Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông ngoài công lập thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay Lê Việt Dương Trường Đại học Giáo dục Luận văn ThS ngành: Lí l
Trang 1Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông ngoài công lập thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay
Lê Việt Dương
Trường Đại học Giáo dục Luận văn ThS ngành: Lí luận và phương pháp dạy học; Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Hệ thống các cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung
học phổ thông ngoài công lập Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội Đề xuất các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay
Keywords: Quản lý giáo dục; Trung học phổ thông; Quản lý giáo viên; Hà Nội
Content
1 Lý do chọn đề tài
Công tác xã hội hoá giáo dục đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và định hướng phát triển ngay từ khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới Điều đó được thể hiện bằng việc hình thành và phát triển của loại hình các trường ngoài công lập từ những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20 Từ đó cho đến nay hệ thống các trường ngoài công lập đã phát triển một cách mạnh mẽ về số lượng và có nhiều đơn vị đã khẳng định được vị trí của mình trong ngành giáo dục và xã hội
Hà Nội là một trong những địa phương đi đầu trong việc đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và đào tạo, với riêng cấp Trung học phổ thông đến nay đã có 102 trường ngoài công lập
và hiện đang hoạt động là 92 trường Trong đó có nhiều trường đã khẳng định được vị trí của mình như: Trường THPT Nguyễn Siêu; Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm; Trường THPT Lômônôxôp…Một trong những yếu tố tạo nên thành công này đó là đội ngũ giáo viên đủ về
Trang 2số lượng, tỉ lệ, cơ cấu, đảm bảo về chuyên môn nghiệp vụ và có trách nhiệm nghề nghiệp Tuy vậy vẫn còn một số không ít các trường chưa khẳng định được vị trí của mình, một trong những nguyên nhân dẫn đến điều này là đội ngũ giáo viên không ổn định về số lượng;
tỉ lệ cơ hữu, chuyên môn nghiệp vụ sư phạm còn bất cập, chất lượng giảng dạy chưa hiệu quả
Đứng về góc độ quản lý với các quy định hiện hành, các cơ quan quản lý có các căn
cứ để chỉ đạo, giám sát, kiểm tra và đánh giá việc bảo đảm các điều kiện hoạt động của các trường ngoài công lập Tuy vậy các nhà trường, trong quá trình hoạt động và phát triển để giải quyết những khó khăn trước mắt thường duy trì các điều kiện ở mức độ tối thiểu, trong
đó có điều kiện về đội ngũ giáo viên Với đặc thù về đội ngũ giáo viên các trường ngoài công lập là tính ràng buộc không cao như các trường công lập nên tạo ra sự thiếu ổn định về đội ngũ
Việc quản lý các trường ngoài công lập cũng đã có nhiều bài báo đề cập, trong quản lý cũng đã có một số đề án, đề tài xem xét đến công tác xã hội hoá trong đó đã đề cập đến công tác quản lý đội ngũ giáo viên Nhưng với bối cảnh hiện nay khi có sự phát triển mạnh mẽ về
số lượng; mô hình các trường Trung học phổ thông ngoài công lập, đồng thời yêu cầu đặt ra của xã hội với loại hình ngoài công lập ngày càng cao nên cần có các biện pháp quản lý phù
hợp để công tác quản lý hiệu quả hơn Điều đó đã thôi thúc tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản
lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay” nhằm quản lý được về số lượng giáo viên, tỉ lệ giáo viên cơ hữu;
thỉnh giảng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm và chất lượng giảng dạy của giáo viên góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Hà Nội của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục Thủ đô trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội
Trang 3- Đối tượng nghiên cứu: Đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Hà Nội thường xuyên có sự biến động về số lượng, tỉ lệ giáo viên cơ hữu, trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm, chất lượng lên lớp của các giáo viên còn nhiều bất cập Đồng thời với chính sách đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục của Nhà nước và Thành phố Hà Nội, trong thời gian tới mạng lưới các trường ngoài công lập nói chung và các trường Trung học phổ thông ngoài công lập nói riêng sẽ có những bước phát triển mạnh mẽ về nhiều khía cạnh:
