1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý hoạt động của trung tâm hỗ trợ sinh viên đại học quốc gia hà nội

24 585 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp quản lý hoạt động của Trung tâm Hỗ trợ sinh viên - Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả Phạm Đình Việt Trường
Người hướng dẫn PGS. TS Đặng Xuân Hải
Trường học Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn ThS
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 638,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng các hoạt động hỗ trợ sinh viên tại Trung tâm Hỗ trợ sinh viên – Đại học Quốc gia Hà Nội ĐHQGHN: Qua điều tra, khảo sát nhu cầu có thể nhận định: công tác hỗ trợ là rất rộng về

Trang 1

Biện pháp quản lý hoạt động của Trung tâm Hỗ trợ

sinh viên - Đại học Quốc gia Hà Nội

Abstract: Trình bày cơ sở lý luận của quản lý các hoạt động hỗ trợ sinh viên (SV): Nêu

những khái niệm liên quan đến công tác tổ chức, quản lý, hoạt động hỗ trợ và những yếu

tố ảnh hưởng đến hoạt động hỗ trợ SV Thực trạng các hoạt động hỗ trợ sinh viên tại Trung tâm Hỗ trợ sinh viên – Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN): Qua điều tra, khảo sát nhu cầu có thể nhận định: công tác hỗ trợ là rất rộng về nội dung và đa dạng về đối tượng nhưng chưa được ĐHQGHN đầu tư và quan tâm đúng mức nên hiệu quả đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho SV của ĐHQGHN là chưa cao Nêu một

số biện pháp nâng cao chất lượng quản lý các hoạt động hỗ trợ SV tại Trung tâm Hỗ trợ sinh viên – ĐHQGHN Đề xuất các biện pháp: Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ viên chức trong trung tâm ; Cải tiến việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác hỗ trợ của Trung tâm hỗ trợ sinh viên (TTHTSV) Xây dựng cơ chế vận hành các hoạt động

hỗ trợ SV; Huy động các lực lượng xã hội khác trong và ngoài ĐHQGHN tham gia công tác hỗ trợ SV; Nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất và bổ sung kinh phí cho công tác

hỗ trợ SV; Đẩy mạnh công tác kiểm tra, đánh giá tổng kết hoạt động hỗ trợ SV nhằm

nâng cao hiệu quả công tác này

Keywords: Quản lý giáo dục; Sinh viên; Đại học Quốc gia Hà Nội; Trung tâm hỗ trợ sinh viên

Content

MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ: “Thực

hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục

Trang 2

truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác

phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”

Đây là văn kiện mới nhất tiếp nối chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong việc xác

định giáo dục và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu

Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại 3 trường đại học

lớn ở Hà Nội: Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I và Trường

Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội (theo Nghị định 97/CP ngày 10/12/1993 của Chính phủ)

ĐHQGHN chính thức hoạt động theo Quy chế Tổ chức và hoạt động do Thủ tướng Chính phủ

ban hành ngày 5/9/1994

Ngay từ khi mới thành lập, ĐHQGHN đã cho ra đời Trung tâm Nội trú sinh viên (nay là

Trung tâm Hỗ trợ sinh viên - TTHTSV), trên cơ sở sát nhập các Ký túc xá (KTX) của các trường

thành viên Trung tâm Hỗ trợ sinh viên (được bổ sung chức năng, nhiệm vụ và đổi tên từ tháng 1

năm 2009) là một mô hình tổ chức mới trong công tác quản lý, phục vụ, hỗ trợ và phối hợp tổ

chức đào tạo kỹ năng cho học sinh sinh viên (HSSV) của ĐHQGHN Trong những năm qua

TTHTSV đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển chung của ĐHQGHN

Thực tế cho thấy những kiến thức và kỹ năng mà sinh viên được học trong nhà trường

vẫn chưa đủ để sinh viên tự tin khi bước vào cuộc sống nghề nghiệp, sinh viên ra trường thiếu

kinh nghiệm, kỹ năng làm việc dẫn tới tỷ lệ thất nghiệp đối với sinh viên mới ra trường cao Vì

vậy, họ cần hỗ trợ nhiều hơn trong quá trình học tập tại trường cũng như tại KTX

Nhận thức được ý nghĩa của vấn đề này chúng tôi chọn nội dung nghiên cứu: “Biện pháp

quản lý hoạt động của Trung tâm Hỗ trợ sinh viên - Đại học Quốc gia Hà Nội” làm đề tài luận

văn Đây là công việc thiết thực góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của ĐHQGHN trong giai

đoạn hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm xác đi ̣nh biê ̣n pháp qu ản lý hoạt động của TTHTSV ĐHQGHN

để tăng cường hỗ trợ hiệu quả cho sinh viên trong sinh hoạt, học tập và nghiên cứu khoa học

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận cơ bản liên quan đến công tác quản lý, phục vụ và hỗ trợ

SV

- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý các hoạt động hỗ trợ sinh

viên tại TTHTSV - ĐHQGHN

- Đề xuất giải pháp quản lý các hoạt động hỗ trợ SV góp phần giáo dục toàn diện tại

