng tôi đã sử dụng cách thức chủ yếu là phát phiếu điều tra đến giáo viên và học sinh tại 2 trường:
- Trường THPT A Hải Hậu – Hải Hậu - Nam Định
- Trường THPT Thịnh Long – Hải Hậu – Nam Định
2.1.3.1 Kết quả khảo sát từ giáo viên
Bảng 2.2 Tổng hợp 23 giáo viên 2 trường THPT Thịnh Long và THPT
A Hải Hậu, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Trường THPT Thịnh Long
Trường THPT
A Hải Hậu
1 GV dạy tác phẩm thơ trữ
tình theo đặc trưng thể
Thường xuyên Thỉnh thoảng
35%
50%
30%
60%
Trang 9loại Chưa bao giờ 15% 10%
2 Giáo viên chưa từng biết
đến phương pháp này
3 Nhận xét của giáo viên
khi sử dụng phương pháp
này
Hiệu quả cao Bình thường Không hiệu quả
35%
50%
15%
42%
48%
10%
4 Thời gian dạy theo
phương pháp này
Thường xuyên Thỉnh thoảng Chưa bao giờ
31%
64%
5%
48%
49%
3%
5 Nguyện vọng muốn biết
sâu sắc về phương pháp
này
Muốn biết Không biết
100%
0%
100%
0%
6 GV thích dạy theo
phương pháp này
Thích dạy Bình thường Không thích
30%
55%
15%
42%
48%
10%
Qua quá trình khảo sát, chúng tôi thấy , tồn ta ̣i nhiều quan niê ̣m về cách da ̣y thơ trữ tình Có giờ học giáo viên quá coi trọng hoạt động phân tích văn bản hoặc có giáo viên lại thiên về giảng – bình, truyền thụ kiến thức…mà chưa chú ý tới đặc trưng của thể loại và đă ̣c điểm của đối tượng
2.2.2 Kết quả kha ̉ o sát từ học sinh
Bảng 2.3 Tổng hợp 185 phiếu của 2 trường THPT Thịnh Long và THPT A Hải Hậu
1
Em đã được học những tác phẩm
thơ trữ tình chưa?
Được học Chưa được học
100%
2
Cảm nhận của em khi học những tác
phẩm thơ trữ tình?
Thích Không thích Bình thường
38%
20%
42%
3
Trong những tác phẩm (đoa ̣n trích)
sau đây , em thích tác phẩm (đoa ̣n
trích) thơ trữ tình nào nhất? Vì sao?
Tây Tiến (QD) Việt Bắc (TH) Đất nước ( NKĐ) Sóng (XQ) Đàn ghi ta của
26%
10%
15%
30%
19%
Trang 10Lorca (TT)
4
Em hiểu thế nào là thơ trữ tình? Hiểu
Không hiểu Hiểu mơ hồ
30%
18%
52%
5
Em hãy cho biết những đặc trưng cơ
bản của thơ trữ tình? Trong những
đặc trưng ấy, đặc trưng nào là cơ
bản nhất?
Hiểu Không hiểu Hiểu mơ hồ
10%
17%
73%
Với kết quả khảo sát như trên, chúng tôi nhận thấy việc học tác phẩm thơ trữ tình chưa đem đến cho học sinh niềm hứng thú, nhiều em đón nhận tác phẩm một cách hời hợt, thiếu khoa học, chưa tương xứng với một thể loại văn học giá trị và độc đáo Viê ̣c chuẩn bi ̣ bài ở nhà còn hạn chế nên việc họ c tâ ̣p theo phương pháp này còn gặp nhiều khó khăn
2.2 Định hướng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình cho học sinh lớp 12, chương trình Chuẩn, THPT theo đặc trưng thể loại
2.3.1 Tìm hiểu xuất xứ
Tìm hiểu xuất xứ tức là tìm hiểu rõ tên bài thơ, tập thơ, tên tác giả, năm xuất bản, hoàn cảnh sáng tác của bài thơ…để thấy được cội nguồn của tứ thơ, hiểu thêm bài thơ và ý nghĩa của nó Trong xuất xứ, cái quan trọng nhất là hoàn cảnh sáng tác cụ thể của bài thơ
2.3.1.1 Bài thơ Tây Tiến ra đời khi đoàn quân Tây Tiến sau một thời gian hoạt động ở Lào
trở về Hoà Bình thành lập trung đoàn 52 Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác Rời xa đơn vị cũ chưa được bao lâu Tại Phù Lưu Chanh (Hà Đông cũ ) Quang Dũng
viết bài thơ Nhớ Tây Tiến Khi in lại, tác giả đổi tên là Tây Tiến, in trong tập Mây đầu ô
2.3.1.2 Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu được sáng tác khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc
thắng lợi, hiệp đinh Giơ -ne-vơ về Đông Dương được kí kết Hoà bình lâ ̣p lại , miền Bắc nước
ta được giải phóng và xây dựng cuộc sống mới Một trang sử mới của đất nước được mở ra Tháng 10 năm 1954, Trung ương Đảng và Chính phủ và những người kháng chiến từ chiến khu Việt Bắc trở về thủ đô Nhân sự kiện có tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ
2.3.1.3 Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm được hoàn thành ở chiến
khu Trị - Thiên năm 1971, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam
về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hoà nhịp với cuộc
đấu tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược Đoạn trích Đất nước (Phần đầu chương V của bản
trường ca)