Số lượng, năng lực đầu tư, định hướng phát triển, mô hình hoạt động… Vậy để quản lý một cách có hiệu quả đối với đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập,
Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội cần có các biện pháp phù hợp với tình hình hiện nay và trong thời gian tới Góp phần từng bước nâng cao chất lượng giáo dục của các trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống được các cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội
- Đề xuất các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông
ngoài công lập thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung:
Đề tài tập trung khảo sát, nghiên cứu thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội
- Giới hạn về đơn vị khảo sát:
Đề tài chỉ đề cập đến công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
- Thời gian nghiên cứu:
Trang 4Từ năm học 2009 đến 2011
7 Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết;
- Các phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến
đề tài qua sách báo, mạng Internet và tài liệu tham khảo;
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra phiếu hỏi; Các thuật toán để xử lý số liệu; Phương pháp phỏng vấn, xin ý kiến các chuyên gia
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đóng góp cho việc hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến QL cấp Sở GD&ĐT
Đề tài đóng góp một hệ thống các biện pháp cho việc quản lý đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông ngoài công lập thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay, đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo cho tỉnh/thành khác có hoạt động giáo dục ngoài công lập cấp trung học phổ thông
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung Luận văn dự kiến trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông ngoài công lập
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập Thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay
Chương 3: Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về sự quản lý đội ngũ giáo viên được triển khai ở nhiều cấp độ khác nhau đặc biệt dưới góc độ quản lý giáo dục:
Trang 5- Các nghiên cứu về vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên cần tập trung vào hai phần chính: nghiên cứu quản lý đội ngũ giáo viên theo cấp học ngành học; nghiên cứu quản lý đội ngũ giáo viên cho từng loại hình công lập, NCL (Dân lập, Tư thục)
- Việc nghiên cứu quản lý đội ngũ giáo viên THPT NCL hầu như chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ có hệ thống
Bởi vậy trong đề tài "Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ
thông ngoài công lập thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay" chúng tôi muốn đi sâu
vào công tác QL đội ngũ giáo viên ngoài công lập ở thành phố Hà Nội và từ đó đề ra một số biện pháp QL nhằm nâng cao chất lượng trong các hoạt động giáo dục của các trường THPT NCL thành phố Hà Nội nhằm góp phần trong sự phát triển chung của ngành giáo dục Thủ
đô Qua đây có thể có những điều áp dụng cho các địa phương khác có hoạt động giáo dục ngoài công lập cấp trung học phổ thông
1.2 Một số khái niệm
1.2.1 Đội ngũ, đội ngũ giáo viên
1.2.1.1 Đội ngũ
Trong từ điển Tiếng Việt đội ngũ được định nghĩa: "Đội ngũ là tập hợp một số đông
người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng"
Trong lĩnh vực giáo dục, thuật ngữ đội ngũ được dùng để chỉ những tập hợp người được phân biệt với nhau về chức năng trong hệ thống giáo dục, chẳng hạn như: đội ngũ giáo viên, đội ngũ cán bộ quản lý trường học…
1.1.2.2.Đội ngũ giáo viên
Từ điển giáo dục học đã đưa ra định nghĩa: "Đội ngũ giáo viên là tập họp những người
đảm nhận công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo đức chuyên môn và nghiệp vụ quy định"
Trong thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm đội ngũ giáo viên, bởi vậy có thể hiểu về đội ngũ giáo viên như sau: Đội ngũ giáo viên là tập hợp những người làm công tác giáo dục và dạy học ở một trường học hay một cấp học, ngành học nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tổ chức đó
1.2.2 Quản lý, quản lý đội ngũ giáo viên, biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên
1.2.2.1 Quản lý
Trang 6Theo GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí định nghĩa về quản lý là:
“Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức
năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”
Trong thực tế thì quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền Biểu hiện cụ thể qua việc, lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát Hướng được
sự chú ý của mọi người vào một hoạt động nào đó; điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận Như vậy quản lý phải là một quá trình hoạt động có các bước thực hiện mà có thể coi là không thể thay đổi
1.2.2.2 Quản lý đội ngũ giáo viên
Quản lý đội ngũ giáo viên nghĩa là định hướng, kiểm soát, điều tiết và phối hợp các hoạt động giáo viên trong hoạt động giáo dục tại các cơ sở giáo dục nhằm đảm bảo các tiêu chí giáo dục của đơn vị, các nhiệm vụ đặt ra của đơn vị; ngành giáo dục địa phương và hơn hết đó là thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của người giáo viên được xã hội giao phó
Muốn được như vậy, cơ quan quản lý phải đảm bảo các nguyên tắc về quản lý đối với đội ngũ giáo viên: Lập kế hoạch về việc đảm bảo đội ngũ giáo viên - Tổ chức thực hiện công tác đảm bảo đội ngũ giáo viên – Chỉ đạo các bộ phận, đơn vị triển khai tốt và hiệu quả về đội ngũ giáo viên - Thường xuyên tổ chức kiểm tra việc thực hiện các quy định về đội ngũ giáo viên
1.2.2.3 Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên
Trước hết cần phải hiểu biện pháp là gì? Đó chính là cách làm cách giải quyết một vấn đề nào đó một cách cụ thể Trong giáo dục biện pháp thường quan niệm là yếu tố hợp thành của các phương pháp phụ thuộc vào phương pháp nhưng trong tình huống cụ thể phương pháp và biện pháp có thể chuyển hóa lẫn nhau Các biện pháp được xây dựng trên cơ
sở tính kế thừa, tính phù hợp, tính khả thi, tính thực tiễn và tính hiệu quả Quản lý đội ngũ giáo viên được thực hiện thông qua các biện pháp của các nhà quản lý đối với đội ngũ giáo viên sao cho sự tác động đó tạo ra sự thay đổi về đội ngũ giáo viên theo hướng đảm bảo đủ
về số lượng, đảm bảo về chất lượng và cân đối về cơ cấu đảm bảo yêu cầu của hoạt động giáo dục và các quy định hiện nay
1.3 Lý luận về phát triển nguồn nhân lực
1.3.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Trang 7Khi nghiên cứu về quản lý nhân sự trong giáo dục, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho
rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa
phương, tức là nguồn lao động có kỹ năng được chuẩn bị sẵn sàng tham gia một công việc nào đó trong cơ cấu lao động của xã hội”
Khi nghiên cứu về Phát triển nguồn nhân lực và các chỉ số phát triển con người PGS.TS Đặng Quốc Bảo đã khẳng định: Khái niệm nguồn nhân lực ra đời vào thập niên 80 muộn hơn một chút so với khái niệm vốn người khái niệm vốn người thể hiện ở nhân cách -
sức lao động: trong mỗi con người, nhấn mạnh đến giá trị kinh tế mang lại lợi ích từ nhân tố
con người việc quản lý nhân tố này phải nhìn và tương quan với vốn vật chất, định lượng được hiệu quả và đem lại lợi ích đích thực (vốn sinh lời) Khái niệm "nguồn nhân lực” nhấn
mạnh sự cần thiết đáp ứng nhu cầu toàn diện của con người nuôi dưỡng nhân tố này trở thành
động lực chủ yếu cho quá trình phát triển
Tóm lại việc làm rõ bản chất và vai trò bổ sung tương hỗ khái niệm nguồn nhân lực và vốn người, là cơ sở cho các nhà quản lý nhận thức và đưa ra các biện pháp đúng đắn để việc quản lý nhân tố con người nhằm đạt được sự hài hòa giữa hai khía cạnh: Con người vừa là mục tiêu vừa là sức mạnh của sự phát triển, đồng thời quản lý nhằm đạt được sự đồng thuận và kỷ cương
- Dưới góc độ giáo dục: tập trung vào công tác giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng
- Dưới góc độ chính trị xã hội: Tập trung vào việc đưa ra các chính sách đảm bảo quyền tự do dân chủ sự an ninh đối với đời sống của con người, sức khỏe của con người giữ gìn môi trường sống tự nhiên trong lành, đảm bảo bình đẳng giới, bình đẳng dân tộc
Thực tế cho thấy, ở Việt Nam, "nguồn nhân lực" được đánh giá là có tiềm năng phát triển, nhưng nguồn lực này chưa đủ mạnh để cạnh tranh trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu Vì vậy, nghị quyết đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã nhấn mạnh: "Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng nhất để