TTHTSV - ĐHQGHN giai đoạn hiện nay

4 Khách thể và Đối tƣợng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu:

Công tác hỗ trợ sinh viên tại Trung tâm Hỗ trợ sinh viên – Đại học Quốc gia Hà Nội

Comment [c1]: Cần cân nhắc: vì trong chương II

nêu khá kĩ về “hỗ trợ điều kiện sinh hoạt, ăn ở…”

Comment [c2]: Quản lí tổ chức, …

Comment [c3]: Đề xuất…

Trang 3

4.2 Đối tượng nghiên cứu:

Biện pháp quản lý hoạt động hỗ trợ SV tại TTHTSV - ĐHQGHN

5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

TTHTSV có hoạt động đa dạng nhưng luận văn hướng vào nghiên cứu biện pháp quản lý

hoạt động hỗ trợ SV trong sinh hoạt, học tập, nghiên cứu khoa học và phối hợp đào tạo các kỹ

năng

Khảo sát thực trạng từ năm 2008 đến nay

6 Giả thuyết khoa học

Ở TTHTSV các hoạt động hỗ trợ SV chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức, điều này

đã ảnh hưởng đến yêu cầu giáo dục toàn diện cho SV

Nếu nhà lãnh đạo và các nhà quản lý chú trọng đến việc tổ chức và quản lý hoạt động hỗ

trợ sinh viên thì hoạt động này sẽ được triển khai hiệu quả nhờ đó chất lượng đào tạo của

ĐHQGHN chắc chắn sẽ được cải thiện

7 Phương pháp chứng minh giả thuyết

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Gồm phương pháp phân tích, khái quát, hệ thống hóa các tài liệu lý luận liên quan đến

vấn đề quản lý các hoạt động hỗ trợ SV tại TTHTSV Làm cơ sở lý luận cho khảo sát thực trạng

và biện pháp quản lý công tác hỗ trợ SV tại TTHTSV - ĐHQGHN

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra bằng phiếu hỏi đối với SV nội trú và ngoại trú của các trường thành viên trong

ĐHQGHN; ý kiến cán bộ viên chức và giáo viên của các trường, các khoa

- Quan sát: Các hoạt động của SV trong các KTX thuộc TTHTSV - ĐHQGHN

- Tổng kết công tác quản lý các hoạt động hỗ trợ SV tại TTHTSV trong những năm qua

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được

trình bày trong 3 chương vớ i cấu trúc như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý các hoạt động hỗ trợ sinh viên

Chương 2: Thực trạng các hoạt động hỗ trợ sinh viên tại Trung tâm Hỗ trợ sinh viên Đại

học Quốc gia Hà Nội

Chương 3: Một số biện pháp nâng cao chất lượng quản lý các hoạt động hỗ trợ sinh viên

tại Trung tâm Hỗ trợ sinh viên – ĐHQGHN

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ SINH VIÊN 1.1 Sơ lược vấn đề nghiên cứu

Comment [c4]: (Hỗ trợ trong sinh hoạt, học

tập, nghiên cứu, tìm kiếm việc làm, kĩ năng mềm v.v.? – Nên liệt kê rõ

Comment [c5]: Xem lại nhé: hình như số liệu

của Chương II là năm 2008????

Trang 4

1.1.1 Sơ lược vấn đề nghiên cứu tại một số nước trên thế giới

Chúng ta đã biết lịch sử phát triển giáo dục luôn gắn với lịch sử phát triển loài người Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, sự ra đời của hoạt động giáo dục gắn liền với sự ra đời của hoạt động quản lý giáo dục, từ đó xuất hiện trong khoa học về quản lý giáo dục những yếu tố ảnh hưởng như mô hình giáo dục, môi trường giáo dục và các hoạt động hỗ trợ Thế kỷ XIX, loài người ở trong thời kỳ in khắc, môi trường học tập trung chủ yếu là các tài liệu in và các nhà xuất bản truyền thống rất phát triển, môi trường học vẫn có cấu trúc đóng, giáo viên trực tiếp giảng bài và truyền thụ kiến thức, ít tương tác Thế kỷ XX là kỷ nguyên truyền thông, phát thanh, truyền hình, phim ảnh ,… video phát triển, môi trường học tập được hỗ trợ và bổ sung các phương tiện mới Đây là giai đoạn mà giáo dục đào tạo bước đầu sử dụng các biện pháp và công cụ hỗ trợ

Bước sang thế kỳ XXI, cùng với sự phát triển của Internet, thế giới đang chuyển từ quan điểm đánh giá theo mức độ cần mẫn sang đánh giá năng lực, người học có nhu cầu được đào tạo

về các kỹ năng mới như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy phản biện, khả năng cộng tác, năng lực đổi mới sáng tạo,… Vì vậy, hoạt động hỗ trợ ra đời và ngày càng phát triển

Tháng 1 năm 2000, Viện nghiên cứu quản lý giáo dục thuộc Đại học California, Los

Angeles (Higher Education Research Institute University of California, Los Angeles) đã công bố tài liệu nghiên cứu ảnh hưởng của Service Learning đến sinh viên như thế nào (How Service

Learning Affects Students) của 4 tác giả Alexander W Astin, Lori J Vogelgesang, Elaine

K.Ikeda, Jennifer A Yee với nghiên cứu từ năm 1994 và thu thập từ 22.236 sinh viên Một phần của nghiên cứu chỉ ra sự cần thiết tồn tại của một đầu mối hỗ trợ học tập cho SV trong các trường có thể giúp việc phải miễn cưỡng tích hợp các hoạt động hỗ trợ đối với giảng viên

* Mô hình nghiên cứu tại một số nước

Tại Singapore, một Trung tâm Hỗ trợ sinh viên Quốc tế đầu tiên được thành lập vào tháng 10 năm 2005 Đây là nơi tiếp nhận các câu hỏi trực tiếp và cung cấp thông tin tin cậy cho sinh viên quốc tế về học tập và sinh sống ở Singapore Các em có thể tiếp cận dễ dàng với các thông tin liên quan đến các trường và tổ chức giáo dục, các khóa học, lựa chọn nhà ở, các môn thể thao và các họat động giải trí giúp nâng cao cuộc sống toàn diện của SV

Tại Australia, sự quan tâm và hỗ trợ cho sinh viên là một phần quan trọng trong hệ thống

giáo dục Australia Australia là nước dẫn đầu trong việc bảo vệ và hỗ trợ các dịch vụ dành cho

sinh viên Các dịch vụ đặc biệt dành cho sinh viên được cung ứng một cách đầy đủ với chất lượng bảo đảm Các cơ sở giáo dục của Australia rất lưu tâm đến các nhu cầu văn hóa và tôn

giáo

1.1.2 Vấn đề nghiên cứu tại Việt Nam

Trang 5

Để đáp ứng theo yêu cầu phát triển của đất nước trong thế kỷ XXI, ngành giáo dục - đào

tạo có nhiệm vụ đáp ứng nguồn lực con người Chúng ta phải xác định được "Chuẩn con người

Việt Nam thế kỷ XXI" với những định hướng giá trị như: yêu nước, cần cù, nhân ái, có trình độ

văn hóa, chuyên môn nghề nghiệp cao, có lối sống, tác phong công nghiệp, có khả năng hội nhập

quốc tế Xây dựng hệ thống quan điểm, định hướng cho việc tổ chức một nền giáo dục "mở": Đa

dạng hóa loại hình trường, lớp đảm bảo cho mọi công dân đều được học suốt đời

Từ hệ thống quan điểm, định hướng của nền giáo dục, chúng ta lựa chọn những nội dung

và phương pháp đào tạo phù hợp, trong đó xây dựng được một chương trình đào tạo tốt với

những nhóm kiến thức, kỹ năng theo chuẩn đầu ra: Nhóm kiến thức nền tảng; nhóm kiến thức

nghề nghiệp chuyên môn; nhóm kiến thức công cụ và phương pháp để hợp tác, hội nhập và học

tập suốt đời; nhóm kỹ năng sống, … Đây là nhóm các hoạt động cần hỗ trợ cho SV

Tại ĐHQGHN một đại học định hướng nghiên cứu, chất lượng cao ngang tầm khu vực,

tiến tới đạt chuẩn mực quốc tế, giữ vai trò đầu tàu đổi mới của hệ thống giáo dục đại học Việt

Nam Ngoài việc luôn quan tâm đến phương pháp đào tạo, chất lượng đào tạo và sản phẩm đào

tạo để cung cấp nguồn nhân lực cho quá trình phát triển của đất nước thì vị trí và vai trò của công

tác hỗ trợ sinh viên luôn được quan tâm

Với quyết định bổ sung chức năng, nhiệm vụ và đổi tên Trung tâm Nội trú Sinh viên

thành Trung tâm Hỗ trợ sinh viên tháng 1 năm 2009 Đây là bước đột phá của mô hình tổ chức

đầu tiên trong việc hỗ trợ toàn diện cho sinh viên trong các trường đại học ở Việt Nam

Trong thực tế, đã có một số tác giả quan tâm đến vấn đề đời sống, quản lý và giáo dục kỹ

năng cho SV Song biện pháp quản lý hoạt động hỗ trợ SV là chưa đề cập một cách có hệ thống

Đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này tại ĐHQGHN

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Tổ chức

Thuật ngữ “tổ chức” để chỉ tập hợp cán bộ, công nhân viên hay một số người tập hợp lại

với nhau một cách có ý thức nhằm thực hiện những hoạt động hướng tới đạt được một mục tiêu

chung Các thành viên của đơn vị, tổ chức có giới tính khác nhau, tuổi tác khác nhau nhưng cùng

chung một mục đích hoạt động Tổ chứ c được cấu thành bởi các bộ phận được phân công nhiê ̣m

vụ và quan hệ với nhau theo mô ̣t cơ chế vâ ̣n hành gọi là tổ chức bộ máy

Mục đích của tổ chức nhằm phục vụ lợi ích của tập thể và xã hội Trong hoạt động tổ

chức chịu sự lãnh đạo từ một trung tâm theo một quy chế chặt chẽ do Nhà nước ban hành

1.2.2 Quản lý

K Marx viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên

qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân

và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác

với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển

mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”

Comment [c6]: Cần tạo mối liện hệ giữa khái

niệm chung này với khái niệm “trung tâm” như 1 đơn vị chức năng của cơ sở giáo dục đại học

Trang 6

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là các tác

động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý

(người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ

chức” Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến

mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo

(lãnh đạo) và kiểm tra

1.2.3 Sinh viên đại học và sinh viên nội trú

Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp

Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này

của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học Quá trình

học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học

Học sinh sinh viên nội trú là những người đang học tại trường và được trường bố trí ở trong khu nội

trú theo hợp đồng của SV đã ký với Trưởng ban quản lý Khu nội trú trường

1.2.4 Các khái niệm về KTX

Ký túc xá (hay còn gọi là khu nội trú) là những cơ sở thuộc quyền quản lý của trường bao gồm: nhà

ở, nhà ăn, sân chơi, bãi tập, câu lạc bộ và các phương tiện khác để phục vụ học sinh, sinh viên nội trú ăn, ở,

sinh họat, học tập và rèn luyện nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo của trường

1.3 Hoạt động hỗ trợ sinh viên

1.3.1 Hoạt động và hoạt động hỗ trợ

Khái niệm hoạt động hỗ trợ tác giả muốn đề cập đến trong đề tài này là hoạt động của nhiều cá

nhân cùng chung mục đích tạo nên hoạt động tập thể của đơn vị Hoạt động tập thể là hình thức cùng nhau

hoạt động của một nhóm đáp ứng các yêu cầu: Tất cả các thành viên đầu nỗ lực thực hiện mục đích chung

thống nhất của hoạt động Có sự phân công rõ ràng và giữa các thành viên có quan hệ trách nhiệm và phụ

thuộc lẫn nhau Mỗi thành viên của tập thể kiểm tra từng phần của hoạt động

Từ khái niệm hoạt động tập thể là hoạt động có mục đích được thống nhất có kế hoạch, có tổ chức

hướng tới một mục tiêu nào đó có thể coi hoạt động hỗ trợ sinh viên là hoạt động bổ sung vào các hoạt động

khác (hoạt động học tập, hoạt động nghiên cứu…) hướng tới mục đích hỗ trợ thêm, bổ sung thêm theo nhu

cầu của sinh viên nhằm mục tiêu phát triển toàn diện cho sinh viên, tạo điều kiện, môi trường cho sinh viên

phát huy tiềm năng của họ

1.3.2 Hoạt động hỗ trợ được quy định trong quy chế SV nội trú

Tại thông tư số 27/2011/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 6 năm 2011 của Bộ giáo dục và Đào tạo về

việc ban hành quy chế học sinh, sinh viên nội trú tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân,

tại điều 11 ghi rõ các hoạt động hỗ trợ SV nội trú

1.3.3.Chức năng, nhiệm vụ của TTHTSV ĐHQGHN trong hoạt động hỗ trợ SV

Comment [c7]: Có thể tích hợp với phần trên

Comment [c8]: Có các điều khoản bổ sung

của ĐHQG không?

Trang 7

TTHTSV là đơn vị thực hiện công tác quản lý, phục vụ học sinh - sinh viên (SV) nội trú; tổ chức và

phối hợp tổ chức các hoạt động: Tư vấn, hướng nghiệp, đào tạo và bồi dưỡng các kỹ năng cần thiết cho SV;

tổ chức cung cấp các dịch vụ nâng cao đời sống và hỗ trợ học tập, nghiên cứu khoa học cho SV

1.3.4 Các chức năng quản lý trong các hoạt động hỗ trợ SV ở Đại học Quốc gia Hà Nội

+ Xác định mục tiêu của công tác hỗ trợ SV là những nội dung nào Các nguồn lực đảm bảo rằng

có thể đạt được các mục tiêu đề ra của công tác hỗ trợ SV Sắp xếp các nguồn lực tập trung cho từng giai

đoạn để đạt được mục tiêu là hỗ trợ SV hiệu quả nhất

+ Tổ chức có hiệu quả công tác quản lý và phối hợp nguồn lực, vật lực trong hoạt động hỗ trợ sinh

viên (các đơn vị thành viên trong đại học Quốc gia, chính quyền địa phương và các đơn vị phối hợp, )

Hình thành quy trình triển khai bao gồm việc sắp xếp nhân sự cho từng bước thực hiện để đạt được hiệu quả

cao nhất trong công tác hỗ trợ SV (nhân sự kiêm nhiệm, tuyển mới hoặc cộng tác, )

+ Việc chỉ đạo giám sát là quá trình liên kết, tập hợp giữa các thành viên trong tổ chức, động viên

khuyến khích họ hoàn thành những nhiệm vụ về công tác hỗ trợ SV một cách trách nhiệm, hiệu quả trên cở

sở chuẩn mực của kế hoạch và mục tiêu đề ra

1.4.5 Nội dung quản lý hoạt động hỗ trợ SV của TTHTSV

Tập trung vào 2 nhóm vấn đề sau:

(1) Nhóm các hoạt động dịch vụ, phục vụ và hỗ trợ nằm trong chức năng nhiệm vụ của các KTX thuộc

TTHTSV

(2) Nhóm các hoạt động phối hợp hỗ trợ đào tạo kỹ năng và tư vấn theo nhu cầu của SV ĐHQGHN

Từ kế hoạch triển khai theo giai đoạn và theo từng năm học, công tác tổ chức các hoạt động được

thực hiện hiệu quả bằng cách phối hợp nguồn lực, vật lực trong hoạt động hỗ trợ SV bao gồm việc sắp xếp

nhân sự cho từng bước thực hiện để đạt được hiệu quả cao nhất tại 2 KTX trong trung tâm tập trung vào 2

nhóm nhiệm vụ chính

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý các hoạt động hỗ trợ SV

1.4.1 Mục tiêu của giáo dục Đại học

Đây chính là yếu tố đầu tiên có tính định hướng cho các hoạt động hỗ trợ SV trong các trường Đại

học Nếu không bám sát mục tiêu giáo dục và không xác định được yêu cầu của công tác hỗ trợ sẽ không

đạt hiệu quả

Vì vậy, công tác hỗ trợ nhằm thực hiện cụ thể mục tiêu: “ Nâng cao chất lượng giáo dục toàn

diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng

lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội ”

1.4.2 Nhận thức của lực lực lượng tham gia

Nhận thức của các lực lượng tham gia quản lý các hoạt động hỗ trợ cho SV được đánh giá bởi các

vấn đề: Nhận thức của lãnh đạo, CBQL, GV về sự cần thiết của công tác hỗ trợ SV; SV hiểu thế nào về

công tác hỗ trợ; ý nghĩa, vai trò của công tác hỗ trợ SV trong giai đoạn hiện nay; vai trò của các tổ chức

Đoàn thanh niên, Hội sinh viên các trường; Vai trò trách nhiệm của gia đình và xã hội

1.4.3 Đặc điểm của Đại học Quốc gia Hà Nội

Comment [c9]: Trước khi nói về chức năng

quản lí, cần liệt kê và bình luận các hoạt động

hỗ trợ hiện nay >>> Đưa 1.3.5 lên đây

Trang 8

Là đại học có vị trí đặc biệt trong hệ thống giáo dục Đại học của Việt Nam về đào tạo khoa học cơ bản gồm khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, ĐHQGHN gồm nhiều trường thành viên với đa ngành, đa lĩnh vực

Sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài; sáng tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đỉnh cao; đóng vai trò nòng cột và đầu tầu đổi mới trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam

1.4.4 Đặc điểm của sinh viên

SV những người có hoạt động chủ đạo là học tập, rèn luyện kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp Đặc điểm tâm lý quan trọng của SV là sự phát triển tự ý thức Vì vậy, SV có những hiểu biết, thái

độ, khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển phù hợp với xu thế của xã hội Nổi bật

là tình cảm nghề nghiệp, học tập chăm chỉ, sáng tạo, đam mê khi đã lựa chọn Hoạt động hỗ trợ rất cần thiết

để sinh viên theo đuổi đam mê, hoài bão nghề nghiệp của họ

Kết luận chương 1

Để nghiên cứu thực tiễn biện pháp quản lý hoạt động hỗ trợ của Trung tâm Hỗ trợ sinh viên, đề tài

đã xác định các vấn đề lý luận cơ bản và sử dụng một số khái niệm sau:

- Tổ chức: Tổ chức để chỉ tập hợp cán bộ, công nhân viên hay một số người tập hợp lại với nhau một cách có ý thức nhằm thực hiện những hoạt động hướng tới đạt được một mục tiêu chung

- Quản lý: Hoạt động quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý

(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành

và đạt được mục đích của tổ chức

- Hoạt động và hoạt động hỗ trợ: Hoạt động hỗ trợ sinh viên là hoạt động bổ sung vào các hoạt

động khác (hoạt động học tập, hoạt động nghiên cứu…) hướng tới mục đích hỗ trợ thêm, bổ sung thêm theo nhu cầu của sinh viên nhằm mục tiêu phát triển toàn diện cho sinh viên, tạo điều kiện, môi trường cho sinh viên phát huy tiềm năng của họ

- Biện pháp quản lý hoạt động hỗ trợ sinh viên: Là các biện pháp quản lý có mục tiêu, có kế hoạch

trong đó tất cả các thành viên của tổ chức đều thống nhất thực hiện kế hoạch và mục tiêu đề ra, trên cơ sở phân công rõ ràng trách nhiệm và nghĩa vụ các thành viên

- Những yếu tố ảnh hưởng tới các hoạt động hỗ trợ SV: Đây chính là yếu tố có tính định hướng

cho các hoạt động hỗ trợ SV trong các trường đại học bao gồm: Nhận thức của các lực lượng tham gia quản

lý các hoạt động hỗ trợ cho SV Đặc điểm của đơn vị đào tạo Đặc điểm của sinh viên là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động hỗ trợ SV

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ SINH VIÊN

TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ SINH VIÊN - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

2.1 Vài nét về Đại học Quốc gia Hà Nội

2.1.1 Giới thiệu chung

2.1.2 Sứ mệnh, tầm nhìn và giá trị cốt lõi của Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 9

2.1.3 Tổ chức bộ máy

2.2 Giới thiệu cơ cấu tổ chức của Trung tâm Hỗ trợ sinh viên

2.2.1 Chức năng nhiệm vụ của các Phòng, Ban chức năng và các đơn vị trực thuộc TTHTSV

2.2.2 Cơ cấu tổ chức và nhân sự

2.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của các Phòng, Ban

2.3 Khảo sát thực trạng quản lý và đánh giá các hoạt động hỗ trợ SV ở ĐHQGHN

Để có số liệu phân tích và đánh giá tổng thể các hoạt động, chúng tôi tiến hành xây dựng các phiếu điều tra về các nội dung hoạt động trong chức năng nhiệm vụ được ĐHQGHN giao theo 2 nhóm:

* Nhóm các hoạt động dịch vụ, phục vụ và hỗ trợ nằm trong chức năng nhiệm vụ của các KTX thuộc TTHTSV

* Nhóm các hoạt động phối hợp hỗ trợ đào tạo kỹ năng và tư vấn theo nhu cầu của SV ĐHQGHN

Bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trên cơ sở đã xác định cơ cấu mẫu cho các khách thể khác nhau, chúng tôi tiến hành điều tra trên số lượng là 800 SV (50% là SV nội trú, 50% là SV ngoại trú ), trong đó có

322 sinh viên nam (chiếm 40.25%) và 478 sinh viên nữ (59.75%); 350 sinh viên năm thứ 2 (43.75%); 390 sinh viên năm thứ 3 (48.75%), sinh viên năm thứ nhất và sinh viên năm cuối là 60 em (7.05%); 157 sinh viên trường Đại học Khoa học Tự Nhiên (19.63%), 162 sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (20.25%),

116 sinh viên trường Đại học Công Nghệ (14.50%), 120 sinh viên trường Đại học Kinh tế (15.00%), 88 sinh viên Khoa Luật (11.00%), 157 sinh viên trường Đại học Ngoại Ngữ (19.63%)

Trên cở sở đó, chúng ta sẽ có thực trạng kết quả đánh giá của SV về mỗi nhóm hoạt động Đây là minh chứng khoa học để có giải pháp tốt nhất hỗ trợ SV nhằm giáo dục toàn diện cho SV của ĐHQGHN

2.3.1 Khảo sát thực trạng và đánh giá nhóm các hoạt động dịch vụ, phục vụ và hỗ trợ nằm trong chức năng nhiệm vụ của các KTX thuộc TTHTSV

Trong những năm gần đây, TTHTSV - ĐHQGHN đã tập trung nhiều nguồn lực để cải tạo, nâng cấp các khu KTX và tổ chức cung cấp các dịch vụ theo nhu cầu của SV Đây là những vấn đề tập trung chủ yếu về chỗ ăn - ở, tiện nghi sinh hoạt và môi trường tự học Chúng tôi tiến hành điều tra với số lượng 400

phiếu (trên tổng số 800 phiếu của cả đợt điều tra đối với cả SV nội trú và ngoại trú) được phát ngẫu nhiên đến từng cá nhân SV trong các tập thể phòng trong 2 Ktx (Ký túc xá Mễ trì và Ký túc xá Ngoại ngữ) thuộc TTHTSV

Kết quả được tổng hợp theo dạng bảng, phần phân tích, đánh giá dựa trên tần suất và được chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với mỗi mục

- So với các khu KTX cho SV của các trường đại học, cao đẳng tại khu vực phía Bắc, 2 khu KTX

Mễ trì và Ngoại ngữ thuộc TTHTSV ĐHQG HN luôn được đánh giá cao trong việc tiên phong trong việc tăng cường chất lượng sống và học tập cho SV nội trú thông qua việc đầu tư thêm nhiều các thiết bị cần thiết tại mỗi phòng ở của SV

- Thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên, người phục vụ tại các KTX luôn là một nhân tố quan trọng góp phần tạo ra không gian văn hoá đặc trưng tại các khu nội trú SV Trong nghiên cứu này, để đánh giá chất lượng công tác quản lý, phục vụ của đội ngũ cán bộ, nhân viên cũng như những người

Trang 10

làm dịch vụ tại 2 KTX Mễ trì và Ngoại ngữ, chúng tôi lấy ý kiến đóng góp của SV một cách đầy đủ về công tác phục vụ của nhóm đối tượng này

Các dịch vụ tín dụng, ngân hàng, bưu điện là các loại hình dịch vụ đặc biệt, rất cần thiết đối với SV trong giai đoạn hiện nay, những tiện ích cho học tập như có giá sách riêng hay có mạng Internet không dây, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, bình nóng lạnh, nước uống tinh khiết đều là những vật dụng rất cần thiết cho sinh hoạt của SV Ngoài ra, các đánh giá chung có mức độ tán thành là khá tốt về công tác quản lý, điều hành

2.3.2 Nhận xét chung về kết quả khảo sát thực trạng và đánh giá nhóm các hoạt động dịch vụ, phục vụ

và hỗ trợ nằm trong chức năng nhiệm vụ của các KTX thuộc TTHTSV

SV tạm hài lòng với các điều kiện CSVC hiện tại Tuy nhiên nếu được cải tạo lại phòng ở, khu vực

vệ sinh, khu vực tắm giặt cần được cải tạo rộng rãi và thoáng đãng hơn Đặc biệt là dịch vụ trông giữ xe đạp,

xe máy, dịch vụ giải khát và ăn uống cần phải nâng cao chất lượng

Biện pháp quản lý còn thiếu linh hoạt và chưa đa dạng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của SV trong giai đoạn hiện nay SV có nhu cầu cao đối với các loại dịch vụ nâng cao chất lượng cuộc sống, sinh hoạt và học tập, giải trí

2.3.3 Khảo sát thực trạng triển khai và đánh giá nhóm các hoạt động phối hợp hỗ trợ đào tạo kỹ năng

và tư vấn theo nhu cầu của SV ĐHQGHN

Đây là nhóm các hoạt động nằm trong chức năng nhiệm vụ mới của TTHTSV Với mục đích khảo sát nhu cầu bổ sung vốn sống, tri thức xã hội và một số kỹ năng mềm Chúng tôi đã khảo sát một số nội dung nhằm có những thông tin cho việc lựa chọn bổ sung một số hoạt động hỗ trợ cho số đông SV có nhu cầu Cụ thể như sau:

- Các ý kiến của SV là tương đối thẳng thắn khi đánh giá về các mặt hoạt động của ĐHQG, trong

đó SV chưa thật hài lòng với nhiều hoạt động, như các hoạt động hỗ trợ học tập, nghiên cứu khoa học, thực thành, thực tập chuyên môn, hoạt động của các phòng ban chức năng, cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu văn hoá tinh thần của SV

- SV rất có nhu cầu tham gia các khóa đào tạo kỹ năng mềm Nhưng trên thực tế chúng ta chưa có

nhiều lớp đào tạo kỹ năng mềm đáp ứng nhu cầu của SV Vậy nên việc tăng cường mở rộng các khoá đào tạo, dạy kỹ năng mềm hiện nay rất cần thiết cho SV

- Đối với nhóm các kỹ năng sống, nhu cầu của các em SV cũng phân hoá khá rõ Các em SV có

nhu cầu cao được đào tạo bổ sung các kỹ năng liên quan trực tiếp tới việc thực hiện các mối quan hệ nghề nghiệp sau này như kỹ năng thuyết trình, 40,5% SV có nhu cầu theo học; kỹ năng tổ chức và quản lý công việc, có 39,5% SV có nhu cầu; kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ có 51,2% SV có nhu cầu; kỹ năng thực hành nghề nghiệp, có 45% SV có nhu cầu và kỹ năng nghiên cứu có 41% có nhu cầu

Các điều kiện được SV cho là quan trọng và khá quan trọng nổi bật là: Nội dung học phù hợp : 72,1%, kinh phí học phù hợp: 71,3%, giảng viên có kinh nghiệm: 70%

Trang 11

2.3.4 Nhận xét chung về kết quả khảo sát thực trạng triển khai và đánh giá nhóm các hoạt động

phối hợp hỗ trợ đào tạo kỹ năng và tư vấn theo nhu cầu của SV Đại học Quốc gia Hà Nội

Với các nhóm kỹ năng khác như giao tiếp ứng xử, thuyết trình hay làm việc nhóm được phản ánh

với tỷ lệ khá cao với việc SV không tự tin khi trình bày một ý tưởng với các nhà quản lý hoặc đối tác

Ngoài ra, hoạt động hỗ trợ được đánh giá với 60,7% ý kiến cho rằng hoạt động này là chưa tốt Về

nhu cầu bổ sung thêm kiến thức và kỹ năng thì có đến 82,6% SV sẵn sàng tham gia các khoá tập huấn, chỉ

có một số ít là chưa có nhu cầu này

2.4 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động hỗ trợ SV tại TTHTSV

- Từ viê ̣c phân tích kết quả điều tra và khảo sát thực tiễn thông qua các bảng điều tra, cũng như quá

trình xây dựng kế hoạch cho 2 mảng công việc nằm trong chức năng nhiệm vụ của TTHTSV và kết quả

triển khai dự án đào tạo kỹ năng mềm bắt buộc đối với sinh viên thuộc hệ đào tạo đặc biệt (chất lượng cao,

tài năng, chương trình tiên tiến, trình độ quốc tế) bắt đầu thực hiện từ năm học 2009 - 2010 và năm học

2010 – 2011 được trình bày cụ thể ở các mục dưới đây

2.4.1 Điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi và khó khăn đối với hoạt động cung cấp dịch vụ, phục vụ và hỗ

trợ SV

2.4.1.1 Điểm mạnh

Các dự án cung cấp dịch vụ theo nhu cầu đã được khẳng định bằng sự hài lòng của SV thông qua

chất lượng và dịch vụ, các đơn vị có cùng chức năng đã đến học tập kinh nghiệm, các đơn vị truyền thông

đã vào tìm hiểu và đưa tin

2.4.1.2 Điểm yếu

- Vì là đơn vị đầu thí điểm trong cung cấp dịch vụ phục vụ SV quy mô còn nhỏ lẻ, phạm vị còn hạn

hẹp và việc xây dựng kế hoạch chưa tổng quát nên trong quá trình vận hành còn những bất cập nhất định

2.4.1.3 Thuận lợi

- Cung cấp dịch vụ phục vụ theo nhu cầu của SV đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của lãnh đạo các cấp,

sự đồng thuận của các trường thành viên, các khoa trực thuộc Bởi mục tiêu của nó là nâng cao chất lượng các dịch

vụ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của ĐHQGHN, đồng thời nâng cao đời sống và thu nhập của cán bộ viên

chức thuộc TTHTSV

2.4.1.4 Khó khăn

Việc cung cấp dịch vụ theo hướng xã hội hoá cần thiết phải có sự đầu tư đồng bộ hơn trong đó có

hạ tầng kỹ thuật (điện, nước, các trang thiết bị khác, ) và chính sách xã hội hoá của nhà nước nói chung và

đơn vị chủ quản nói riêng cũng như phương pháp quản lý và khai thác các dịch vụ xã hội hoá

2.4.2 Điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi và khó khăn cu ̉ a viê ̣c ph ối hợp tổ chức đào tạo kỹ năng và tư vấn

theo nhu cầu của SV Đại học Quốc gia Hà Nội

2.4.2.1 Điểm mạnh

Việc tổ chức điều tra nhu cầu của SV ĐHQGHN là nội dung quan trọng trong việc khảo

sát và đánh giá thực trạng việc trang bị những kỹ năng và kiến thức của SV Trên cơ sở đó lãnh

Comment [U10]:

Trang 12

đạo TTHTSV đã đề nghị Giám đốc ĐHQGHN ban hành trong quy chế đào tạo ở ĐHQGHN với chương trình đào tạo đối với sinh viên chất lượng cao và các hệ đào tạo đặc biệt bắt buộc phải hoàn thành 5 kỹ năng cần thiết

2.4.2.2 Điểm yếu

Thực tế triển khai mảng công tác này tại TTHTSV trong thời gian vừa qua hiệu quả chưa cao và chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của SV do những nguyên nhân cơ bản như: Công tác lập kế hoạch chưa cụ thể, rõ ràng, sự đồng thuận cao từ phía các đơn vị đào tạo và các đơn vị liên quan trong việc phối hợp tổ chức chưa thống nhất cao

2.4.2.3 Thuận lợi

Những kiến thức kỹ năng mà SV thấy thiếu hụt đều được SV ý thức một cách đầy đủ, mong muốn được bổ sung bao gồm các kỹ năng như: Kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tổ chức công việc và quản lý thời gian, Kỹ năng nghiên cứu; Kỹ năng thuyết trình, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp ứng xử

2.4.2.4 Khó khăn

Nguồn nhân lực của trung tâm hiện tại chưa đáp được yêu cầu của công tác hỗ trợ SV trong giai đoạn hiện nay Kinh phí bổ sung cho việc thực hiện chức năng - nhiệm vụ mới chưa được đầu tư Sự phối hợp trong thực hiện công tác hỗ trợ giữa các đơn vị thành viên trong chưa đồng bộ

2.4.3 Đánh giá kết quả dự án đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên chất lượng cao của ĐHQGHN

Chủ trương đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên thực sự đã tạo ra sự hứng khởi của sinh viên, các em ngoài việc được trang bị kiến thức trong nhà trường giờ được học tập những kỹ năng làm việc, quản lý bản thân, thời gian

Vì vậy, hoạt động đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên cần được tiếp tục triển khai, duy trì

và mở rộng hình thức và đối tượng học tập Tuy nhiên, hình thức đào tạo phải là học trực tiếp không học Elearning Bởi vì học theo hình thức này chỉ là kiến thức về kỹ năng

Kết luận chương 2

Qua nghiên cứu tài liệu, điều tra, khảo sát, phỏng vấn và xử lý số liệu điều tra đối tượng

là SV và cán bộ viên chức có tham gia vào các hoạt động hỗ trợ SV, tác giả nhận thấy: Nhu cầu

của công tác hỗ trợ là rất rộng về nội dung và đa dạng về đối tượng (cả SV nội trú và ngoại trú)

nhưng chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức nên chưa thực sự có những đóng góp đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho SV của ĐHQGHN

Nguyên nhân do các giải pháp đưa ra còn thiếu tính đồng bộ, công tác lập kế hoạch và phối hợp chưa nhận được sự đồng thuận từ phía các đơn vị thành viên của ĐHQGHN Trong đó phải kể đến kết quả khảo sát về những thiết hụt liên quan đến kỹ năng mềm và các hoạt động hỗ trợ cũng như môi trường học tập và nghiên cứu khoa học có liên quan đến các đơn vị đào tạo Nhận thức của một bộ phận không nhỏ cán bộ viên chức còn hạn chế đối với mảng hoạt động phối hợp hỗ trợ đào tạo kỹ năng và tư vấn theo nhu cầu

Ngày đăng: 08/02/2014, 12:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w