d Quan niệm về nhân lực khoa học công nghệ của Indonesia Quan điểm chỉ đạo về vai trò và tầm quan trọng của nhân lực khoa học và công nghệ tại Indonesia đã chỉ ra rằng cải thiện năng lự
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tài nguyên và môi trường
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Vân Anh
(Kèm theo Quyết định số 2291/QĐ-BTNMT ngày 16 tháng 10 năm 2020 về việc phê duyệt tổ chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm, thuyết minh và dự toán nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ bắt đầu thực hiện từ năm 2020)
HÀ NỘI - 2020
Trang 22
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
THUYẾT MINH
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
TÊN ĐỀ TÀI: Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ xây dựng chương trình
đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ
cho các lĩnh vực biển và hải đảo; đất đai; đo đạc và bản đồ
Trang 33
THUYẾT MINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
I THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1 Tên đề tài: Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ xây dựng chương trình đào tạo, bồi
dưỡng chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ cho các lĩnh vực biển và hải đảo; đất đai; đo đạc và bản đồ
Mã số: TNMT.2019.10.01
2 Thời gian thực hiện: 30 tháng (Từ tháng 03/2020 đến tháng 8/2022)
3 Cấp quản lý Bộ Cơ sở
4 Tổng kinh phí thực hiện: 1.387,00 triệu đồng, trong đó:
Nguồn Kinh phí (triệu đồng)
- Từ Ngân sách nhà nưc 1.387,00
- Từ nguồn ngoài ngân sách nhà nước
5 Phương thức khoán chi:
Khoán đến sản phẩm cuối cùng
Khoán từng phần, trong đó:
- Kinh phí khoán: 891,00 triệu đồng
- Kinh phí không khoán: 496,00 triệu đồng
Đất đai; Tài nguyên nước;
Địa chất và Khoáng sản; Môi trường;
Khí tượng thủy văn Biến đổi khí hậu;
Biển và Hải đảo; Đo đạc và Bản đồ;
Viễn thám; Công nghệ thông tin;
Khác;
8 Chủ nhiệm đề tài
Họ và tên: Nguyễn Thị Vân Anh
Ngày, tháng, năm sinh: 05/9/1978 Giới tính: Nam / Nữ Học hàm, học vị/Trình độ chuyên môn: Tiến sĩ kỹ thuật môi trường
Chức danh khoa học:
Chức vụ: Cán bộ Phòng Khoa học, công nghệ và Hợp tác quốc tế
Điện thoại:
Trang 44
Tổ chức: 0243 7227 666 Mobile: 0912254624
Fax: E-mail: vananhmt2020@gmail.com
Tên tổ chức đang công tác: Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tài nguyên và môi trường
Địa chỉ tổ chức: Số 83 Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
9 Thư ký khoa học của đề tài
Họ và tên: Nguyễn Thị Đông Hà
Ngày, tháng, năm sinh: 15/11/1994 Giới tính: Nam / Nữ Học hàm, học vị/Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ Luật Quốc tế
Chức danh khoa học:
Chức vụ: Cán bộ Phòng Khoa học, công nghệ và Hợp tác quốc tế Điện thoại: Tổ chức: 0243 7227 666 Mobile: 0972872966 Fax: E-mail: nguyenthidongha94.dav@gmail.com Tên tổ chức đang công tác: Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tài nguyên và môi trường Địa chỉ tổ chức: Số 83 Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 10 Tổ chức chủ trì đề tài Tên tổ chức chủ trì đề tài: Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tài nguyên và môi trường Điện thoại: 0243 7227 666 Fax:
Website: www.innet.gov.vn Địa chỉ: Số 83 Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội Họ và tên thủ trưởng tổ chức: TS Nguyễn Đức Toàn Số tài khoản: 9527.1.1126559 Kho bạc nhà nước/Ngân hàng: Tại Kho bạc nhà nước quận Đống Đa Tên cơ quan chủ quản đề tài: Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tài nguyên và môi trường 11 Các tổ chức phối hợp chính thực hiện đề tài (nếu có) 1 Tổ chức 1 :
Tên cơ quan chủ quản
Điện thoại: Fax:
Địa chỉ:
Họ và tên thủ trưởng tổ chức:
Số tài khoản:
Ngân hàng:
2 Tổ chức 2 :
Tên cơ quan chủ quản
Trang 55
Điện thoại: Fax:
Địa chỉ:
Họ và tên thủ trưởng tổ chức:
Số tài khoản:
Ngân hàng:
12 Cán bộ thực hiện đề tài
học hàm học vị
Chức danh nghiên cứu đề tài
Nội dung, công việc chính tham gia
Tổ chức công tác
1 TS Nguyễn Thị Vân Anh Chủ nhiệm
đề tài
Quản lý đề tài, xây dựng thuyết minh, tham gia nghiên cứu các nội dung 1,2,3,4,5,8
Trường ĐTBDCB TNMT
2 ThS Nguyễn Thị Đông Hà Thư ký
Xây dựng thuyết minh, tham gia thực hiện các nội dung nghiên cứu 1,3,4,8
Trường ĐTBDCB TNMT
3 TS Nguyễn Đức Toàn Thành viên
chính
Tham gia thực hiện nội dung 3,4,5,8
Trường ĐTBDCB TNMT
4 TS Nguyễn Bình Minh Thành viên
chính
Xây dựng thuyết minh, tham gia thực hiện các nội dung 1,2,3,7,8
Trường ĐTBDCB TNMT
5 TS Phùng Văn Hảo Thành viên
chính
Tham gia thực hiện nội dung 2,3,4,5,7
Trường ĐTBDCB TNMT
6 TS.Trần Xuân Miễn Thành viên
chính
Tham gia thực hiện nội dung 1,2,3,4,5
Trường ĐH
Mỏ địa chất
7 ThS Phạm Văn Hiệp Thành viên
chính
Tham gia thực hiện nội dung 1,2,3,4,5
Trường ĐH
Mỏ địa chất
8 Ths Nguyễn Thị Huynh Thành viên
chính
Tham gia thực hiện nội dung 1,2,3,4
Trường ĐTBDCB TNMT
Trang 66
học hàm học vị
Chức danh nghiên cứu đề tài
Nội dung, công việc chính tham gia
Tổ chức công tác
9 CN Nguyễn Thị Hồng
Minh
Thành viên chính
Tham gia thực hiện nội dung 3,4,5,7
Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ TN&MT
10 CN Tạ Thị Huyền Trang Thành viên
chính
Xây dựng thuyết minh, báo cáo tổng kết, tham gia thực hiện nội dung 1,2,4,5
Trường ĐTBDCB TNMT
II MỤC TIÊU, NỘI DUNG KHCN, PHƯƠNG ÁN TỔ CHỨC THỰC HIỆN
13 Mục tiêu của đề tài
- Xác định được cơ sở khoa học phục vụ xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ cho các lĩnh vực biển và hải đảo; đất đai; đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý;
- Dự thảo được chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ cho các lĩnh vực biển và hải đảo; đất đai; đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý
14 Tình trạng đề tài
Mới
Kế tiếp hướng nghiên cứu của chính nhóm tác giả
Kế tiếp nghiên cứu của người khác
15 Tổng quan tình hình nghiên cứu, luận giải về mục tiêu và những nội dung nghiên cứu của đề tài
15.1 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
Khoa học và công nghệ không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với sự ổn định và
phát triển nền kinh tế, xã hội của mọi quốc gia mà “mức độ phát triển của khoa học công nghệ tỷ lệ thuận với mức độ phát triển bền vững” Từ cuối thế kỷ XX đến nay, thế giới
đã chứng kiến sự phát triển bứt phá mạnh mẽ của các nước công nghiệp mới; khả năng duy trì ổn định nền kinh tế-xã hội của các quốc gia có nền khoa học công nghệ tiên tiến (như nước Đức) trước các căng thẳng về tài chính dẫn đễn khủng hoảng trong khu vực;
và khả năng tái thiết, hồi phục phi thường sau thiên tai, khủng hoảng (như nước Nhật) Các sáng kiến trong công tác quản lý nhân lực khoa học công nghệ, các nỗ lực cải cách hành chính công và các biện pháp mở rộng phát triển nền kinh tế tri thức, góp phần quan trọng vào thành công trong công cuộc phát triển, tái thiết đất nước các quốc gia nêu trên, chính là từ đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ Xét về bản chất chuyên gia, cán bộ
Trang 77
khoa học và công nghệ của tất cả các lĩnh vực nói chung hay của một số lĩnh vực như đất đai, biển và hải đảo, đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý nói riêng đều thuộc về nhóm khái niệm “nhân lực khoa học và công nghệ”
15.1.1 Quan niệm về nhân lực khoa học và công nghệ trên thế giới và ở Việt Nam