Trang 8thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững"
1.3.2.2 Cấp độ vi mô
Với bất kỳ tổ chức cơ quan hay một nhà trường nào, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về
vấn đề giáo dục thì quản lý nguồn nhân lực được thực hiện thông qua các khâu:
- Kế hoạch hóa nguồn nhân lực (quy hoạch)
- Tuyển mộ
- Chọn lựa
- Xã hội hóa/ định hướng
- Huấn luyện và phát triển
- Thẩm định kết quả hoạt động
- Đề bạt thuyên chuyển giáng cấp và sa thải
1.3.3 Tư tưởng chỉ đạo về quản lý nguồn nhân lực
Từ những phân tích trên, cho thấy vấn đề quản lý nguồn nhân lực cho dù ở cấp độ vĩ
mô hay tổ chức chỉ thực sự hiệu quả khi chúng ta có nhưng chính sách tư tưởng chỉ đạo về phát triển nguồn nhân lực một cách đúng đắn, có thể coi đây là kim chỉ nam cho quản lý nguồn nhân lực Các tư tưởng chỉ đạo bao gồm:
1 Lấy phát triển bền vữmg con người là tư tưởng trung tâm;
Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo con người là "nguyên khí của mỗi quốc gia”, con người cần được "quản lý chăm sóc và phát triển từ thai nhi, tuổi ấu thơ, tuổi vị thành niên,
tuổi lao động và cả thời kỳ sau lao động" Phát triển con người không chỉ nhấn mạnh đến
phát triển thể lực, phát triển trí lực, mà nhấn mạnh phát triển toàn diện con người "thể lực, trí
lực, tâm lực, thái độ sống, thái độ lao động"
Theo khuyến cáo của UNDP, bộ ba nhân tố: giáo dục - kinh tế - y tế có vai trò chủ yếu trong việc nâng cao năng lực con người, sự đóng góp của con người vào quá trình phát triển trong đó giáo dục được eo là nhân tố quyết định vì sản phẩm của giáo dục chính là những con người có tri thức, có phẩm chất và kỹ năng sống có năng lực làm việc … và những con người đó là:
2 Mỗi con người là một cá nhân độc lập làm chủ quá trình lao động của mình
Trang 93 Nguyên tắc cơ bản của quản lý lao động là lợi ích người lao động Lợi ích đó phải hài hòa với lợi ích của cộng đông, của xã hội
4 Tiến hành giao lưu đồng thuận trong môi trường dân chủ được đảm bảo thuận lợi
5 Có các chính sách giải phóng và phát huy tiềm năng của người lao động đảm bảo hiệu quả công việc
6 Bám sát thị trường lao động Đó là mấu chốt để xây dựng các chính sách phát triển GD-ĐT đúng đắn
7 Chính sách sử dụng nguồn nhân lực như tuyển dụng tuyển chọn, chính sách lao động phân công lao động phân bổ nhân lực chính sách cán bộ tiền lương khen thưởng phải đồng bộ
8 Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải luôn tạo ra động lực nhằm kích thích người tham gia lao động, động viên họ tích cực năng động, có thiện chí để sáng tạo
1.4 Những đặc điểm về quản lý đội ngũ giáo viên THPT NCL
1.4.1 Trường NCL trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trường NCL có thể được hiểu là: Các cơ sở giáo dục Nhà nước không đầu tư và quản
lý toàn diện về cơ sở vật chất, kinh phí, nhân lực mà nguồn này do các tổ chức và cá nhân xin mở trường tự huy động
Luật giáo dục năm 1998 cũng đã nêu ra về trường NCL gồm 3 loại hình: Bán công –
Dân lập – Tư thục Khái niệm Trường NCL được chính thức hoá tại Nghị định số
43/2000/NĐ-CP ngày 30/8/2000 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều
của Luật Giáo dục 1998, tại Điều 13 của Nghị định này quy định:”Các cơ sở giáo dục bán
công, dân lập, tư thục gọi chung là cơ sở giáo dục ngoài công lập”
Riêng với loại hình THPT NCL, Luật giáo dục năm 2005 đã quy định chỉ có loại hình
tư thục Theo Điều 4, Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học
(Ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 23/8/2011) nêu rõ: “Trường tư
thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động của trường tư thục là nguồn ngoài ngân sách nhà nước”
1.4.1.1 Yêu cầu
Tại điều 23, Luật giáo dục 1998 đã ghi: "Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp
học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học
Trang 10vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động." 1.4.1.2 Quy mô phát triển các trường THPT NCL
Đảm bảo nguyên tắc đã được quy định từ Luật Giáo dục năm 2005, tại khoản 2 - Điều
48: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập
theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục.”
