Đổi mới quản lý công tác sinh viên ở Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang tín chỉ Nguyễn Minh Đức Trường Đại học Giáo dục L
Trang 1Đổi mới quản lý công tác sinh viên ở Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi từ đào tạo
niên chế sang tín chỉ Nguyễn Minh Đức Trường Đại học Giáo dục Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Quản lý giáo dục; Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn : PGS.TS Đặng Bá Lãm
Năm bảo vệ: 2008
Abstract Giới thiệu cơ sở lý luận và pháp lý của đổi mới quản lý công tác sinh viên
(CTSV) trong trường đại học ở nước ta và một số nước khác: khái quát về phương thức đào tạo đại học theo học chế tín chỉ và những vấn đề đặt ra đối với CTSV trong quá trình chuyển đổi từ niên chế sang học chế tín chỉ Khái quát về trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội: quá trình hình thành và phát triển, mục tiêu, cơ cấu tổ chức của nhà trường, việc áp dụng, triển khai học chế tín chỉ ở trường Trình bày thực trạng
và những vấn đề đặt ra đối với CTSV ở nhà trường Kiến nghị một số giải pháp đổi mới quản lý CTSV ở trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội: tuyên truyền nhận thức trong cán bộ, sinh viên về đào tạo theo học chế tín chỉ và yêu cầu đổi mới hoạt động CTSV, nhận diện một cách đầy đủ về nội dung, các yêu cầu đổi mới với từng nội dung của hoạt động CTSV, tổ chức chỉ đạo đổi mới hoạt động CTSV của nhà trường, đầu tư về tổ chức, nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật hỗ trợ cho hoạt động CTSV
Keywords Công tác sinh viên; Quản lý giáo dục; Đào tạo tín chỉ; Đại học Kinh tế; Đại
học Quốc gia Hà Nội
Nhằm tăng tính liên thông của hệ thống giáo dục đại học nước ta và hội nhập với giáo dục đại học thế giới, trong những năm gần đây Nhà nước đã đưa ra chủ trương mở
Trang 2rộng áp dụng học chế TC trong hệ thống giáo dục đại học Trong “Quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2001-2010” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt có
nêu: các trường cần “thực hiện quy trình đào tạo linh hoạt, từng bước chuyển việc tổ
chức quy trình đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ.” Trong “Báo cáo về Tình
hình Giáo dục” của Chính phủ trước kỳ họp Quốc hội tháng 10 năm 2004 lại khẳng định
mạnh mẽ hơn: “Chỉ đạo đẩy nhanh việc mở rộng học chế tín chỉ ở các trường đại học,
cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ngay từ năm học 2005-2006, phấn đấu
để đến năm 2010 hầu hết các trường đại học, cao đẳng đều áp dụng hình thức tổ chức đào tạo này”
Trong Luật Giáo dục sửa đổi 2005 đã đề cập: "Về chương trình giáo dục: Đối với
giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học có thể được tiến hành theo hình thức tích luỹ tín chỉ hay theo niên chế"
Trong Nghị quyết của Chính phủ số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 về đổi mới
cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã đề ra : "Xây
dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích luỹ kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài"
Thực hiện chủ trương đó, tại Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ
ĐHQGHN tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ III (25/10/2005) đã nêu : "Chỉ đạo các
đơn vị xây dựng đề án đào tạo theo học chế tín chỉ, triển khai thí điểm để rút kinh nghiệm, chuẩn bị các phương tiện, thiết bị, tài liệu, giảng đường, phần mềm quản lý đào tạo … trước khi nhân rộng";
Thực hiện những chủ trương trên, ĐHQGHN đã và đang chỉ đạo các trường đại học chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế TC
Hiện nay, Trường ĐH Kinh tế cũng đang thực hiện việc triển khai chuyển đổi phương thức đào tạo từ học chế niên chế sang học chế TC, đòi hỏi hoạt động của bộ phận CTSV cũng phải đổi mới về mặt tổ chức và hoạt động để đáp ứng được yêu cầu của phương thức đào tạo mới
Như vậy vấn đề đổi mới mô hình, nội dung hoạt động CTSV cho phù hợp với phương thức đào tạo mới, đồng bộ với các hoạt động khác của Trường ĐH Kinh tế là một vấn đề cần được nghiên cứu
Trang 3Là một cán bộ làm CTSV của Trường ĐH Kinh tế, trước yêu cầu thực tế đặt ra,
tôi chọn đề tài : “ Đổi mới quản lý công tác sinh viên ở Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang tín chỉ.”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp đổi mới quản lý hoạt động CTSV ở Trường ĐH Kinh tế đáp ứng yêu cầu chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế TC
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Hệ thống và làm rõ các khái niệm, lý luận về
- Hoạt động quản lý và quản lý giáo dục
- CTSV trong trường đại học (chức năng, nhiệm vụ)
- Đào tạo theo học chế TC trong đào tạo đại học
- CTSV trong đào tạo theo học chế TC
3.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác sinh viên ở Trường Đại học Kinh tế hiện nay và ở một số trường đã thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ
3.3 Đề xuất một số giải pháp đổi mới hoạt động công tác sinh viên ở Trường Đại học Kinh tế đáp ứng các yêu cầu chuyển đổi học chế
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Công tác sinh viên trong trường đại học
Đối tượng nghiên cứu: Quản lý CTSV ở Trường ĐH Kinh tế - ĐHQGHN
5 Giả thuyết khoa học
Việc chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế sang học chế TC kéo theo những thay đổi trong học tập và sinh hoạt của SV, hoạt động CTSV của Trường ĐH Kinh tế như hiện nay sẽ không còn thích hợp Nếu có những giải pháp đổi mới hợp lý trong quản lý CTSV thì sẽ làm cho hoạt động này phát huy tác dụng trong học chế mới đó
6 Đóng góp về mặt khoa học
6.1 Về lý luận
Hệ thống hóa lý luận cơ bản về các vấn đề
- Hoạt động quản lý và quản lý giáo dục
- CTSV trong nhà trường đại học
- Đào tạo đại học theo học chế TC
- CTSV trong học chế TC
Trang 46.2 Về thực tiễn
Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động CTSV của Trường, tổng kết kinh nghiệm
từ một số trường đại học, những vấn đề đặt ra từ thực tiễn, từ đó đề xuất một số giải pháp đổi mới quản lý CTSV ở Trường ĐH Kinh tế ĐHQGHN trong bối cảnh chuyển đổi đào tạo từ niên chế sang TC
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp chính sau
- Nghiên cứu tài liệu: phân tích, hệ thống, khái quát hóa tài liệu
- Khảo sát thực tế
- Tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp chuyên gia
8 Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát là Trường ĐH Kinh tế - ĐHQG Hà Nội giai đoạn hiện nay
- Về nội dung: Nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý từ đó đề ra một số giải pháp đổi mới quản lý hoạt động CTSV liên quan đến sự chuyển đổi học chế
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của đổi mới quản lý công tác sinh viên Chương 2: Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với công tác sinh viên ở
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp đổi mới quản lý công tác sinh viên ở Trường Đại
học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA ĐỔI MỚI
QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN
1.1 Công tác Học sinh, Sinh viên
Trong Quy chế Công tác HSSV định nghĩa
“Người đang học trong hệ trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề gọi là học
sinh chuyên nghiệp (gọi tắt là học sinh), còn người đang học trong hệ đại học và cao
Trang 5Trong các văn bản của Bộ GD&ĐT, cụm từ “công tác học sinh, sinh viên” (CTHSSV)
là danh từ dùng chung để chỉ hoạt động và tên tổ chức phụ trách công việc này
Trường ĐH Kinh tế ĐHQGHN chỉ có hệ đại học, nên trong các văn bản, tên của
bộ phận phụ trách công việc này dùng cụm từ “công tác sinh viên” (CTSV)
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý
Quản lý (tiếng Anh là Management) đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, tri thức và giá trị vô hình)
Có nhiều quan niệm, khái niệm về quản lý, song theo định nghĩa kinh điển nhất
là: “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách
thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đến mục đích của tổ chức.”
Hiện nay hoạt động quản lý được định nghĩa một cách rõ hơn : “quản lý là quá
trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo), kiểm tra.”
1.3 Quản lý giáo dục và quản lý công tác học sinh, sinh viên
Theo Phạm Viết Vượng: “Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất
của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc
và nhân loại được kế thừa bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên”
Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm quản lý giáo dục, trong đó khái niệm được sử dụng phổ biến là của M.I Kônzacôvi:
“Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của
chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em”
Ở nước ta Nguyễn Ngọc Quang đã xác định: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ
thống, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các chính sách của nhà trường xã hội
Trang 6chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”
Có thể nói quản lý giáo dục là hoạt động điều hành các nhà trường để giáo dục Cần lưu ý đến sự khác biệt giữa việc quản lý một cơ sở giáo dục với việc quản lý những tổ chức khác Chính những khác biệt đó đã hình thành nên “khoa học quản lý giáo dục”
Công tác HSSV cũng là một lĩnh vực của quản lý giáo dục, ta có thể khái quát về quản lý CTHSSV như sau:
- Quản lý CTHSSV là việc tổ chức, điều hành, phối hợp các lực lượng trong nhà trường nhằm thực hiện công tác giáo dục, quản lý, trợ giúp HSSV góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo và yêu cầu phát triển của xã hội trong mỗi nhà trường
- Quản lý CTHSSV với đặc trưng cơ bản là quản lý con người nên đòi hỏi tính khoa học và tính nghệ thuật cao trong quá trình quản lý
- Hiệu quả của quản lý CTHSSV được đo bằng kết quả thực hiện các mục tiêu của CTHSSV là “đào tạo con người VN phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức
khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và Chủ nghĩa
xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Trước sự đổi mới của nền kinh tế xã hội và của nền giáo dục đại học nước ta hiện nay đang đặt ra những đòi hỏi việc quản lý nhà trường nói chung và quản lý CTHSSV cần có sự đổi mới cho phù hợp với hoàn cảnh mới
1.4 Công tác sinh viên trong trường đại học
1.4.1 Chức năng, nhiệm vụ
Công tác HSSV được xác định trong “Quy chế HSSV các trường đại học cao đẳng
và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy”, số 42/2007/QĐ-BGDĐT là : “CTHSSV là một
trong những công tác trọng tâm của Hiệu trưởng nhà trường, nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”
Trang 7Hiện nay, nội dung về CTHSSV được nêu trong quy chế 42/2007/QĐ-BGDĐT,
đó là sự kế thừa có chỉnh lý, cụ thể hoá từ quy chế 1584/GD-ĐT và được bổ sung thêm các hoạt động tư vấn và trợ giúp SV nhằm làm cho CTHSSV phù hợp và hỗ trợ tốt hơn cho việc thực hiện phương thức đào tạo theo học chế TC
Tại quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học số: 65/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 01/11/2007 cũng đưa ra quy định về hoạt động CTSV tại các trường đại học
Để thống nhất quản lý hoạt động CTHSSV trong cả nước Bộ GD&ĐT đã ban hành các quy chế hướng dẫn các hoạt động trong CTHSSV như : Quy chế CTHSSV, Quy chế HSSV nội trú, Quy chế HSSV ngoại trú, Quy chế rèn luyện Trải qua quá trình hoạt động, các quy chế cũng được sửa đổi cho phù hợp
1.4.2 Công tác sinh viên ở một số trường đại học của một số nước
Luận văn nêu những nét chung về hoạt động công tác SV ở các trường đại học ở một số nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia và Australia, trên cơ sở báo cáo của các đoàn khảo sát của Bộ GD&ĐT
1.5 Đào tạo theo học chế tín chỉ
1.5.1 Khái quát về phương thức đào tạo đại học theo học chế tín chỉ
Luận văn đã đề cập tới những nét cơ bản về
- Sự ra đời và phát triển của học chế TC trên thế giới
- Việc áp dụng học chế TC ở Việt Nam
1.5.2 Đặc điểm của học chế tín chỉ
1.5.2.1 Đặc điểm chung
Học chế TC cho phép SV đạt được văn bằng đại học qua việc tích luỹ các loại tri thức giáo dục khác nhau được đo lường bằng một đơn vị xác định, căn cứ trên khối lượng lao động học tập trung bình của một SV, gọi là tín chỉ (credit)
Định nghĩa chính thức về TC phổ biến ở Mỹ và một số nước như sau: Khối lượng học tập gồm 1 tiết học lý thuyết (50 phút) trong một tuần lễ và kéo dài 1 học kỳ (15 - 18 tuần) thì được tính 1 TC Để chuẩn bị cho 1 tiết lên lớp, SV phải bỏ ra ít nhất 2 giờ làm việc ở ngoài lớp
Nước ta hiện nay cũng sử dụng định nghĩa tương tự
1.5.2.2 Các ưu điểm của học chế tín chỉ
Học chế TC có các ưu điểm chính của nó như sau:
Trang 8a) Có hiệu quả đào tạo cao: Học chế TC cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình tích luỹ kiến thức và kỹ năng của SV để dẫn đến văn bằng; SV được chủ động thiết kế kế hoạch học tập cho mình
b) Có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao: Với học chế TC, SV có thể chủ động ghi tên học các môn học khác nhau dựa theo những quy định chung Nó cho phép
SV dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu
c) Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo: Với học chế TC, kết quả học tập của SV được tính theo từng môn học chứ không phải theo năm học, do
đó việc hỏng một môn học nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục
1.5.2.3 Các nhược điểm của học chế tín chỉ và cách khắc phục
Học chế TC cũng có những nhược điểm sau đây:
a) Kiến thức bị cắt vụn: Phần lớn các môđun trong học chế TC được quy định tương đối nhỏ, cỡ 3 hoặc 4 TC, do đó không đủ thời gian để trình bày kiến thức thật sự
có đầu, có đuôi, theo một trình tự diễn biến liên tục
b) Khó tạo nên sự gắn kết trong SV: Vì từng SV học tập theo những kế hoạch riêng biệt và các lớp học theo môđun không ổn định, do vậy khó xây dựng các tập thể gắn kết chặt chẽ như các lớp theo niên chế
1.5.3 Sự khác biệt giữa phương thức đào tạo theo niên chế và tín chỉ
Điểm khác nhau cơ bản nhất giữa học chế TC với niên chế là việc giành quyền lựa chọn và quyết định cho SV trong quá trình đào tạo, từ chọn lựa ngành đào tạo cụ thể, tới chọn các môn học, phương thức học và cả kế hoạch học
Với niên chế chương trình được định sẵn cho mọi SV
Với học chế TC, người ta trình bày các mục tiêu đào tạo có thể có, chỉ dẫn các con đường đi khác nhau để đạt tới các mục tiêu này Sinh viên tự chọn nội dung, phương pháp, kế hoạch học để đạt tới mục tiêu đã chọn
Ngoài ra chúng còn có những khác biệt như đã trình bày về ưu điểm, nhược điểm
ở trên
Như vậy học chế TC cho phép tạo ra sự linh hoạt trong đào tạo, khả năng liên thông giữa các ngành học, các trường đào tạo, nó mở ra cho chúng ta khả năng hội nhập trong đào tạo với các nước trên thế giới
Trang 91.6 Những khác biệt cơ bản của công tác sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ và theo niên chế
Sự khác biệt giữa hai phương thức tổ chức đào tạo đã dẫn tới sự khác biệt trong hoạt động của CTHSSV trong nhà trường:
Trong đào tạo theo học chế TC, SV được giành quyền chủ động rất lớn trong quá trình đào tạo, song cũng rất cần có sự trợ giúp cho SV trong việc xác định kế hoạch học tập
Trong đào tạo theo TC, các khái niệm truyền thống như lớp SV, năm học thứ nhất, thứ hai… rất mờ nhạt Sự cá thể hoá cao độ quá trình học tập, đào tạo…, đòi hỏi việc quản lý SV của nhà trường phải trực tiếp đến từng SV
Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trước đây, không còn ý nghĩa trong hoạt động quản lý, cần được thay thế bằng đội ngũ CVHT với vai trò trợ giúp, hướng dẫn SV xây dựng kế hoạch học tập và tư vấn cho SV giải quyết các vấn đề trong sinh hoạt, và đời sống
Các hoạt động đoàn thể, phong trào sẽ phải thay đổi một cách cơ bản về nội dung
và phương thức hoạt động
1.7 Vai trò của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Theo lý luận dạy học hiện đại, SV được coi là 1 trong 2 chủ thể của quá trình dạy
học Sinh viên là chủ thể của quá trình học, chủ động, tích cực và sáng tạo trong nhận
thức và rèn luyện nhân cách, SV được coi là “trung tâm” của quá trình dạy học, giữ vai
trò quyết định chất lượng học tập, rèn luyện của bản thân
Trong đào tạo theo học chế TC vai trò của SV càng quan trọng, bởi quá trình học tập của người học được cá thể hoá đến mức tối đa Với đặc điểm đó vai trò cá nhân của
SV trong đào tạo TC có vai trò ảnh hưởng quyết định đến kế hoạch và chất lượng học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân
Do vậy, SV có vai trò rất lớn trong đào tạo theo TC, có sự tự chủ rất cao và cũng đồng thời là sự tự chịu trách nhiệm về kế hoạch và chất lượng học tập, rèn luyện của bản thân trong quá trình đào tạo
1.8 Những vấn đề đặt ra đối với công tác sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ niên chế sang học chế tín chỉ
Với đặc điểm của đào tạo theo học chế TC, SV học tập theo kế hoạch riêng, lớp
SV không ổn định như trong đào tạo theo niên chế, mối quan hệ giữa các SV trong lớp trở nên lỏng lẻo, do vậy lớp SV không còn ý nghĩa là một đơn vị quản lý SV như trước
Trang 10đây, vì vậy mô hình tổ chức, quản lý của hoạt động CTSV trong nhà trường sẽ phải thay đổi
Với sự khác biệt của đào tạo theo học chế TC, một số nội dung hoạt động của CTSV trong nhà trường sẽ không còn phù hợp, cần phải được thay đổi cho phù hợp và
bổ sung thêm một số hoạt động mới đáp ứng nhu cầu của SV và yêu cầu của đào tạo trong tình hình mới
Việc tổ chức các hoạt động đoàn thể, các hoạt động tập thể sẽ trở nên khó khăn hơn Như vậy, cùng với việc chuyển đổi đào tạo theo học chế TC, hoạt động CTSV cũng phải có sự đổi mới cho phù hợp và hỗ trợ tốt cho công tác đào tạo trong nhà trường
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2.1 Một số nét khái quát về Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
2.1.1 Quá trình phát triển
Tiền thân của Trường Đại học Kinh tế ĐHQGHN là Khoa Kinh tế chính trị thuộc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, được Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập số 290/QĐ-TTg ngày 06/3/2007
2.1.2 Sứ mệnh và mục tiêu
Trường Đại học Kinh tế đặt ra cho mình sứ mệnh:
“- Cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực phân tích chính sách và quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế
- Chuyển giao các kết quả, các lý thuyết và trường phái nghiên cứu mới về kinh
tế, quản lý và quản trị kinh doanh cho các doanh nghiệp và cơ quan Chính phủ nhằm tăng cường sự kết hợp giữa nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn
- Cung cấp các dịch vụ tư vấn chất lượng cao về chính sách kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh cho cộng đồng và các doanh nghiệp.”
Mục tiêu chiến lược và tầm nhìn của trường là:
- Đến năm 2008, Trường Đại học Kinh tế được biết đến là một trường đại học mới, năng động, có tầm nhìn và quyết tâm phát triển cao
Trang 11- Đến năm 2012, Trường Đại học Kinh tế được xếp hạng trong 5 trường đại học hàng đầu Việt Nam và 20 trường đại học hàng đầu khu vực Đông Nam Á về lĩnh vực kinh tế và đào tạo lãnh đạo doanh nghiệp
- Đến năm 2022, Trường Đại học Kinh tế được xếp hạng trong 3 trường đại học hàng đầu Việt Nam và 10 trường đại học hàng đầu khu vực Châu Á về lĩnh vực kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh, trong đó có một số chuyên ngành đào tạo đạt đẳng cấp quốc tế
2.1.3 Về cơ cấu tổ chức của nhà trường
Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Kinh tế gồm có:
- Ban giám hiệu
- Hội đồng Khoa học và Đào tạo
- Các phòng chức năng: gồm 4 phòng là Phòng Hành chính – Tổ chức; Phòng Đào tạo và Nghiên cứu khoa học (trong đó có bộ phận công tác sinh viên); Phòng Kế hoạch – Tài chính, Phòng Hợp tác - Phát triển
- Các khoa: Gồm 4 khoa Khoa Kinh tế Chính trị; Khoa Kinh tế quốc tế; Khoa Quản trị kinh doanh; Khoa Tài chính – Ngân hàng;
- Trung tâm trực thuộc: Trung tâm Nghiên cứu kinh tế phát triển
2.1.4 Về cơ cấu đào tạo
Hiện nay, nhà trường có các hệ và ngành đạo tạo sau
- Đào tạo cử nhân: Các ngành Kinh tế chính trị; Kinh tế đối ngoại; Quản trị kinh doanh; Tài chính – Ngân hàng
- Đào tạo thạc sĩ: Các ngành Kinh tế chính trị; Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế; Quản trị kinh doanh
- Đào tạo tiến sĩ: Kinh tế chính trị
2.1.5 Về quy mô đào tạo
Là một trường mới thành lập, do điều kiện cơ sở vật chất hạn chế nên quy mô đào tạo của trường so với các trường khác là còn nhỏ
Bảng 2.1 : Số liệu quy mô các hệ đào tạo của trường ĐH Kinh tế - ĐHQGHN
Trang 12Đại học không chính quy 1119 1200 1100 1156 700*
Tổng cộng 2528 2730 2840 2814 3130*
(Nguồn: Phòng Đào tạo và NCKH)
2.2 Tình hình áp dụng học chế tín chỉ trong đào tạo đại học ở Việt Nam
2.2.1 Vài nét về học chế trong giáo dục đại học nước ta từ sau năm 1975
Luận văn đã trình bày một số nét khái quát về việc áp dụng các học chế ở nước ta
từ sau năm 1975 và có sự so sánh giữa các học chế đã được áp dụng ở GDDH nước ta
như niên chế, học chế học phần, học chế TC
2.2.2 Việc triển khai học chế học phần triệt để (học chế tín chỉ) ở một số trường đại
học nước ta
Từ niên khoá 1993-1994 Bộ GD&ĐT khuyến khích các trường đại học cải tiến
học chế học phần để có học chế học phần triệt để hơn, hoặc nói cách khác là áp dụng
học chế TC kiểu Mỹ cho quy trình đào tạo đại học nước ta Cần lưu ý là việc chuyển từ
học chế học phần sang học chế TC thực chất là cải tiến và tăng sự mềm dẻo của học chế
học phần hiện có, do đó đây là một quá trình liên tục, không phải đột biến Theo tinh
thần đó, cho đến nay có khoảng 10 trường đại học ở nước ta có thể xem như đã áp dụng
học chế TC
Tuy nhiên, việc triển khai học chế TC cũng gặp rất nhiều khó khăn về phía những
người trực tiếp thực hiện
Năm 2007 để triển khai rộng rãi học chế TC trong cả nước Bộ Giáo dục và Đào tạo đã
ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống TC Quy chế này là
cơ sở thống nhất để các trường triển khai tổ chức đào tạo theo học chế TC
2.2.3 Về mục tiêu và một số quan niệm về chuyển đổi
2.2.3.1 Mục tiêu việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ ở nước ta
- Trước hết là tạo một học chế mềm dẻo hướng về SV để tăng cường tính chủ động và
khả năng cơ động của SV, để đảm bảo sự liên thông dễ dàng trong quá trình học tập và tạo ra
những sản phẩm có tính thích ứng cao với thị trường sức lao động trong nước
- Đồng thời, trong xu thế toàn cầu hóa, làm cho hệ thống GDĐH nước ta hội
nhập với khu vực và thế giới
Trang 132.2.3.2 Quan niệm về việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ ở nước ta
- Việc chuyển đổi sang học chế TC có nghĩa là cải tiến học chế học phần, tăng cường áp dụng các biện pháp tạo nên sự mềm dẻo đó
- Việc chuyển đổi sang học chế TC, tạo nên sự mềm dẻo của quy trình đào tạo cần phải được kết hợp một cách logic với việc phát triển và hiện đại hóa chương trình đào tạo
2.3 Việc áp dụng, triển khai học chế tín chỉ ở Đại học Quốc gia Hà Nội
Để triển khai tổ chức đào tạo theo học chế TC, từ đầu năm 2006 ĐHQGHN đã tổ chức nhiều hội thảo, tập huấn, tuyên truyền trong toàn thể cán bộ, giảng viên SV về đào tạo theo TC, đề ra lộ trình triển khai áp dụng học chế TC, soạn thảo hàng loạt các văn bản hướng dẫn về chuyển đổi đào tạo theo TC
Đầu năm học 2007-2008 ĐHQGHN đã ban hành “Quy chế đào tạo đại học ở ĐHQGHN”
Năm học 2007-2008 các đơn vị đào tạo thành viên ĐHQGHN đã bắt đầu áp dụng các yếu tố tích cực của học chế TC trong đào tạo hệ cử nhân cho SV năm thứ nhất và năm thứ hai
Theo lộ trình của ĐHQGHN đến năm 2010 toàn ĐHQG HN sẽ chuyển đổi, áp dụng triệt để học chế TC trong đào tạo
2.4 Việc áp dụng, triển khai học chế tín chỉ ở Trường Đại học Kinh tế
Năm học 2007-2008 Trường ĐH Kinh tế đã triển khai áp dụng những yếu tố tích cực của học chế TC trong đào tạo đối với 2 khoá học là QH-2006 và QH-2007, các khoá học trước vẫn tiếp tục đào tạo theo niên chế
Theo chỉ đạo về lộ trình chung của Đại học Quốc gia Hà Nội, đến năm 2010 trường Đại học Kinh tế sẽ thực hiện chuyển đổi hoàn toàn đào tạo theo học chế TC
2.5 Thực trạng công tác sinh viên ở Trường Đại học Kinh tế hiện nay
2.5.1 Một vài nét khái quát về Công tác sinh viên của Trường Đại học Kinh tế
2.5.1.1 Về quy mô sinh viên hệ đại học chính quy tập trung
Bảng 2.2: Số liệu về quy mô đào tạo SV đại học hệ chính quy