a) Quan niệm về nhân lực khoa học và công nghệ của Nhật Bản và Đức
Ở Nhật Bản và Đức, nhân lực khoa học công nghệ được hiểu theo trường phái quan niệm của khối các nước OECD Theo đó, nhân lực khoa học công nghệ là những người đã tốt nghiệp đại học về mặt học vấn hoặc đã được tuyển dụng vào một nghề khoa học và kỹ thuật đòi hỏi ở mức cao về trình độ và tiềm năng sáng tạo Thước đo học thuật
là đầu vào cơ bản trong hệ thống nhân lực khoa học công nghệ, thông thường là bằng
cử nhân đại học Thước đo để tính toán nhu cầu của hệ thống nhân lực khoa học công nghệ chính là các tiêu chuẩn nghề nghiệp
Theo báo cáo nghiên cứu cấu trúc lao động các quốc gia OECD năm 2010 cho thấy, ở hầu hết các quốc gia thành viên OECD, bao gồm Nhật Bản và Đức, đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ chiếm tỷ trọng 1/4 tổng số lao động, tập trung trong khu vực dịch vụ, nghiên cứu nhiều hơn so với khu vực sản xuất ra các mặt hàng thương mại, công nghiệp, tiêu dùng Nhân lực khoa học và công nghệ ở Nhật Bản và Đức bao gồm
3 nhóm là: Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/ kỹ sư nghiên cứu), nhân viên kỹ thuật và tương đương, và nhân viên phụ trợ trực tiếp trong nghiên cứu phát triển Như vậy có thể thấy nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của khối các quốc gia tham gia tổ chức OECD được định nghĩa dựa trên hai cơ sở là kết quả học vấn và căn cứ trên nghề nghiệp
b) Quan niệm về nhân lực khoa học công nghệ của Thái Lan
Theo quan điểm của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), nhân lực khoa học công nghệ là tổng số nhân lực có trình độ hoặc số nhân lực có trình độ hiện đang công tác hoặc trực tiếp tham gia vào các hoạt động khoa học
và kỹ thuật trong một tổ chức hoặc đơn vị, và được trả lương theo quy định cho các dịch
vụ của họ Nhóm này gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhóm nhân viên
hỗ trợ Là một thành viên của UNESCO, Thái Lan chủ yếu áp dụng quan niệm của UNESCO về nhân lực khoa học và công nghệ ngoại trừ một điểm đặc biệt, đó là Thái Lan coi trọng vai trò và năng lực thích ứng với khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Thái Lan coi đây là một trong những mũi nhọn phát triển thúc đẩy toàn diện hệ thống nhân lực khoa học và công nghệ
c) Quan niệm về nhân lực khoa học công nghệ của Singapore
Singapore không phân biệt nhân lực khoa học công nghệ là công dân của Singapore hay người ngoại quốc, chỉ cần những người làm việc cho đất nước Singapore, phục vụ các mục tiêu phát triển của đất nước này và hưởng lương của Chính phủ Singapore chi trả, thì họ chính là nguồn nhân lực khoa học công nghệ
Trang 88
Đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ của Singapore cũng như đa số các quốc gia tiên tiến trên thế giới, đều gồm đội ngũ các nhà nghiên cứu, kỹ thuật viên và tương đương
và công nhân kỹ thuật Chính phủ Singapore đã sớm xác định được quan niệm quốc gia
về nhân lực khoa học công nghệ và kiên trì thống nhất các chính sách, hoạt động trên mọi lĩnh vực phục vụ phát triển khoa học công nghệ Singapore xác định chiến lược phát triển xây dựng một hệ thống tương đối hoàn thiện từ thể chế, chính sách đến các chương trình học bổng, cơ chế tài chính, lương bổng, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ việc xây dựng và thu hút nhân lực khoa học và công nghệ, đặc biệt chú trọng thu hút nhân tài trong các lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn của quốc gia
d) Quan niệm về nhân lực khoa học công nghệ của Indonesia
Quan điểm chỉ đạo về vai trò và tầm quan trọng của nhân lực khoa học và công nghệ tại Indonesia đã chỉ ra rằng cải thiện năng lực khoa học và công nghệ của quốc gia nói chung và năng lực khoa học và công nghệ của đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ chính là trụ cột chính trong kế hoạch tổng thể thúc đẩy phát triển và mở rộng nền kinh tế của Indonesia.Tuy nhiên, trong nhiều văn bản luật của Chính phủ nước này chưa thể hiện rõ ràng định nghĩa về nhân lực khoa học, công nghệ mà thường chú trọng nhắc đến đối tượng “sinh viên tốt nghiệp đại học vào làm trong các ngành khoa học, công nghệ” và “đào tạo tại chỗ cho những người đang công tác trong lĩnh vực khoa học và công nghệ trở lên thạo việc, lành nghề và hiểu biết rộng hơn”
e) Quan niệm và thực trạng về nhân lực khoa học và công nghệ của Việt Nam
HIện nay, Luật Khoa học và Công nghệ đã có quy định cụ thể hơn về quan niệm nhân lực khoa học và công nghệ gồm các đối tượng “Đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng và làm việc trong một ngành khoa học và công nghệ; đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành khoa học và công nghệ nào; chưa tốt nghiệp đại học, cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ đòi hỏi trình độ tương đương”
Tổng hợp các quan điểm, quy định nêu trong Luật Khoa học và Công nghệ năm
2013 thì quan niệm của Bộ Khoa học và Công nghệ (Việt Nam) và các quan niệm của
đa số các nhà nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay, có thể thấy rằng nhân lực khoa học và công nghệ nước ta gồm 5 thành phần chủ yếu như thể hiện trong hình dưới đây
Hình 1: Tổng hợp quan niệm về nhân lực KHCN ở Việt Nam hiện nay
Trang 99
Ở nước ta, trong suốt các chặng đường lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, quan niệm “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” nêu cao vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức và nhất là nguồn nhân lực khoa học công nghệ đã và ngày càng được khẳng định Tuy nhiên, trong giai đoạn kinh tế thị trường và hội nhập sâu rộng như hiện nay, mặc dù các Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật luôn quan tâm và đề cao vai trò của nhân lực khoa học, nhưng trên thực tế, các chính sách còn chung chung, rời rạc chưa thống nhất và hầu như chưa có chính sách cụ thể nào để thực sự trọng dụng, sử dụng và tôn vinh cán bộ khoa học Ngoài ra, kinh phí đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ còn khá eo hẹp, nếu chia đều tổng kinh phí ra cho các viện nghiên cứu và các trường đại học thì chỉ đảm bảo kinh phí cho khoảng 10% số nhà khoa học, nghiên cứu viên thực hiện đề tài nghiên cứu, điều này đồng nghĩa 90% các nhà khoa học, học giả, nghiên cứu viên còn lại không có đủ kinh phí hỗ trợ để thực hiện đề tài nghiên cứu Đối chiếu lại hệ thống nhân lực khoa học và công nghệ của Việt Nam hiện nay,
có thể thấy rằng, mặc dù về lý thuyết quan niệm của Việt Nam phù hợp với các nét chủ đạo trong quan niệm thế giới, và thể hiện tính mới trong việc bao gồm cả đối tượng “Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam” nhưng trên thực tế mới chỉ phản ánh được “tổng số nhân lực có trình độ” Ngoài ra, số lượng cán bộ khoa học và công nghệ làm việc trực tiếp trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển hiện vẫn chiếm một tỷ lệ hết sức khiêm tốn trong tổng số cán bộ khoa học và công nghệ của nước ta Bên cạnh đó, tư tưởng chuộng hư danh, trọng thành tích, dẫn đến xao lãng bản chất thực, trình độ thực, giấu dốt, không dám công khai học hỏi và chia sẻ ý kiến phát minh sáng tạo, chưa tạo được môi trường tích cực để học hỏi, phát minh, sáng kiến và bảo vệ các phát minh, sáng kiến Chế độ đãi ngộ với những người tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ chưa thích đáng Khu vực công còn chậm đón nhận và chưa bắt kịp với các hoạt động đổi mới, sáng tạo trong xã hội và khoa học, công nghệ dẫn đến chưa có chế tài phù hợp để tổ chức, quản lý và bồi dưỡng phát triển nhân lực khoa học, công nghệ