1.4.2 Đội ngũ giáo viên trường THPT NCL
Đội ngũ giáo viên THPT NCL cũng như đội ngũ các trường THPT về trình độ chuyên môn được quy định tại Điều 33, Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Có bằng tốt nghiệp Đại học sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm” Ngoài ra người giáo viên còn được đánh giá bằng các chuẩn mực đạo đức phẩm chất với vai trò là người khai sáng tài năng cho học sinh năng khiếu, trước hết phải là một công dân mẫu mực, có nhân cách của người lao động sáng tạo năng động có tay nghề có tâm hồn cao đẹp Năng lực nhà giáo phải được thể hiện qua các thành tố: năng lực hiểu biết, năng lực tổ chức, quản lý; năng lực sử dụng phương pháp dạy học; năng lực tự học biết cách tự học và biết dạy cách học; năng lực nghiên cứu khoa học và ứng dụng các kết quả nghiên cứu; năng lực sử dụng ngoại ngữ, máy tính và các phương tiện dạy học Ngoài ra còn có năng lực chủ thể hóa; năng lực xã hội hóa; năng lực giao tiếp, trao đổi, hợp tác, hòa nhập…
1.4.3 Đặc điểm của công tác quản lý đội ngũ giáo viên THPT NCL
1.4.3.1 Đặc điểm đội ngũ giáo viên THPT NCL được thể hiện qua 3 tiêu chí:
- Số lượng giáo viên:
Được quy định tại Điều 16, Quy chế tổ chức và hoạt động trường Tiểu học, THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học loại hình tư thục ban hành kèm theo Thông tư
số 13/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “ 1 Trường Phổ thông
tư thục phải bảo đảm từ năm học đầu tiên tỉ lệ giáo viên cơ hữu so với tổng số giáo viên theo quy định đối với trường phổ thông công lập ở cấp học tương ứng như sau: cấp Tiểu học có 100%; cấp THCS và THPT có ít nhất 40%; 2 Số giáo viên và nhân viên của trường phổ thông tư thục phải bảo đảm không thấp hơn quy định của Nhà nước về định mức giáo viên, nhân viên đối với từng cấp học”
Trang 11Đối với số lượng giáo viên các trường THPT công lập thì được quy định tại Khoản 3, Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23/8/2006 của Bộ Giáo dục & Đào tạo và Bộ Nội vụ ban hành Hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập nêu: “ Mỗi lớp bố trí giáo viên không quá 2,25 giáo viên”
- Cơ cấu đội ngũ giáo viên: Được hiểu là tỉ lệ giáo viên giữa các tổ chuyên môn, giữa các môn học và trong từng môn học hoặc giữa các độ tuổi hoặc tỉ lệ giới tính Cơ cấu đội ngũ giáo viên phải đảm bảo tính hợp lý ( chuyên môn nghiệp vụ - độ tuổi - giới tính) nhằm tạo ra ê kíp đồng bộ, đồng tâm nhất trí có khả năng hỗ trợ cho nhau về mọi mặt
- Chất lượng đội ngũ giáo viên: Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng trong đời sống
xã hội nhất là trong giáo dục có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng, song theo tác giả Nguyễn Đức Chính khi nghiên cứu về Quản lý chất lượng cho rằng, có một định nghĩa tỏ ra
có ý nghĩa đối với việc xác định chất lượng giáo dục và cả với việc đánh giá nó, đó là: "Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu "
1.4.3.2 Đặc điểm của công tác quản lý đội ngũ giáo viên THPT NCL
Công tác quản lý đội ngũ giáo viên trường THPT NCL bao gồm:
- Xây dựng được các nội dung quản lý về đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL trên cơ sở các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với cấp học tương ứng và loại hình tương ứng; các quy định của UBND tỉnh/ thành phố địa phương về giáo dục và đào tạo
- Kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm theo đúng các quy định hiện hành của Nhà nước Tham mưu cho các cơ quan quản lý cấp trên để có chủ trương, chính sách và các quy định theo đúng thẩm quyền để tăng hiệu quả công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL không chỉ tại thời điểm hiện tại mà có tính định hướng lâu dài
1.5 Nội dung quản lý đội ngũ giáo viên THPT NCL
1.5.1 Lập kế hoạch thực hiện việc đảm bảo đội ngũ giáo viên
Nằm trong kế hoạch và nhiệm vụ năm học của Ngành giáo dục, cấp học THPT và các trường NCL trên cơ sở các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thành phố Hà Nội Sở GD&ĐT lập kế hoạch việc đảm bảo các điều kiện hoạt động giáo dục của các trường THPT NCL, trong đó có nội dung về đảm bảo đội ngũ giáo viên trên cơ sở các quy định hiện hành
về Giáo dục đào tạo NCL và cấp học THPT
1.5.2 Tổ chức thực hiện việc đảm bảo đội ngũ CB, GV, NV các trường THPT NCL
Trang 12Sở GD&ĐT tổ chức thực hiện kế hoạch đảm bảo đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL theo các cấp quản lý: Sở GD&ĐT (các phòng ban chức năng có liên quan) - Trường THPT NCL – Giáo viên cơ hữu, thỉnh giảng
1.5.3 Chỉ đạo thực hiện công tác bảo đảm đội ngũ CB, GV, NV trong các trường THPT NCL
Trên cơ sở kế hoạch đã đề ra
- Sở GD&ĐT có văn bản chỉ đạo các trường THPT NCL thực hiện các quy định về công tác đảm bảo đội ngũ giáo viên, báo cáo định kì về công tác đội ngũ giáo viên
- Trường THPT NCL thông báo và cùng GV đảm bảo các quy định về quản lý GV trong các trường THPT NCL (Hồ sơ GV, phân công GV, chế độ; chính sách đối với GV…)
1.5.4 Kiểm tra công tác thực hiện đảm bảo đội ngũ Giáo viên các trường THPT NCL
Khi nghiên cứu về Đánh giá trong giáo dục tác giả Nguyễn Đức Chính đã quan niệm:
"Bất kỳ khâu nào của QLGD cũng cần tới đánh giá Không có đánh giá thì hệ thống QLGD
sẽ trở thành một hệ thống một chiều Đây là một cơ chế QLGD không khoa học và không hoàn thiện Khi có đánh giá, QLGD mới nhận được phản hồi, mới kịp thời phát hiện ra các vấn đề và giải quyết chúng Giáo dục là một hệ thống quản lý hai chiều kiểu khứ hồi Như vậy có thể nói đánh giá là một nhân tố đảm bảo cho QLGD có tính khoa học và hoàn thiện"
Đây là một khâu rất quan trọng, qua đó khẳng định được việc hiệu quả của việc quản
lý, nhưng đồng thời qua đây rút kinh nghiệm, có điều chỉnh quá trình quản lý để đem lại hiệu quả cao hơn nữa của công tác quản lý
Với công tác quản lý đội ngũ giáo viên của các trường THPT NCL việc kiểm tra cũng đem lại những kết quả như trên Có hai hình thức kiểm tra: Kiểm tra định kì và kiểm tra theo vụ việc theo đúng các quy định hiện hành
l.6 Vai trò của các cấp quản lý đối với công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL
1.6.1 Vai trò chỉ đạo của Sở GD&ĐT
Theo Thông tư Liên tịch Bộ GD&ĐT và Bộ Nội vụ số 47/2011/TTLT-BGDĐT-BNV ban hành ngày 19/10/2011 về việc Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cơ cấu tổ chức và biên chế của Sở GD&ĐT, phòng GD&ĐT quy định tại Khoản 1, Điều 1: “ Sở GD&ĐT là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh/thành phố tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh/thành
Trang 13phố” Điều đó có nghĩa là Sở GD&ĐT có trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện các quy định của Nhà nước (Chính phủ, Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh/thành phố) về giáo dục và đào tạo nói chung và về các trường học nói riêng trong đó có các trường THPT NCL
1.6.2 Vai trò của trường THPT NCL trong việc xây dựng và thực hiện nghiêm túc các quy định về quản lý đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
1.6.2.1 Đối với nhà trường
Nghiêm túc thực hiện các quy định hiện hành của Nhà nước về đội ngũ CB, GV, NV:
1.6.2.2 Đối với giáo viên
Tuy là đối tượng phải thực hiện việc làm ra những viên gạch để xây dựng nền móng cho quản lý đội ngũ GV nhưng GV cũng cần có thái độ, tinh thần hợp tác một cách chủ động
ra một cách có hiệu quả nhất và ít bị xáo trộn nhất"
Với các trường NCL nói chung và trường THPT NCL nói riêng thì cơ hội phát triển
cả về quy mô mạng lưới và chất lượng sẽ được các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tập trung Điều đó cũng có nghĩa cơ hội, thách thức đối với đội ngũ GV là rất nhiều Từ đó cũng sẽ làm cho tăng tính bất ổn về đội ngũ GV trong các trường NCL
Chính vì vậy trong thời gian tới cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý các trường NCL nói chung và trường THPT NCL nói riêng về quản lý đội ngũ giáo viên và các vấn khác có liên quan
Một vấn đề nữa cũng góp một phần không nhỏ trong định hướng tăng cường quản lý đội ngũ GV các trường THPT NCL đó là việc đẩy mạnh hội nhập quốc tế sẽ cập nhật ngày càng nhiều công nghệ giáo dục hiện đại.Nếu đội ngũ GV trong nước không đáp ứng được một mặt nào đó của các công nghệ mới thì GV nước ngoài sẽ tham gia vào hoạt động giáo dục đào tạo ở nước ta ngày một nhiều hơn Khi đó việc tăng cường khâu quản lý đội ngũ GV lại càng cần thiết hơn Đó chính là việc phải có thêm biện pháp quản lý đội ngũ GV các trường THPT NCL
Trang 14Những vấn đề lý luận trên đây là cơ sở liên quan đến đề tài cho việc nghiên cứu thực trạng cũng như đề xuất các biện pháp cho công tác quản lý đội ngũ GV ở trường THPT NCL
sẽ được đề cập ở các chương tiếp theo
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP
THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - văn hoá – xã hội - giáo dục của thành phố Hà Nội
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của thành phố Hà Nội
* Về vị trí địa lý: Ngày 29/5/2008, kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII thông qua Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh liên quan Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2008 Theo đó thành phố Hà Nội mở rộng có diện tích tự nhiên 3.344,7002 km2 và dân số là 6.232.940 người
* Điều kiện tự nhiên:
Nằm ở vị trí trung tâm của đồng bằng sông Hồng, Thăng Long - Hà Nội được xem là vùng đất “địa linh - nhân kiệt”, nơi hội tụ nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển Thành trung tâm văn hóa - kinh tế - chính trị của cả nước Trong đó phần lớn diện tích của Thành phố là vùng đồng bằng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng dòng chảy của sông Hồng Điều này cũng ảnh hưởng nhiều đến quy hoạch xây dựng và phát triển kinh
tế - xã hội của Thành phố Hà Nội có vị trí địa lý - chính trị quan trọng, là đầu não chính trị - hành chính Quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch
Trang 15quốc tế; là đầu mối giao thương bằng đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường sông tỏa đi các vùng khác trong cả nước và đi quốc tế
2.1.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội - giáo dục của thành phố Hà Nội
Hà Nội - mảnh đất có truyền thống nghìn năm văn hiến và lừng lẫy chiến công đánh giặc, nơi định đô của các vương triều phong kiến tự chủ Việt Nam,tự hào là trung tâm đầu não chính trị của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á với bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9-1945, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Là trái tim đất nước, Hà Nội hội tụ các cơ quan lãnh đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các đoàn thể xã hội Nơi tập trung về Kinh tế - Xã hội – Giáo dục của cả nước
2.2 Thực trạng về các trường THPT NCL thành phố Hà Nội
2.2.1 Một số nét về giáo dục NCL ở Việt Nam
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ Đại hội lần thứ VI của Đảng vào tháng 12/1986 và chính sách XHHGD của Nhà nước, ở nước ta từ năm học
1988 - 1989 hệ thống các trường NCL chính thức xuất hiện trở lại
Một số thành tựu và hạn chế của giáo dục NCL ở Việt Nam
* Những thành tựu
Với sự phát triển trong hơn 20 năm qua, tuy thời gian chưa nhiều, song những kết quả
mà GD NCL đã khẳng định bằng hiện thực sinh động tính đúng đắn, hiệu quả chủ trương, chính sách XHH GD của Đảng và Nhà nước Hiệu quả của hệ thống GD NCL được thể hiện qua một số mặt: Đã thực hiện được chủ trương XHHGD; Đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn và đa dạng của người học cũng như nhu cầu đa dạng về nguồn nhân lực cho xã hội; Phần nào đã đáp ứng được về mặt kinh tế giữa người học và người đầu tư; Bước đầu đã đáp
ứng được phần nào về mặt chất lượng trong GD trên các điều kiện hiện có
* Một số hạn chế của giáo dục NCL ở Việt Nam
- Sự phát triển chưa cân đối các Vùng, Miền
Bảng 2.1 Tỷ lệ học sinh NCL trong tổng số học sinh các cấp
theo các khu vực năm 2010
1 Vùng đồng bằng Sông Hồng 0,62 0,82 36,20
Trang 16( Nguồn từ Bộ Giáo dục và Đào tạo)
- Sự phát triển giáo dục NCL chưa cân đối giữa các ngành học
- Sự hỗ trợ của Nhà nước đối với giáo dục NCL còn rất hạn chế
- Chính sách đối với giáo dục NCL còn nhiều vấn đề chưa ổn định và rõ ràng
- Vấn đề quy hoạch phát triển chưa cân đối
- Vấn đề tổ chức và quản lý một số nơi chưa kiểm soát hết
2.2.2 Thực trạng về các trường THPT NCL thành phố Hà Nội
2.2.2.1 Quá trình phát triển của giáo dục THPT NCL ở Hà Nội
Trang 17Bảng 2.2: Số lượng các trường, học sinh THPT NCL
từ năm 2007 - 2011 Năm học 07 - 08 08 – 09 09 - 10 10 – 11 11 – 12
Tính đến tháng 11/2011
(Nguồn từ Sở GD&DT Hà Nội)
Tuy vậy kể từ sau khi địa giới hành chính của thành phố Hà Nội được mở rộng, tình hình kinh tế -chính trị - xã hội có nhiều biến động trong đó có ngành giáo dục nói chung và giáo dục THPT NCL nói riêng Nên tỉ lệ học sinh giảm, nguyên nhân bởi nhiều vùng miền của Hà Tây cũ kinh tế còn thấp, đời sống của người dân còn khó khăn, điều kiện học tập ít
Để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu học được nhiều, thành phố đã tăng số lượng lớp học và số lượng tuyển vào trường THPT công lập và giảm tỉ lệ lớp, học sinh vào các trường THPT NCL
- Xu thế phát triển của GD THPT NCL trong thời gian tới: Các trường trung học NCL
ở Hà Nội sẽ tiếp tục phát triển toàn diện và đa dạng
- Sự mất cân đối giữa nhu cầu học tập của người dân với sự cung ứng của hệ thống trường CL vẫn còn tiếp tục tồn tại lâu dài (hiện ngân sách Thành phố chỉ đủ cấp theo định mức cho 40% hệ thống có nhu cầu học THPT);
- Nhu cầu học tập của người dân ngày càng đa dạng (đặc biệt là yêu cầu cao về chất lượng), trong khi các trường CL chưa thể đáp ứng đầy đủ;
- Quá trình mở cửa, hội nhập, đặc biệt là khi nước ta ra nhập WTO, vấn đề mở cửa cho nước ngoài đầu tư vào phát triển dịch vụ GD là điều tất yếu
*2.2.2.2 Nội dung, phương pháp, chất lượng của giáo dục THPT NCL
- Về nội dung hoạt động
Trang 18Về mặt GD trí dục: các trường NCL đều thực hiện đủ các môn và dựa theo chương trình do Bộ GD&ĐT quy định như các trường CL Các hoạt động GD khác cho HS: Đa số các trường NCL không chú ý đúng mức đến các hoạt động ngoài giờ lên lớp (đa số không có sân trường đủ diện tích để tổ chức các hoạt động tập thể), đặc biệt là giờ thể dục thường bị cắt giảm; chỉ một số ít trường quan tâm đến hoạt động truyền thống, hướng nghiệp Các hoạt động nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ: sinh hoạt chuyên môn, bồi dưỡng đội ngũ GV… rất
ít được quan tâm, tổ chức đặc biệt ở các trường có quy mô nhỏ
- Phương pháp hoạt động GD:
Phương pháp tổ chức và quản lý ở các trường trung học NCL tuy Hà Nội chưa có những mô hình khác biệt so với trường CL cùng cấp, song ở đa số các trường (đặc biệt là các trường lớn, chất lượng khá), bộ máy quản lý tuy rất gọn nhẹ song tính trách nhiệm và hiệu quả của công tác quản lý thường khá cao Tuy các hoạt động quản lý mang tính hành chính,
sự vụ là hội họp, bình xét thi đua, thao giảng… thường ít hơn ở các trường CL, song (khác các trường CL) ở các trường NCL việc thăm dò ý kiến CMHS và HS về giảng dạy của GV
và quản lý của nhà trường là việc làm thường xuyên Hiệu quả của phương pháp quản lý được đánh giá qua kết quả trả lời của 73,6% CMHS, 85,4% HS cho rằng trường quản lý chặt chẽ, khoa học, số còn lại trả lời bình thường, không có ý kiến đánh giá yếu
Ngoài hoạt động dạy - học và quản lý, tại hầu hết các trường trung học NCL, các hoạt động khác hầu như được đơn giản hóa đến mức tối đa kể cả nội dung và phương pháp
- Chất lượng hoạt động: Đánh giá chất lượng GD của nhà trường hiện nay, thường CMHS và HS (cả dư luận xã hội nói chung) chủ yếu quan tâm đến mặt trí dục, và về mặt trí dục cũng chỉ lấy tỷ lệ tốt nghiệp, điểm thi vào đại học (với cấp THPT) hoặc điểm thi để xét tuyển vào trường THPT (đối với THCS) để làm thước đo
2.2.2.3 Các điều kiện để tổ chức hoạt động
- Cơ sở vật chất và tài chính
Về điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động GD ở trường THPT NCL nói chung còn rất hạn chế, số trường đáp ứng được yêu cầu theo quy định hiện nay ở mức độ trung bình trở lên chỉ có khoảng 20%, số trường yếu toàn diện khoảng 22,0% , số còn lại còn khó khăn nhiều mặt
- Tổ chức bộ máy và đội ngũ: