Mục tiêu giáo dục phổ thông là nhằm giáo dục HS phát triển toàn diện, không những phải có phẩm chất đạo đức chính trị mà còn phải là người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi sự phát triển ngày càng nhanh của xã hội. Chính vì vậy, việc phát huy khả năng sáng tạo của HS là một trong những phương hướng cải cách giáo dục thật sự hiệu quả trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Đồng thời nó cũng phù hợp với những yêu cầu của các cuộc vận động do ngành phát động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo”; “Phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”….Bên cạnh đó, các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội ngày nay thường phàn nàn về việc học quá tải của HS. Các em không có đủ thời gian tự học để tìm tòi, suy nghĩ sáng tạo. Hơn nữa, phương pháp dạy học của nhiều GV là đưa ra các dạng BT, với mỗi dạng bài lại nêu cách giải chi tiết. Phương pháp dạy học này, nếu được áp dụng trong thời gian ngắn thì rất hiệu quả vì HS dễ dàng nhận ra BT mình đang giải quyết thuộc dạng nào thông qua một số dấu hiệu và có ngay định hướng giải BT đó. Tuy nhiên, nếu cả quá trình dạy học thường xuyên sử dụng phương pháp này sẽ làm HS thụ động, lười suy nghĩ và lâu dần sẽ làm mất khả năng tư duy của HS, thậm chí thui chột óc thông minh, sáng tạo của các em. Rèn cho HS thói quen, ý thức biết trăn trở với mỗi vấn đề học tập, không theo một lối mòn cho sẵn để tìm ra cách giải quyết vấn đề ngắn hơn, hay hơn, chính là phát huy khả năng sáng tạo của các em.Từ những vấn đề nêu trên, tôi đã chọn nội dung: “ Phát huy khả năng sáng tạo của học sinh thông qua việc giải một số bài tập hóa học cấp THCS ” để làm sáng kiến kinh nghiệm.
Trang 1MỤC LỤC
05 Phiếu nhận xét, đánh giá SKKN
06 Phiếu nhận xét, đánh giá SKKN
Trang 2DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Viết tắt
Sáng kiến kinh nghiệm
“ PHÁT HUY KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC GIẢI MỘT SỐ BÀI TẬP HÓA HỌC CẤP THCS ”
PHẦN I – ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 3Mục tiêu giáo dục phổ thông là nhằm giáo dục HS phát triển toàn diện,
không những phải có phẩm chất đạo đức chính trị mà còn phải là người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi sự phát triển ngày càng nhanh của xã hội Chính vì vậy, việc phát huy khả năng sáng tạo của HS là một trong những phương hướng cải cách giáo dục thật sự hiệu quả trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục Đồng thời nó cũng phù hợp với những yêu cầu của các cuộc vận động do ngành phát động - “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo”; “Phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”…
Bên cạnh đó, các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội ngày nay thường phàn nàn về việc học quá tải của HS Các em không có đủ thời gian tự học để tìm tòi, suy nghĩ sáng tạo Hơn nữa, phương pháp dạy học của nhiều GV là đưa ra các dạng BT, với mỗi dạng bài lại nêu cách giải chi tiết Phương pháp dạy học này, nếu được áp dụng trong thời gian ngắn thì rất hiệu quả vì HS dễ dàng nhận ra BT mình đang giải quyết thuộc dạng nào thông qua một số dấu hiệu và có ngay định hướng giải BT đó Tuy nhiên, nếu cả quá trình dạy học thường xuyên sử dụng phương pháp này sẽ làm HS thụ động, lười suy nghĩ và lâu dần sẽ làm mất khả năng tư duy của HS, thậm chí thui chột óc thông minh, sáng tạo của các em Rèn cho HS thói quen, ý thức biết trăn trở với mỗi vấn đề học tập, không theo một lối mòn cho sẵn để tìm ra cách giải quyết vấn đề ngắn hơn, hay hơn, chính là phát huy khả năng sáng tạo của các em
Từ những vấn đề nêu trên, tôi đã chọn nội dung: “ Phát huy khả năng sáng tạo của học sinh thông qua việc giải một số bài tập hóa học cấp THCS ” để làm
sáng kiến kinh nghiệm Qua đây, cùng với quý đồng nghiệp trao đổi bàn bạc thống nhất và rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng bộ môn hơn nữa