15.1.2 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ của một số nước trên thế giới
Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ đã và đang là một vấn đề ưu tiên của nhiều quốc gia bởi trong bối cảnh hiện nay, nguồn nhân lực được trang bị đầy đủ kỹ năng, kiến thức giữ vai trò quan trọng cho sự phát triển của quốc gia Tuy nhiên, ở những quốc gia khác nhau thì vấn đề về xây dựng nguồn nhân lực khoa học công nghệ được triển khai theo nhiều hướng khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của từng quốc gia
a) Kinh nghiệm của Mỹ
Giáo dục và đào tạo ở Mỹ là một trong những hướng ưu tiên trong chiến lược phát triển của quốc gia Hệ thống các trường tiểu học và trung học được chính phủ tài trợ và liên tục được mở rộng trong suốt thế kỷ XX Năm 2000, tại Mỹ có khoảng 3.600 trường đại học, cao đẳng với hơn 10 triệu sinh viên Trong hơn 200 năm phát triển, hệ
Trang 10về văn hóa; (v) phục vụ và cống hiến, môn học này giúp người học hiểu rõ trách nhiệm của mình với tổ chức, với quốc gia; (vi) các chính sách công Kinh phí dành cho giáo dục của Mỹ rất cao và đến từ các nguồn khác nhau, như chính phủ, các tập đoàn, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo, cá nhân
Để duy trì vị trí siêu cường về kinh tế và khoa học, công nghệ, chiến lược nguồn nhân lực tập trung vào đào tạo nguồn nhân lực và thu hút nhân tài Đến nay, thực tế cho thấy Mỹ là một trong những nước có nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực Để thu hút nhân tài, Chính phủ Mỹ đã phối hợp với các doanh nghiệp đưa ra chế độ chính sách đãi ngộ hấp dẫn như: mức lương, trợ cấp cao và được hưởng các khoản phúc lợi như đối với công dân Mỹ, khuyến khích họ gia nhập quốc tịch Mỹ và định cư lâu dài
Để phát triển nguồn nhân lực, Mỹ rất coi trọng môi trường sáng tạo và khuyến khích phát triển nhân tài, bồi dưỡng và thu hút nhân tài trong nhiều lĩnh vực Chiến tranh thế giới thứ hai đã mang lại cho Mỹ – nước duy nhất trên thế giới, cơ hội thu hút nguồn chất xám rất lớn, đó là rất nhiều các nhà khoa học, bác học giỏi từ châu Âu và nhiều nước khác đã nhập cảnh vào Mỹ Thực tế này trả lời cho câu hỏi, tại sao hiện nay Mỹ là một trong những nước có nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực
b) Kinh nghiệm của Cộng hòa Séc
Tại cộng hòa Séc, để đón trước cơ hội và thúc đẩy hội nhập thành công vào Liên minh châu Âu (EU), Séc đã xây dựng và hoàn thành Chiến lược phát triển nguồn nhân lực (tháng 12-2000) Chiến lược này là một bộ phận cấu thành của Chương trình Thị trường lao động và phát triển nguồn nhân lực Trong các chiến lược thành phần, đáng chú ý có chiến lược phổ cập tiếng Anh, chiến lược cải thiện nhân lực hành chính công, chiến lược phát triển giáo dục đại học và liên kết với hoạt động nghiên cứu, chiến lược phát triển đội ngũ giáo viên, chiến lược phát triển học suốt đời…
c) Kinh nghiệm của Cộng hòa liên bang Đức
Nước Đức nhận thức vai trò của giáo dục, đào tạo và sử dụng hệ thống giáo dục đại học như là một thể chế để tạo ra nguồn nhân lực tài năng Từ năm 2010, ngân sách dành cho giáo dục chiếm 6% GDP Hiện nay, Đức có khoảng 320 trường đại học, cao đẳng và thu hút hơn 2 triệu sinh viên Đội ngũ giảng viên đại học hơn 110 nghìn người, trong đó có 40 nghìn người là giáo sư
Sự gắn kết giữa đào tạo nhân lực với phát triển kinh tế, nhu cầu của thị trường lao động ở Đức cũng rất chặt chẽ Nhu cầu lao động của các công ty được đáp ứng một
Trang 1111
cách phù hợp thông qua việc ký hợp đồng đào tạo, bồi dưỡng nghề với học sinh, người lao động Kế hoạch triển khai đào tạo nghề do các bang, các địa phương xác định tùy thuộc vào sự phát triển của cơ cấu kinh tế, thị tường lao động Phục vụ cho chức năng hoạt động của hệ thống, ở Đức có một cơ sở hạ tầng thông tin bao quát trên diện rộng
về các lĩnh vực ngành nghề
d) Kinh nghiệm của Nhật Bản
Ở châu Á, Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong phát triển nguồn nhân lực Xuất phát từ việc xác định rằng, nước Nhật nghèo tài nguyên thiên nhiên, để phát triển, chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân Nhật Bản, Chính phủ nước này đã đặc biệt chú trọng tới giáo dục – đào tạo, thực sự coi đây là quốc sách hàng đầu Theo
đó, chương trình giáo dục đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở là bắt buộc; tất cả học sinh trong độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi được học miễn phí Kết quả là, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ở nước này ngày càng nhiều Nhật Bản trở thành một trong những cường quốc giáo dục của thế giới
Về sử dụng và quản lý nhân lực, Nhật Bản thực hiện chế độ lên lương và tăng thưởng theo thâm niên Nếu như ở nhiều nước phương Tây, chế độ này chủ yếu dựa vào năng lực và thành tích cá nhân, thì ở Nhật Bản, hầu như không có trường hợp cán bộ trẻ tuổi, ít tuổi nghề lại có chức vụ và tiền lương cao hơn người làm lâu năm
e) Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Chính phủ Hàn Quốc coi đào tạo nhân lực là nhiệm vụ ưu tiên trong giáo dục để bảo đảm có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa Giáo dục được thực hiện song hành với tiến trình công nghiệp hóa Cải cách giáo dục được coi là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, hiện nay Hàn Quốc vẫn đang tiến hành cải cách giáo dục lần thứ 6 Chiến lược về phát triển nguồn nhân lực của Hàn Quốc đề cập sự tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp, trường đại học và các cơ sở nghiên cứu; nâng cao trình độ
sử dụng và quản lý nguồn nhân lực, nâng cao tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực trong khu vực công; xây dựng hệ thống đánh giá và quản lý kiến thức, kỹ năng và công việc; xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin cho phát triển nguồn nhân lực; xây dựng và phát triển thị trường tri thức
Chính phủ Hàn Quốc đã đầu tư mạnh mẽ vào phát triển khoa học và công nghệ,
có chính sách đào tạo và giáo dục, thu hút người tài, huy động nguồn lực từ doanh nghiệp,…Cách đây 50 năm, khi Hàn Quốc còn là một quốc gia nghèo, Chính phủ Hàn Quốc đã quyết định việc thành lập một viện nghiên cứu khoa học và công nghê và mời các nhà nghiên cứu giỏi nhất tham gia làm việc tại đây Và năm 1966, Viện KIST được thành lập tại Seoul Với nhiệm vụ giải quyết những vấn đề bức xúc về kỹ thuật cho sản xuất, hướng tới một xã hội phát triển trên nền tảng công nghệ hiện đại, Viện đã tiến hành nghiên cứu theo đơn đặt hàng của các tập đoàn công nghiệp hàng đầu Hàn Quốc Với các chính sách thu hút nhân tài, Chính phủ đã mời được các nhà khoa học giỏi nhất đến tham gia làm việc tại KIST Cụ thể, khi tham gia và làm việc tại Viện, họ
Trang 1212
được trả mức lương cao gấp 3 lần so với các giáo sư đại học thông thường Ngoài lương còn có các phúc lợi khác như nhà ở, phương tiện đi lại,… Thời kỳ đó, Quốc hội Hàn Quốc đã ra một đạo luật dành riêng cho Viện KIST Viện KIST còn có vai trò kết nối các nhà khoa học ở viện nghiên cứu nhà nước, trường đại học nghiên cứu với nhà nghiên cứu, nhà khoa học ở các doanh nghiệp Đây là giải pháp Chính phủ đưa ra để gắn kết các nhà khoa học làm việc ở các viện nghiên cứu của nhà nước với nhà nghiên cứu làm việc tại các doanh nghiệp Những nghiên cứu của KIST đã đóng góp gần 30% giá trị gia tăng của sản phẩm công nghiệp
Cùng với việc tập trung vào phát triển khoa học và công nghệ, Chính phủ Hàn Quốc đã thành công phần nào trong việc thu hút nhân lực, duy trì nhân lực giỏi, kích thích động viên nhân lực, đáp ứng các yêu cầu của pháp luật nhờ vào chính sách tiền lương hợp lý của mình Trong cấu trúc tiền lương của Hàn Quốc, tiền lương cơ bản chiếm khoảng 54,7%, bao gồm tiền lương khởi điểm và tăng lương định kỳ hàng năm Trong đó, mức lương khởi điểm phụ thuộc vào bằng cấp và thị trường lao động, còn nâng lương hàng năm phụ thuộc vào tuổi, thời gian phục vụ và đóng góp Bên cạnh đó, chi phí sinh hoạt, tiền phụ cấp chiếm 19,4% cho việc làm thêm giờ, công tác ở vùng sâu, vùng xa; tiền thưởng chiếm khoảng 25,9% tặng cho những lao động tích cực, gắn
bó với cơ sở Chế độ tiền lương này đảm bảo được 4 hướng mục tiêu cơ bản nêu ra: trên 50% tiền lương đảm bảo cuộc sống và dưới 50% tiền lương còn lại dùng để kích thích người lao động
f) Kinh nghiệm của Trung Quốc
Tại Trung Quốc, Chính phủ hết sức quan tâm đến việc đào tạo và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có trong nước, nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực này khi chuyển dần sang kinh tế tri thức
Năm 2003, Trung Quốc đã đề ra Chiến lược tăng cường hơn nữa công tác bồi dưỡng, đào tạo nhân tài nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội khá giả được đề ra trong Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc Nội dung của chiến lược là: lấy nhân tài chấn hưng đất nước, xây dựng đội ngũ đông đảo nhân tài có chất lượng cao; kiên quyết quán triệt phương châm tôn trọng lao động, trí thức, tôn trọng nhân tài
và sự sáng tạo, lấy thúc đẩy phát triển làm xuất phát điểm cơ bản của công tác nhân tài, điều chỉnh nhân tài một cách hợp lý, lấy xây dựng năng lực làm điều cốt lõi, ra sức đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nhân tài, kiên trì đổi mới sáng tạo, nỗ lực hình thành cơ chế đánh giá và sử dụng nhân tài một cách khoa học…
g) Kinh nghiệm của Singapore
Trong khu vực Đông Nam Á, Singapore được coi là hình mẫu về phát triển nguồn nhân lực Thực tế đã minh chứng, quốc gia nhỏ bé này đã rất thành công trong việc xây dựng một đất nước có trình độ dân trí cao và hệ thống giáo dục phát triển hàng đầu châu Á.Hệ thống giáo dục của nước này rất linh hoạt và luôn hướng đến khả năng, sở thích cũng như năng khiếu của từng học sinh nhằm giúp các em phát huy cao nhất tiềm năng
Trang 1313
của mình Bên cạnh việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học – công nghệ mới vào giảng dạy, chương trình đào tạo của Singapore luôn chú trọng vào giáo dục nhân cách, truyền thống văn hóa dân tộc
Với chủ trương thu hút sinh viên quốc tế đến học tập, Chính phủ Singapore miễn xét thị thực cho du học sinh quốc tế, không đòi hỏi phải chứng minh tài chính, chi phí học tập vừa phải, môi trường học tập hiện đại, các ngành nghề đào tạo đa dạng… Chính phủ Singapore chỉ đầu tư vào rất ít trường công lập để có chất lượng mẫu mực, có chính sách tín dụng thích hợp để thu hút đào tạo nhân tài Đối với khối ngoài công lập, Chính phủ tạo điều kiện để phát triển, khuyến khích việc liên thông, liên kết với nước ngoài, mời gọi các đại học quốc tế đặt chi nhánh…
15.1.3 Đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, cán bộ khoa học công nghệ của Việt Nam
Phát triển nguồn nhân lực nói chung, nhân lực khoa học và công nghệ (KH&CN) nói riêng là nhiệm vụ quan trọng để phát triển đất nước Hiện nay, nhân lực KH&CN của Việt Nam không phải ít so với quy mô dân số, cũng như so với các nước trong khu vực; nhưng có cơ cấu và chất lượng hạn chế
Hiện nay, thế giới đã bước vào giai đoạn đầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam có cơ hội để rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước khác Tuy nhiên, để áp dụng khoa học công nghệ vào nền kinh tế một cách hiệu quả, cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực KH&CN Nhưng, trên thực tế mạng lưới tổ chức KH&CN và chất lượng đội ngũ nhân lực KH&CN ở Việt Nam vẫn rất thấp; Việt Nam còn thiếu các chuyên gia đầu ngành, các tổ chức nghiên cứu mạnh có đủ khả năng giải quyết những vấn đề KH&CN lớn của quốc gia và hội nhập quốc tế
A Thực trạng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam hiện nay
1) Số lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
Theo số liệu thống kê, tổng số nhân lực trong 1.513 tổ chức KH&CN của cả nước
là 60.543 người, đạt 7 người/1vạn dân Trong đó, số người có trình độ tiến sĩ là 5.293 người (8,74%), trình độ thạc sĩ là 11.081 người (18,30%), trình độ đại học là 28.689 người (47,39%) và trình độ từ cao đẳng trở xuống là 15.480 người (25,57%) Số lượng này được phân bổ theo 5 lĩnh vực: khoa học xã hội và nhân văn; khoa học tự nhiên; khoa học nông nghiệp; khoa học y, dược; khoa học kỹ thuật và công nghệ Trong tổng số 60.543 người, 6.420 người thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, chiếm 10,6%; 4.460 người thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, chiếm 7,4%; 15.302 người thuộc lĩnh vực khoa học nông nghiệp, chiếm 25,3%; 6.548 người thuộc lĩnh vực khoa học y, dược, chiếm 10,8%; và 27.813 người thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, chiếm 45,9%
Hiện nay, đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ ở các viện nghiên cứu còn nhiều bất cập do số cán bộ có trình độ cao chuyển sang các công việc khác có thu nhập cao hơn, trong khi số cán bộ mới tuyển vào chủ yếu là sinh viên mới ra trường, chưa có kinh
Trang 1414
nghiệm nghiên cứu Đồng thời, tuổi đời của các cán bộ nghiên cứu khoa học hiện tại là khá cao Theo điều tra của Bộ Khoa học và Công nghệ, hầu hết đội ngũ cán bộ có học hàm giáo sư, phó giáo sư có độ tuổi trên và gần đủ 60 tuổi, số người có độ tuổi dưới 50 tuổi chỉ chiếm 12% Hơn 10.000 người có học vị tiến sĩ, nhưng trình độ so với chuẩn quốc tế còn rất thấp và chỉ có khoảng 25% cán bộ có thể sử dụng thành thạo tiếng Anh, Việt Nam đặc biệt thiếu các chuyên gia và các tổng công trình sư Trong thực tế, nhiều địa phương còn thiếu cả về số lượng và chất lượng đội ngũ nhà khoa học (trên 90% số
tổ chức KH&CN có số nhân lực dưới 30 người, trong đó có nhiều tổ chức có số nhân lực dưới 10 người) Các nhà khoa họctập trung nhiều ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
2) Chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
Nhân lực KH&CN ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, cơ cấu nhân lực trong tổ chức KH&CN còn chưa hợp lý; tỷ lệ nhân lực gián tiếp trên tổng
số nhân lực KH&CN còn quá cao; chính sách khuyến khích và hỗ trợ về vốn tín dụng
và đất đai còn nhiều rào cản; chưa tạo lập được môi trường cạnh tranh; chất lượng đội ngũ lãnh đạo, quản lý, viên chức thực thi chuyên môn công vụ khoa học công nghệ; sản phẩm của KH&CN vẫn còn rất khiêm tốn Viện Thông tin khoa học (ISI) thống kê: trong
15 năm (1996-2011) Việt Nam mới có hơn 13.000 ấn phẩm công bố trên tập san quốc
tế có bình duyệt Con số này bằng 1/5 của Thái Lan; bằng 1/6 của Malaysia và bằng 1/10 của Singapore
Theo Chiến lược phát triển khoa học công nghệ giai đoạn 2011-2020, đến nay số cán bộ nghiên cứu khoa học công nghệ cũng chỉ đạt từ 9 đến 10 người/vạn dân; đào tạo
và sát hạch theo chuẩn quốc tế có 5.000 kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý; có 30 tổ chức nghiên cứu cơ bản Việt Nam hiện nay còn thiếu rất nhiều về số lượng cán bộ nghiên cứu khoa học công nghệ để đạt tỷ lệ 10-12 cán bộ khoa học trên 1 vạn dân đến năm 2020
3) Cơ cấu và trình độ nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
Những năm qua, cơ cấu nhân lực KH&CN trong các tổ chức nói chung, trong các địa giới hành chính (bộ, ngành, địa phương) nói riêng luôn có sự phân bổ không đồng đều, còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng; sự gắn kết giữa các tổ chức KH&CN công lập với khu vực doanh nghiệp và khu vực đào tạo chưa chặt chẽ, điều đó dẫn đến lãng phí nguồn lực đầu tư cho KH&CN (kết quả nghiên cứu còn chưa được ứng dụng vào thực tiễn), nhiều nơi nguồn nhân lực cả trực tiếp và gián tiếp trong các tổ chức KH&CN công lập (được gọi là viên chức nhà nước) chưa đủ và chưa hợp lý về cơ cấu; chưa khẳng định được năng lực chuyên môn, năng lực nghiên cứu; chưa thực sự trở thành công cụ đắc lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội một cách đều khắp
Phát triển nguồn nhân lực KH&CN tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc ít người và miền núi cũng luôn là vấn đề
Trang 15kỹ thuật chiếm tỷ lệ tới 86,21% trong tổng lao động trong độ tuổi Ở một số dân tộc, tỷ trọng nguồn chưa qua đào tạo trong dân số ở độ tuổi lao động còn cao (như dân tộc Mông 98,7%, dân tộc Khmer 97,7%, dân tộc Thái 94,6%, dân tộc Mường 93,3% ) Mặc dù ở một số tỉnh, tỷ lệ nguồn nhân lực (đã, đang làm việc trực tiếp có liên quan đến các lĩnh vực KH&CN) có trình độ đại học trở lên trong tổng số dân số chiếm tới 77,26%, nhưng năng lực, trình độ làm việc thực tế của họ còn thấp hơn nhiều, chưa theo kịp miền xuôi Cơ cấu ngay trong một vùng, miền, địa phương cũng rất bất hợp lý và không cân đối về tỉ trọng ngành, nghề
B Thực trạng công tác đào tạo, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực tài nguyên và môi trường
Thống kê của thực trạng công tác đào tạo, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực tài nguyên và môi trường của“Đề án đào tạo, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực tài nguyên
và môi trường” (sau đây viết tắt là Đề án) cụ thể như sau:
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của ngành tài nguyên và môi trường, đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ của ngành đã phát triển nhanh
về số lượng Đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học của Bộ, của ngành tài nguyên và môi trường đã có nhiều đóng góp quan trọng, thiết thực trong việc xây dựng những luận cứ khoa học đưa ra các quyết sách, hoạch định chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành; xây dựng định hướng nghiên cứu phát triển công nghệ và trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu quan trọng góp phần trong sự nghiệp phát triển của Bộ, của ngành Một số cán bộ đầu ngành còn tham gia vào công tác quản lý, lãnh đạo ở các đơn vị của Bộ, của ngành ở Trung ương và địa phương Đội ngũ này đã luôn phát huy tốt vai trò và khả năng của mình, không ngừng nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành, góp phần quan trọng vào sự đổi mới hoạt động của của Bộ, của ngành
Theo số liệu của Đề án: Hiện đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường tại các đơn vị trực thuộc Bộ có khoảng hơn 9.000 người (báo cáo số liệu cán bộ có trình độ cao đẳng trở lên tại các Tổng cục, Cục, Viện, Trường trực thuộc Bộ), trong đó:
+ Lĩnh vực biển và hải đảo có 23 tiến sỹ (5,4%); thạc sỹ 92 người (21,5%), trình
độ khác 313 người (73,1%) Theo chuyên ngành đào tạo:chuyên ngành đào tạo về tài nguyên nước, thủy lợi, khí tượng thủy văn biển, hải dương học: 76 người (17,8%); chuyên ngành đào tạo về mỏ, địa chất, địa vật lý biển: 57 người (13,3%); chuyên ngành đào tạo về môi trường, sinh thái học: 20 người (4,7%); chuyên ngành đào tạo về đo đạc bản đồ, viễn thám: 113 người (26,5%); chuyên ngành đào tạo về kinh tế: 78 người
Trang 1616
(18,3%); chuyên ngành đào về luật, quản lý hành chính có: 27 người(6,3%); chuyên ngành đào tạo về ngoại ngữ: 40 người (bao gồm cả những người có bằng đại học thứ 2) (9,4%); chuyên ngành khác (tin học, sư phạm ….): 17 người (3,7%)
+ Lĩnh vực địa chất và khoáng sản có 01 PGS, 50 tiến sỹ (2,01%), 232 thạc
sỹ (9,3%), 1.087 trình độ đại học (43,8%), 66 trình độ cao đẳng (2,7%) Theo chuyên ngành đào tạo về chuyên môn, kỹ thuật địa chất, khoáng sản: 35/50 tiến sỹ (93%), 200/232 thạc sỹ (85,6%), 635/958 trình độ đại học (66,3%), 19/62 trình độ cao đẳng (30,7%)
+ Lĩnh vực đất đai có 18 tiến sĩ (2,4%); 173 thạc sỹ (23,6%); đại học 529 người (70,53%) Theo chuyên ngành đào tạo: địa chính và quản lý đất đai có 445 người (59,33%); các ngành nghề khác (kinh tế, tài chính, kế toán, môi trường, trắc địa bản đồ, trắc địa tin học, luật, tin học, công nghệ thông tin, lưu trữ,… ) có 305 người (40,66%)
+ Lĩnh vực môi trường có 46 tiến sỹ (7%), 223 thạc sỹ (31%) và trên 400 người
có trình độ đại học và trung cấp (62%)
+ Lĩnh vực đo đạc và bản đồ: có 32 tiến sĩ (2,4%); 260 thạc sỹ (22,8%) và 850 đại học (74,4%) Theo chuyên ngành đào tạo về đo đạc và bản đồ khoảng 500 người (50%), còn lại là chuyên ngành khác
+ Lĩnh vực khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu có 43 tiến sĩ (1,3%), 239 thạc
sĩ (6,8%), 1.385 đại học (39,8%), 527 cao đẳng (15,1%) Theo chuyên ngành đào tạo: khối ngành khoa học tự nhiên (Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Địa lý, Địa chất, Khí tượng học, Thủy văn học, Khoa học môi trường ) khoảng 60%; khối ngành kỹ thuật khoảng 10%; khối ngành kinh tế khoảng 10%; khối ngành hoa học xã hội (Luật, Báo chí…) khoảng 8%; khối ngành công nghệ khoảng 7%; khối ngành ngoại ngữ khoảng 5%; các khối ngành khác: không có
+ Lĩnh vực tài nguyên nước có 17 tiến sỹ (1,5); 116 thạc sỹ (10,21%); 575 đại học và cao đẳng (50,6%)
+ Lĩnh vực viễn thám có 13 tiến sĩ, chiếm 4,5%; 79 thạc sỹ, chiếm 27,4% và 196 đại học, chiếm 68,1%
Theo đánh giá của Đề án thì:
+ Nhìn chung, đội ngũ chuyên gia, cán bộ KH&CN của Bộ, của ngành tài nguyên và môi trường đã phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, vừa thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu phát triển công nghệ, vừa tham gia công tác quản lý, lãnh đạo, đóng góp quan trọng cho sự phát triển của ngành
Tuy nhiên, đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ của ngành tài nguyên và môi trường còn bất cập Giai đoạn hiện nay là giai đoạn chuyển tiếp giữa hai thế hệ cán bộ nghiên cứu, một số cán bộ đầu đàn, chuyên gia giỏi được đào tạo tại Nga
và các nước Đông Âu không còn công tác tạo nên sự hẫng hụt cán bộ nghiên cứu trình
độ cao ở một số lĩnh vực Hầu hết các lĩnh vực quản lý của Bộ còn thiếu cán bộ đầu đàn, chuyên gia giỏi ở tầm quốc gia và quốc tế, đặc biệt là các lĩnh vực như viễn thám, biển
và hải đảo, biến đổi khí hậu…Trong khi đó đội ngũ cán bộ trẻ kế cận có trình độ cao
Trang 1717
chưa nhiều, phần lớn được đào tạo trong nước nên điều kiện tiếp cận với khoa học kỹ thuật tiên tiến còn hạn chế Đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ trong các viện, các trường của Bộ về tổng thể chưa mạnh, chưa thực sự là những lực lượng chủ đạo, chưa đảm đương những nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng của ngành trong nhiều lĩnh vực Phần lớn cán bộ có trình độ cao tập trung ở các viện, các cơ quan quản lý nhà nước trực thuộc Bộ Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ trong các trường trực thuộc Bộ còn nhiều hạn chế Toàn ngành
có rất ít các nhà khoa học có trình độ cao và đủ năng lực để chủ trì các nhiệm vụ nghiên cứu có quy mô quốc gia và quốc tế
+ Trong thời gian vừa qua, các đơn vị đã quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực khoa học và công nghệ thông qua các chương trình, đề án đào tạo, các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ Từ năm 2010 - 2015, đã cử đi đào tạo được hơn 30 tiến sỹ, gần 300 thạc sỹ và hàng nghìn lượt cán bộ tham gia các khóa bồi dưỡng ngắn hạn về chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng Thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng đã nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý khoa học công nghệ, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và công nghệ; góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Tuy nhiên, việc đào tạo nhân lực trong một số lĩnh vực còn mất cân đối, việc đào tạo một số lĩnh vực mới phục vụ công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo, biến đổi khí hậu chưa được chú trọng; nguồn kinh phí đầu tư cho công tác đào tạo còn hạn chế; việc xây dựng kế hoạch, ưu tiên đào tạo đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ chưa được quan tâm đúng mức
C Nhu cầu đào tạo, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ các lĩnh vực tài nguyên và môi trường
Theo đánh giá của “Đề án đào tạo, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường” thì đến năm 2020 các lĩnh vực tài nguyên và môi trường có nhu cầu đào tạo, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ cụ thể như sau:
- Lĩnh vực biển và hải đảo, định hướng nâng cao trình độ, phát triển kiến thức và
kỹ năng làm việc cho nguồn nhân lực; đào tạo các nhóm nguồn nhân lực trong khu vực hành chính, nhân lực khoa học và công nghệ, nhân lực trong khu vực sự nghiệp chủ yếu thực hành công việc chuyên môn; đào tạo nhân lực làm công tác xây dựng chính sách, chiến lược và việc tổ chức thực hiện chiến lược Đến năm 2020, đào tạo 08 tiến sĩ, 02 thạc sĩ, 01 nghiên cứu sau tiến sĩ ở nước ngoài và phong hàm giáo sư, phó giáo sư 03 người; bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ năng và kiến thức, kỹ năng quản lý khoa học và công nghệ đối với 14 người trong nước và ngoài nước
- Lĩnh vực địa chất và khoáng sản: đào tạo đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học
và công nghệ để thay thế, bổ sung cho lực lượng cán bộ sẽ nghỉ hưu theo chế độ, bổ sung để thực hiện các nhiệm vụ của ngành địa chất khoáng sản Đến năm 2020, cần đào tạo 32 tiến sĩ, 50 thạc sỹ, 02 nghiên cứu sau tiến sĩ ở nước ngoài; bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ năng và kiến thức, kỹ năng quản lý khoa học và công nghệ đối với 400 người trong nước và ngoài nước (khoảng 300 người đào tạo trong nước, 100 người đào tạo ở nước ngoài, tập trung vào lĩnh vực tiếng Anh, Trung, điều tra khoáng sản ẩn sâu, điều tra khí đá phiến và điều tra khoáng sản biển (trừ dầu khí))
Trang 1818
- Lĩnh vực đất đai: đào tạo đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ tập
trung vào các nội dung: nghiên cứu, cung cấp hệ thống cơ sở lý luận, thực tiễn làm căn
cứ cho việc xây dựng, hoạch định chiến lược phát triển; nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong công tác điều tra, đánh giá tài nguyên đất, đo đạc lập bản
đồ, xây dựng hệ thống thông tin đất đai, tin học hóa và tự động hóa trong các lĩnh vực chuyên môn quản lý đất đai, luật học, định giá đất; hiện đại hoá công nghệ, kỹ thuật phục vụ nghiên cứu khoa học - công nghệ; đánh giá để đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng đất ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu Đến năm 2020, cần đào tạo 12 tiến
sĩ, 33 thạc sỹ, 01 nghiên cứu sau tiến sĩ ở nước ngoài, phong hàm giáo sư, phó giáo sư
04 người; bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ năng và kiến thức, kỹ năng quản lý khoa học và công nghệ đối với 1.400 người trong nước và ngoài nước
- Lĩnh vực môi trường:mục tiêu đào tạo theo các nhóm đối tượng cán bộ lãnh
đạo, quản lý cấp trung ương và địa phương; cán bộ nghiên cứu, phát triển công nghệ cần được đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật công nghệ, kỹ thuật chuyên môn ở các nước phát triển Đến năm 2020, cần đào tạo 12 tiến sĩ, 33 thạc sỹ, 01 nghiên cứu sau tiến sĩ ở nước ngoài, phong hàm giáo sư, phó giáo sư 08 người; bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ năng và kiến thức, kỹ năng quản lý khoa học và công nghệ đối với 1.000 người trong nước và ngoài nước
- Lĩnh vực đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý: đến năm 2020, cần đào tạo 26 tiến
sĩ, 115 thạc sỹ, 06 nghiên cứu sau tiến sĩ ở nước ngoài; bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ năng và kiến thức, kỹ năng quản lý khoa học và công nghệ đối với 11.000 người trong nước và ngoài nước
- Lĩnh vực khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu: việc đào tạo, phát triển đội
ngũ chuyên gia tập trung vào việc nghiên cứu bản chất, nguồn gốc vấn đề biến đổi khí hậu để giải quyết thông qua các biện pháp giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu; nghiên cứu phát triển, ứng dụng các công nghệ mới thân thiện với khí hậu và phù hợp điều kiện biến đổi khí hậu hiện tại và tương lai; nghiên cứu, xử lý các vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao, xã hội… phát sinh do biến đổi khí hậu Đến năm 2020, cần đào tạo
35 tiến sĩ, 80 thạc sĩ; bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ năng và kiến thức, kỹ năng quản lý khoa học và công nghệ đối với 1.000 người trong nước và ngoài nước về luật quốc tế và biến đổi khí hậu; hệ thống đo đạc, báo cáo, kiểm chứng; kiểm kê khí nhà kính; đánh giá tác động của các biện pháp ứng phó; giám sát đóng góp của Việt Nam và thẩm định đóng góp của các nước cho ứng phó BĐKH toàn cầu; nghiên cứu và phát triển thị trường cácbon
- Lĩnh vực quản lý tài nguyên nước: đào tạo nguồn nhân lực ổn định, chất lượng
cao, phù hợp với yêu cầu quản lý tổng hợp, bền vững tài nguyên nước Từ nay đến năm
2020, cần đào tạo 08 tiến sĩ, 45 thạc sĩ, 01 nghiên cứu sau tiến sĩ; bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ năng và kiến thức, kỹ năng quản lý khoa học và công nghệ đối với 50 người trong nước và ngoài nước
- Lĩnh vực viễn thám:Đến năm 2020, cần đào tạo 20 tiến sĩ; bồi dưỡng nghiệp vụ,
chuyên môn, kỹ năng và kiến thức, kỹ năng quản lý khoa học và công nghệ đối với 50 người trong nước và ngoài nước
Trang 1919
- Đối với các lĩnh vực tổng hợp: từ nay đến năm 2020, cần đào tạo 35 tiến sĩ, 55
thạc sĩ; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng mềm đối với 1.000 người
Nhận xét:
Từ các thống kê nêu trên cho thấy nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ nói chung, nhu cầu đào tạo, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học
và công nghệ nói riêng của các lĩnh vực tài nguyên và môi trường là rất lớn
Các thống kê cũng chỉ ra rằng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ năng và kiến thức, kỹ năng quản lý khoa học và công nghệ là rất cần thiết ở tất
cả các lĩnh vực tài nguyên và môi trường
15.2 Luận giải về việc đặt ra mục tiêu và những nội dung cần nghiên cứu của đề tài
(Trên cơ sở đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, phân tích những công trình nghiên cứu có liên quan, các đề án/dự án chuyên môn và những kết quả mới nhất trong lĩnh vực nghiên cứu đề tài, đánh giá những khác biệt về trình độ KH&CN trong nước và thế giới, những vấn đề đã được giải quyết, cần nêu rõ những vấn đề còn tồn tại, chỉ ra những hạn chế cụ thể, từ đó nêu được hướng giải quyết mới - luận giải
và cụ thể hoá mục tiêu đặt ra của đề tài và những nội dung cần thực hiện trong đề tài
để đạt được mục tiêu)
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước kết hợp với hiện trạng thực tế về công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ lĩnh vực tài nguyên và môi trường nhận thấy: Nhu cầu về nhân lực khoa học và công nghệ của tất cả các lĩnh vực thuộc ngành tài nguyên và môi trường rất cao trong giai đoạn hiện nay và tương lai Tuy nhiên hiện Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa xây dựng hệ thống các chương trình đào tạo, bồi dưỡng dành riêng cho chuyên gia, cán bộ khoa học
và công nghệ của Bộ nói riêng và của cả nước nói chung Điều này dẫn đến việc có thể
có nhiều khó khăn trong công tác quản lý và định hướng phát triển khoa học công nghệ của các lĩnh vực mà Bộ quản lý
Mặt khác, Quyết định số 2190/QĐ-BTNMT ngày 23 tháng 9 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phê duyệt Đề án đào tạo và phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2016 – 2020 bao gồm một số nội dung quan trọng sau:
Về quan điểm:
a) Đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định sự phát triển khoa học và công nghệ, là khâu đột phá trong phát triển nhân lực ngành tài nguyên và môi trường
b) Đào tạo, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ gắn kết chặt chẽ với thu hút và sử dụng, có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, đơn vị trong
và ngoài Bộ Tài nguyên và Môi trường; đa dạng hóa nguồn lực đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng, thu hút sử dụng đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ
Trang 2020
c) Xác định cụ thể đối tượng, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng khả thi, hiệu quả theo từng giai đoạn để đào tạo, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ
Về mục tiêu:
a) Mục tiêu tổng quát
Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức, kỹ năng nghiên cứu và triển khai đối với đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ; hình thành đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, tiếp thu, làm chủ, phát triển công nghệ tiên tiến, hiện đại trong các lĩnh vực quản lý thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường
b) Các chỉ tiêu cụ thể
- Đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ: Đào tạo 200 thạc sĩ, 50 - 60 tiến sĩ, 15 - 20 nghiên cứu sau tiến sĩ các lĩnh vực tổng hợp và lĩnh vực chuyên ngành tài nguyên và môi trường Bồi dưỡng khoảng 200 người về chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức, kỹ năng quản lý khoa học và công nghệ
- Đào tạo, bồi dưỡng theo nhóm nghiên cứu: Đào tạo, bồi dưỡng 0 8 - 1 0 nhóm nghiên cứu thuộc 08 lĩnh vực quản lý và các lĩnh vực tổng hợp của Bộ nhằm hình thành các nhóm nghiên cứumạnh có đủ năng lực giải quyết các nhiệm vụ khoa học và công nghệ quan trọng của ngành, lĩnh vực; nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp nhà nước và quốc tế
Như vậy, để thực hiện được Quyết định số 2190/QĐ-BTNMT nêu trên thì việc nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học, xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ cho các lĩnh vực (03 lĩnh vực) biển và hải đảo; đất đai; đo đạc và bản đồ nói riêng và tất cả các lĩnh vực mà Bộ đang quản lý nói chung là rất cần thiết và thiết thực trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai
16 Liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài đã trích dẫn khi đánh giá tổng quan
1 Nguyễn Bắc Son (2005), Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH nhà nước, Luận án tiến sĩ Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
3 Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức (2004), Lý luận dạy học đại học, NXB Đại học Sư Phạm, Hà Nội
4 Quyết định Số: 711/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 13 tháng 06 năm
2012, về chiến lược phát triển giáo dục từ năm 2011 đến năm 2020
5 Trần Mai Ước (2011), Giáo dục Việt nam trong xu thế hội nhập, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, trường Đại học Ngân hàng Tp.HCM, Số 67
6 Đề án “Phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế”
Trang 2121
7 Albert Schein, Những bài học thần kỳ từ Xinh-ga-po, 1996
8 Bộ Lao động Hoa Kỳ, Từ điển chức danh nghề nghiệp, (4th Ed., Rev 1991)
9 Bộ Khoa học và Công nghệ, Sách khoa học và công nghệ Việt Nam, 2003
10 Liên hợp quốc, Hệ thống chức danh nghề nghiệp Hàn Quốc, 2012
11 Nguyễn Quân, Bộ trưởng Nguyễn Quân nói về tình hình nghiên cứu khoa học, Báo điện tử chính phủ, 2013
12 OECD và Cục Thống kê Liên minh châu Âu Eurostat, The measurement of scientific and technological activities, Paris, 1995, p.69
13 OECD, Báo cáo Đánh giá chính sách đổi mới của các nước Đông Nam Á,
2013
14 Văn phòng Đánh giá Công nghệ, Quốc hội Hoa Kỳ, Báo cáo “Một số cách nhìn nhận về vai trò của Khoa học và Công nghệ trong Phát triển bền vững”, OTA-ENV-609, tháng 9/1994
15 Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008), Giáo tŕnh Kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà nội;
16 Nguyễn Anh Dũng (2008), Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo, KH&CN gắn với xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH của một số nước Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội;
17 Nguyễn Thị Hoàng (2006), Luận văn thạc sỹ “Giải pháp phát triển nhân lực KH&CN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”;
18 Quốc hội (2013), Luật Khoa học và công nghệ;
19 Trung ương 8 khoá XI (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW Ban Chấp hành Trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ngày 4/11/2013;
20 Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), “Cẩm nang về đo lường nguồn nhân lực KH&CN”, xuất bản tại Pari, 1975, tr.49;
21 Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020;
22 Thủ tướng Chính phủ (2011), Nghị quyết số 39/NQ-CP ngày 04/10/2010 của Chính phủ về việc triển khai xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực các Bộ, ngành, địa phương giai đoạn 2011-2020;
23 Đào Ngọc Tiến (2013), Các phương thức gắn kết đào tạo của các trường đại học với doanh nghiệp, http://www.khoahocvacongnghevietnam.com.vn/khcntrung-uong/4209-cac-phuong-thuc-gan-ket-hoat-dong-dao-tao-cua-truong-dai-hocvoi-doanh-nghiep.html;
24 Khánh Minh (2016), Đào tạo phải gắn nhu cầu xă hội, http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/30612002-dao-tao-phai-gan-voi-nhu-
caucua-xa-hoi.html;
Trang 2227 lai.548365/;
sẽ bao gồm:
Xây dựng thuyết minh đề cương đề tài
Nội dung 1: Nghiên cứu tổng quan trên thế giới và trong nước về xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ cho các lĩnh vực biển và hải đảo; đất đai; đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý
Công việc 1.1: Tổng quan trên thế giới về xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng
cho đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ
Công việc 1.2: Tổng quan trong nước về xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng
cho đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ
Công việc 1.3: Tổng quan tình hình về công tác đào tạo, bồi dưỡng và thực trạng đội
ngũ cán bộ khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực biển và hải đảo; đất đai; đo đạc và bản
đồ và thông tin địa lý tại Việt Nam
- Tổng quan về công tác đào tạo, bồi dưỡng và thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực biển và hải đảo tại Việt Nam;
- Tổng quan về công tác đào tạo, bồi dưỡng và thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực đất đai tại Việt Nam;
- Tổng quan về công tác đào tạo, bồi dưỡng và thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý tại Việt Nam
Công việc 1.4 Tổng quan về xu hướng đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ khoa
học và công nghệ trên thế giới lĩnh vực biển và hải đảo; đất đai; đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý
Công việc 1.5 Dịch tài liệu về bồi dưỡng chuyên gia cán bộ khoa học và công nghệ
của một số nước tiên tiến trên thế giới
Lựa chọn một số tài liệu về bồi dưỡng chuyên gia cán bộ khoa học và công nghệ ở một số nước tiên tiến trên thế giới làm nguồn tài liệu tham khảo, tài liệu kinh nghiệm trên thế giới Từ đó, có những vận dụng đối với xây dựng chương trình tài liệu của
đề tài nghiên cứu
Trang 2323
Nội dung 2: Điều tra khảo sát, phân tích thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ thuộc lĩnh biển và hải đảo; đất đai; đo đạc và bản đồ
Công việc 2.1: Điều tra, khảo sát thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của đội
ngũ cán bộ khoa học và công nghệ thuộc lĩnh biển và hải đảo; đất đai; đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý
- Đối tượng điều tra, khảo sát: Cán bộ khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực biển
và hải đảo; đất đai; đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý
- Phạm vi điều tra khảo sát: Các Viện, Trường đào tạo và đơn vị liên quan thuộc
Bộ Tài nguyên và Môi trường, gồm:
+ Tổng cục Biển và Hải đảo
+ Tổng cục Quản lý đất đai
+ Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam
+ Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
+ Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu
+ Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
+ Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh
- Hình thức điều tra, khảo sát: Phiếu điều tra khảo sát và phỏng vấn sâu đối tượng điều tra khảo sát
- Công việc thực hiện gồm:
• Thiết kế mẫu phiếu điều tra, khảo sát
Thiết kế 06 mẫu phiếu điều tra, khảo sát gồm 03 mẫu phiếu tổ chức và 03 mẫu phiếu
cá nhân cho 03 lĩnh vực biển và hải đảo; đất đai; đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý
• Hội thảo góp ý mẫu phiếu điều tra, khảo sát: 01 cuộc hội thảo, 01 buổi
• Hoàn thiện mẫu phiếu điều tra, khảo sát
• Điều tra, khảo sát và phỏng vấn theo mẫu phiếu đã hoàn thiện
• Số lượng phiếu điều tra, khảo sát
- Phiếu tổ chức: 20 phiếu
- Phiếu cá nhân: 300 phiếu (03 lĩnh vực * 100 phiếu/lĩnh vực = 300 phiếu)
• Thực hiện điều tra khảo sát tại Thành phố Hà Nội, gồm Trường Đại học Tài nguyên
và Môi trường Thành phố Hà Nội và một số đơn vị thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo; Tổng cục Quản lý đất đai; Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam; Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ; Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu:
- Thời gian: 10 ngày làm việc
- Số phiếu: 220 phiếu
- Số người: 05 người
• Thực hiện điều tra khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh, gồm Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh và một số đơn vị thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo; Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam:
- Thời gian: 03 ngày làm việc
Trang 2424
- Số phiếu: 80 phiếu
- Số người: 03 người
• Tổng hợp và phân tích kết quả điều tra khảo sát, phỏng vấn sâu, thống kê dữ liệu
từ các cuộc khảo sát: Thiết kế chương trình nhập liệu điều tra khảo sát; Tổng hợp
và làm sạch, xử lý thông tin dữ liệu từ các cuộc điều tra, khảo sát, phỏng vấn sâu; Nhập liệu phiếu điều tra khảo sát, phỏng vấn sâu
Tổng hợp và phân tích số liệu, dữ liệu thu thập được và xây dựng báo cáo chuyên
đề kết quả điều tra khảo sát lĩnh vực biển và hải đảo; lĩnh vực đất đai; lĩnh vực
đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý
Công việc 2.2: Xây dựng báo cáo thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của cán
bộ khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực biển và hải đảo; đất đai; đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý
- Xây dựng báo cáo thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ cho các lĩnh vực biển và hải đảo:
+ Xây dựng báo cáo thực trạng về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ cho lĩnh vực biển và hải đảo
+ Xây dựng báo cáo nhu cầu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ cho lĩnh vực biển và hải đảo
- Xây dựng báo cáo thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ cho lĩnh đất đai:
+ Xây dựng báo cáo thực trạng về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ cho lĩnh vực biển và hải đảo
+ Xây dựng báo cáo nhu cầu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ cho lĩnh vực biển và hải đảo
- Xây dựng báo cáo thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ cho lĩnh vực đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý
+ Xây dựng báo cáo thực trạng về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ cho lĩnh vực biển và hải đảo
+ Xây dựng báo cáo nhu cầu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ cho lĩnh vực biển và hải đảo
Nội dung 3 Xây dựng báo cáo về cơ sở khoa học phục vụ xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ các lĩnh vực biển
và hải đảo; đo đạc và bản đồ
Công việc 3.1: Xây dựng báo cáo về cơ sở khoa học phục vụ xây dựng chương
trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ lĩnh vực biển và hải đảo
Công việc 3.2: Xây dựng báo cáo về cơ sở khoa học phục vụ xây dựng chương
trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ lĩnh vực đất đai
Công việc 3.3: Xây dựng báo cáo về cơ sở khoa học phục vụ xây dựng chương
trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ lĩnh vực đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý
Trên cơ sở các nội dung nghiên cứu tổng quan trên thế giới và trong nước; thực trạng và nhu cầu; từ đó xác lập được luận cứ khoa học xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ các lĩnh vực biển và hải đảo; đất đai; đo đạc,