PHẦN II – NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Hóa học là khoa học của các biểu tượng Tất cả các hiểu biết về hóa học được biểu diễn bằng kí hiệu, công thức, phương trình hóa học Để học tốt môn hóa
Trang 4học người học không những phải có tư duy logic, kỹ năng tính toán mà còn cần tới khả năng sử dụng ngôn ngữ, tư duy không gian và khả năng vận dụng vào thực tiễn
đa dạng của cuộc sống
Như vậy, quá trình dạy học xét đến cùng là rèn cho HS khả năng nhận thức
và hành động một cách sáng tạo để HS định hướng tốt trong mọi hoạt động và thích nghi với cuộc sống Chính vì vậy trong quá trình dạy học, cần giúp cho HS biết cách xử lí, giải quyết các tình huống cụ thể, đồng thời thấy được mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, tìm ra mối quan hệ giữa chúng và biết cách sử dụng các mối quan hệ đó theo hướng có lợi nhất cho bản thân và cộng đồng Đó chính là rèn cho HS trí thông minh, khả năng sáng tạo khi giải quyết vấn đề
II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1/ Thuận lợi
Ngày nay, việc giảng dạy bộ môn hóa học rất được coi trọng Môn hóa học được đầu tư trang thiết bị đầy đủ; Bố trí người phụ trách phòng thiết bị hợp lí…
Đội ngũ GV được chuẩn hóa, được cập nhật thông tin đầy đủ, kịp thời Đồng thời mỗi GV có những bản sắc riêng trong cách phối kết hợp những kĩ năng sử dụng các phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, các thao tác thực hiện kĩ thuật thực hành trong từng bài cụ thể… Tựu chung lại là giúp HS nắm kiến thức nhanh nhất, sâu sắc nhất, chủ động nhất
Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm khá mới mẻ, gắn liền với tự nhiên, với thực tế đời sống và sản xuất nên gây được sự tò mò, hứng thú cho HS đặc biệt
là đối với HS cấp THCS
Hiện nay, việc thực hiện dạy học theo yêu cầu phân hóa cấp THCS đã góp phần thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
2/ Khó khăn
Một tiết dạy ( 45 phút ) gây khó khăn cho GV trong việc hướng dẫn HS tìm
ra nhiều cách giải quyết vấn đề đặt ra
Ý thức học tập của một số HS chưa cao, còn lười biếng và thụ động
III BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1/ Yêu cầu
Trang 5Để đạt hiệu quả cao trong việc vận dụng sáng kiến, cần đảm bảo một số yêu
cầu sau:
a/ Đối với GV
- GV cần xây dựng và xử lí hệ thống bài tập hóa học theo nhiều hướng giải quyết khác nhau
- Khai thác hợp lí mọi tình huống dạy học đối với từng đối tượng HS
- Thường xuyên cập nhật thông tin, tham khảo tài liệu, trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp nhằm tạo nguồn tích lũy kiến thức cho bản thân
b/ Đối với HS
- HS phải chủ động, tích cực trong học tập tại lớp và ở nhà
- HS phải nắm vững những kiến thức trọng tâm và đã được rèn luyện những
kĩ năng cơ bản đối với từng dạng bài cụ thể
- Xây dựng đôi bạn học tập, nhóm học tập… cùng tìm hiểu, thảo luận những vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập
2/ Những dạng bài tập có thể vận dụng:
Hóa học là môn học thực nghiệm rất thuận lợi cho việc rèn luyện sự thông
minh, sáng tạo nếu GV biết khai thác mọi tình huống dạy học Ngay từ những BT đầu tiên, nếu GV rèn cho HS thói quen làm việc sáng tạo, biết lật lại vấn đề dưới các góc độ khác nhau sẽ tạo cho các em hứng thú học tập bộ môn và góp phần phát triển trí tuệ của các em
Dưới đây xin giới thiệu một số bài tập hóa học cấp THCS có thể sử dụng để thực hiện mục tiêu nêu trên:
a/ Dạng bài tính theo CTHH:
* Với dạng BT tính theo CTHH có thể giải quyết hết sức ngắn gọn thông qua sự so sánh khối lượng mol nguyên tử của các nguyên tố Trên cơ sở phân tích, so sánh, đối chiếu HS có thể rút ra mối quan hệ giữa các chất từ đó
có thể giải quyết các vấn đề một cách nhanh chóng mà không cần có sự tính toán rất dài Dạng bài này thường áp dụng cho những chất chứa các nguyên
tử mà nguyên tử khối của chúng tỉ lệ với nhau như những số nguyên nhỏ.
Trang 6Bài 1: Để tăng năng suất cây trồng, một bác nông dân đến cửa hàng phân
bón để mua phân đạm Cửa hàng có các loại phân đạm như sau: NH 4 NO 3 , (NH 2 ) 2 CO, (NH 4 ) 2 SO 4 Theo em, nếu bác nông dân mua 500 kg phân đạm thì nên mua loại phân đạm nào là có lợi nhất ? Tại sao?( Biết rằng phân đạm cung cấp nguyên tố nitơ cho cây trồng).
Bài giải Cách 1:
Để trả lời câu hỏi của bài toán, HS cần tính hàm lượng nguyên tố nitơ trong từng loại đạm Sau đó so sánh và chọn loại đạm chứa nhiều nitơ nhất
Hàm lượng N trong các loại đạm:
Trong NH4NO3: % 14.2 .100% 35%
14.2 1.4 16.3
Trong (NH2)2CO : % 14.2 .100% 46,67%
14.2 1.4 16 12
Trong (NH4)2SO4 : % 14.2 .100% 21, 21%
14.2 1.8 16.4 32
Theo kết quả tính toán ta thấy, nếu bác nông dân mua 500kg phân đạm thì mua đạm (NH2)2CO là có lợi nhất
Sau khi dạy HS cách tính như trên, GV có thể đặt câu hỏi: “ Liệu có cách nào cho kết quả nhanh hơn ?” và từ đó gợi ý cho HS làm theo cách như sau:
Cách 2: Trong cả 3 loại đạm trên, mỗi phân tử đều chứa 2 nguyên tử N Như vậy
chỉ cần so sánh khối lượng của các nguyên tố còn lại Khối lượng các nguyên tố này càng nhỏ thì hàm lượng N càng lớn
Ta nhận thấy : MS = 2MO ; MC = 0,75MO Vì vậy, ta so sánh số nguyên tử oxi trong 3 loại đạm trên
Ở đạm (NH4)2SO4 có tới 6,5 “nguyên tử oxi”, đạm NH4NO3 có 3,25 “nguyên
tử oxi”, đạm (NH2)2CO chỉ có 2 “nguyên tử oxi” Vậy hàm lượng đạm trong (NH4)2SO4 là nhỏ nhất, đạm (NH2)2CO là lớn hơn cả Nên bác nông dân mua đạm (NH2)2CO là có lợi nhất
Trang 7( Ở đây cũng do mỗi phân tử đều chứa 2 nguyên tử N nên có thể so sánh khối lượng mol của 3 loại đạm, loại đạm nào có khối lượng mol càng nhỏ thì hàm lượng
N càng lớn.)
Bài 2: Hãy sắp xếp hàm lượng nguyên tố sắt trong phân tử các chất sau
theo thứ tự giảm dần: FeS, FeS 2 , Fe 2 (SO 4 ) 3 , FeSO 4 , FeO, FeSO 3 , Fe 3 O 4, Fe 2 O 3
Bài giải Cách 1:
Tính hàm lượng % của sắt trong từng hợp chất trên rồi so sánh
( )
56
56 32
FeS
Tính toán tương tự ta có:
2
( )
%Fe FeS 46, 67% %FeFe SO2( 4 3) 28%
4
%Fe FeSO 36,84%
3
%Fe FeSO 41,18% %FeFeO 77, 78%
3 4
%Fe Fe O 72, 41%
2 3
%Fe Fe O 70%
Vậy hàm lượng sắt trong phân tử các chất theo thứ tự giảm dần :
FeO, Fe3O4 , Fe2O3 ,FeS, FeS2, FeSO3 , FeSO4 , Fe2(SO4)3
Với cách giải này thì sẽ tiêu tốn rất nhiều thời gian và đôi khi dễ bị nhầm lẫn trong quá trình tính toán, cho nên cần hướng cho HS tìm ra cách giải quyết khác
Cách 2:
Quan sát phân tử các chất trên, nhận thấy chúng chỉ chứa sắt, lưu huỳnh và oxi, trong đó MS = 2MO Vì vậy, có thể coi một nguyên tử S bằng hai nguyên tử O Trên cơ sở so sánh số nguyên tử sắt và oxi để rút ra kết luận
Hợp chất nào có giá trị của tỉ lệ sắt và oxi càng lớn thì hàm lượng sắt càng cao: Ở FeS có một nguyên tử sắt và hai “ nguyên tử oxi” nên ta có tỉ lệ Fe : O = 1 :
2 = 0,5
Tính toán tương tự ta có :
FeS2 có tỉ lệ Fe : O = 1 : 4 = 0,25; Fe2O3 có tỉ lệ Fe : O = 2 : 3 = 0,67 FeSO4 có tỉ lệ Fe : O = 1 : 6 = 0,17; FeO có tỉ lệ Fe : O = 1 : 1 = 1 FeSO3 có tỉ lệ Fe : O = 1 : 5 = 0,2; Fe3O4 có tỉ lệ Fe : O = 3 : 4 = 0,75
Fe2(SO4)3 có tỉ lệ Fe : O = 2 : 18 = 0,11
Trang 8Vậy hàm lượng sắt trong phân tử các chất theo thứ tự giảm dần :
FeO, Fe3O4 , Fe2O3 ,FeS, FeS2, FeSO3 , FeSO4 , Fe2(SO4)3
b/ Dạng bài tính theo PTHH
Bài 3: Hòa tan hoàn toàn 2,17 gam hỗn hợp X gồm 3 kim loại Mg, Fe và Al
trong dung dịch axit HCl dư thu được 1,68 lít khí hiđro ( ở điều kiện tiêu chuẩn )
và dung dịch Y Cô cạn dung dịch Y thu được m gam hỗn hợp 3 muối khan Tính m.
Bài giải Cách 1: Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng
Ta có: 2
1,68
0,075( )
22, 4
H
n mol => m H2 0,075.2 0,15( gam)
2Al + 6HCl 2AlCl3 + 3H2 (3) Theo phương trình (1), (2), (3): n HCl 2n H2 0,075.2 0,15( mol)
Do đó: m HCl 0,15.36,5 5, 475( ) g
Theo định luật bảo toàn khối lượng: m X m HCl m m H2
=> m m X m HCl m H2
=> m = 2,17 + 5,475 – 0,15 = 7,495 (g)
Cách 2: Phương pháp tăng giảm khối lượng
Ta có: 2
1,68
0,075( )
22, 4
H
2Al + 6HCl 2AlCl3 + 3H2 (3) Theo phương trình (1), (2), (3): n HCl 2n H2 0,075.2 0,15( mol)
Trong HCl: n Cl =nHCl nên mCl = 0,15 35,5 = 5,325 (g)
Ta thấy: mmuối = mX + mCl = 2,17 + 5,325 = 7,495 (g)
Trang 9Cách 3: Phương pháp nhóm nghiệm
Ta có: 2
1,68
0,075( )
22, 4
H
Gọi x, y, z lần lượt là số mol của Mg, Fe và Al tham gia phản ứng
2Al + 6HCl 2AlCl3 + 3H2 (3)
Theo bài ta có: n H2 x y 1,5z 0,075(mol) (4)
m X x.24 y.56 z.27 2,17( ) g (5) Khối lượng muối khan tạo thành:
m = x (24 + 71) + y (56 + 71) + z ( 27 + 106,5)
= x.24 + 71.x + 56.y + 71.y + 27.z + 106,5.z
= ( x.24 + y.56 + z.27) + 71( x + y + 1,5z ) (6) Thay (4) và (5) vào (6): m = 2,17 + 71.0,075 = 7,495 (g)
* Chú ý: Trong bài tập 3, với 3 cách làm đã giải quyết tốt nội dung của bài tập:
- Trong cách 1:
+ Cần viết được phương trình của định luật bảo toàn khối lượng + Thấy được mối liên hệ về tỉ lệ số mol của HCl với H 2 trong 3 phản ứng.
- Trong cách 2:
+ Cần thấy được trong HCl: n Cl = n HCl + Nhận thấy khi 3 kim loại phản ứng với axit tạo hỗn hợp muối, khối lượng muối = m X + m Cl
- Trong cách 3:
+ Lập được phương trình toán học theo dữ kiện của bài.
+ Khi tính khối lượng muối, cần biết cách khai triển và nhóm nghiệm theo các phương trình đã lập để giải quyết bài toán.
Trang 103/ Quy trình thực hiện
a/ Đối với GV
Bước 1: Trang bị cho HS những kiến thức, kĩ năng cơ bản đối với từng dạng BT hóa học cụ thể
Bước này tương đối quan trọng vì để phát huy tối đa khả năng sáng tạo của
HS, đòi hỏi HS phải có nền tảng kiến thức cơ bản vững chắc Từ đó ta mới có thể dẫn dắt HS giải quyết tốt các vấn đề theo nhiều hướng khác nhau
Như vậy để thực hiện tốt bước này, GV cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Soạn giáo án trước khi lên lớp phải đảm bảo tính chính xác, khoa học; Sử dụng phương pháp phù hợp với đặc trưng bộ môn; Nội dung bài giảng phải phân hóa dành cho từng đối tượng HS …
- Tổ chức và điều khiển HS học tập tích cực, chủ động nhằm giúp cho đa số
HS hiểu bài và nắm vững trọng tâm
- Với từng dạng bài cần hình thành cho HS những dấu hiệu nhận biết và những bước giải cụ thể
Bước 2: Xây dựng hệ thống bài tập hóa học theo nhiều hướng giải khác nhau
- Tham khảo các tài liệu hóa học, sách BT, sách tham khảo … qua đó tổng
hợp thành các dạng BT hóa học cụ thể
- Với mỗi dạng BT xây dựng nhiều cách giải khác nhau dựa trên cơ sở kiến thức hóa học và toán học mà HS đã được biết
- Với mỗi dạng BT cho nhiều ví dụ tương tự để HS vận dụng nhằm rèn luyện kĩ năng giải BT và khắc sâu kiến thức cho HS
Bước 3: Vận dụng
Đây là bước quyết định sự thành công cho cả quá trình Vì thế khi thực hiện cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Chọn lựa tiết, chương để lồng ghép các dạng BT có nhiều cách giải sao cho phù hợp với kiến thức trọng tâm của tiết học và đảm bảo về thời lượng
- Chọn BT phù hợp với năng lực của từng đối tượng HS
- Dẫn dắt HS hình thành các cách giải cho một BT mẫu trên lớp Cho các BT
Trang 11tương tự để HS làm ở nhà.
- Động viên, khuyến khích HS chủ động hoàn thành các BT mà GV đã cho bằng các hình thức khen ngợi, cho điểm …
Bước 4: Kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ của HS
Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ của HS mà
GV đã giao bằng các hình thức kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, … Hoặc qua quá trình hoạt động nhóm, qua những ý kiến đóng góp từ cá nhân học sinh…
Bước này nhằm giúp HS biết được năng lực tiếp thu của bản thân, từ đó có hướng thay đổi phương pháp học tập cho phù hợp đồng thời cũng giúp GV biết được hiệu quả giảng dạy và hướng điều chỉnh phương pháp giảng dạy nhằm đạt kết quả cao
Như vậy, việc kiểm tra đánh giá cũng góp phần quan trọng trong quá trình hình thành tư duy sáng tạo cho HS trong quá trình học tập
b/ Đối với HS
Có ý thức học tập cao
Học thuộc các khái niệm, định luật, công thức, cách làm các dạng BT… Chủ động, tích cực hoàn thành các nhiệm vụ học tập mà GV đã giao
4/ Khả năng ứng dụng, triển khai kết quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sáng kiến kinh nghiệm “ Phát huy khả năng sáng tạo của HS thông qua việc giải một số bài tập hóa học cấp THCS ”có khả năng ứng dụng thực tiễn cao.
Nội dung sáng kiến dễ hiểu và dễ dàng ứng dụng đại trà vào bộ môn Hóa cấp THCS:
- Đối với đối tượng HS yếu kém khi một số dạng BT hóa được các em cho là
“khó” và có nhiều bước làm dài dòng thì sáng kiến này là một giải pháp hữu hiệu
- Đối với đối tượng HS khá giỏi thì sáng kiến sẽ phát huy khả năng tư duy sáng tạo của HS, giúp HS độc lập, sáng tạo giải quyết các vần đề đặt ra
Trang 12* Tuy nhiên, Hóa học cấp THCS là môn học thực nghiệm khá mới mẻ đối với HS và HS cần được rèn luyện những kĩ năng cơ bản trong chương trình giáo dục phổ thông Vì thế, trong quá trình vận dụng sáng kiến này cần phải chọn lựa
những nội dung kiến thức sao cho phù hợp với kiến thức trọng tâm của bài, của
chương, tránh quá tải đối với HS.
Trang 13PHẦN III – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I KẾT QUẢ CỦA VIỆC ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tôi đã áp dụng sáng kiến kinh nghiệm “ Phát huy khả năng sáng tạo của
HS thông qua việc giải một số bài tập hóa học cấp THCS ” trong năm học 2012
– 2013 và 2013 – 2014 nhận được những kết quả như sau:
- Đa số học sinh yêu thích và có hứng thú với bộ môn hóa hơn Vì thế, học sinh thực hiện rất nghiêm túc các yêu cầu học tập mà giáo viên đưa ra Điều này đã góp phần nâng cao chất lượng đại trà của bộ môn hóa lên cao
- Kết quả giảng dạy môn Hóa tỉ lệ học sinh khá giỏi tăng cao, học sinh yếu kém giảm dần:
Năm 2011 – 2012: Giỏi 9,7%, Khá 11,3%, TB 72,5%, Yếu 6,50%, Kém 0%
Năm 2012 – 2013: Giỏi 10,5%, Khá 42,9%, TB 42,6%, Yếu 4%, Kém 0%
HK I năm 2013 – 2014: Giỏi 10,7%, Khá 43,9%, TB 42,6%, Yếu 2,8%, Kém 0%
- Tôi đã ứng dụng sáng kiến này để bồi dưỡng HS giỏi dự thi HS giỏi vòng huyện đối với môn Hóa 9 trong năm học 2013 – 2014 và đạt 2 giải I, II
II KẾT LUẬN
Việc vận dụng sáng kiến “ Phát huy khả năng sáng tạo của HS thông qua
việc giải một số bài tập hóa học cấp THCS ” vào bộ môn hóa học nói chung, hóa
học cấp THCS nói riêng sẽ mang đến những hiệu quả lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Nó góp phần giúp HS nắm kiến thức nhanh nhất, sâu sắc nhất, chủ động nhất
Vì thế, việc phát huy khả năng sáng tạo của HS thông qua việc giải một số bài tập hóa học cấp THCS là hết sức cần thiết, vừa đáp ứng yêu cầu của xã hội đặt
ra vừa đáp ứng các phong trào, hoạt động của ngành
III KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
Để việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm “Phát huy khả năng sáng tạo của
HS thông qua việc giải một số bài tập hóa học cấp THCS ” được thuận lợi và đạt
hiệu quả cao, tôi có một số kiến nghị, đề xuất như sau: