Mô tả ngắn gọn giải pháp đã biết: Sơ đồ tư duy là một lợi thế trong môn học có các hình ảnh trực quan như môn sinh học đã được chú trọng quá trình khái quát kiến thức, củng cố kiến thức
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO TÓM TẮT HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN
(Tên sáng kiến: Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học môn sinh học 9 tại
trường PTDT BT THCS Cao Sơn)
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Hạnh Trường PTDT BT THCS Cao Sơn- huyện Mường Khương
Mã số: ……… (tác giả không ghi vào phần này)
1 Tình trạng giải pháp đã biết:
1.1 Mô tả ngắn gọn giải pháp đã biết:
Sơ đồ tư duy là một lợi thế trong môn học có các hình ảnh trực quan như môn sinh học đã được chú trọng quá trình khái quát kiến thức, củng cố kiến thức trong các chương, bài học có lượng kiến thức nhiều Tuy nhiên giáo viên các bộ môn đang dừng lại ở việc dạy học lý thuyết dạng diễn giải, ghi theo dạng văn xuôi, nội dung ghi nhớ dài, tổng hợp kiến thức chưa rõ ràng, dễ gây nhầm lẫn cho học sinh, học sinh ghi nhớ dạng học vẹt chưa phân biệt được các kiến thức trọng tâm, học trước quên sau
Học sinh không hứng thú, không kích thích được tư duy tự nhiên cho các em
1.2 Ưu khuyết điểm của giải pháp đã, đang được áp dụng tại cơ quan, đơn vị:
* Ưu điểm: Tại đơn vị trường đã chủ động xây dựng kế hoạch giáo dục chú trọng thời lượng trải nghiệm là 5-10 % thời lượng của bộ môn
Nhìn chung sau mỗi hoạt động các em học sinh đều tỏ ra hứng thú, thích được thực hành đặc biệt là các tiết ngoài trời
Giáo viên xây dựng nội dung tiết học đảm bảo các nội dung, yêu cầu gần như một tiết thực hành
Chúng ta tiếp thu các kiến thức dưới dạng hình ảnh, sơ đồ trực quan nhanh hơn 60.000 lần so với những kiến thức dưới dạng chữ“ Điều đó cho thấy sức mạnh của hình ảnh tác động tới não bộ của chúng ta tới nhường nào
Chỉ tiếp nhận lượng kiến thức khổng lồ hàng ngày qua các con chữ là một điều “bất khả thi” với bất kỳ ai Bản đồ tư duy sẽ công cụ hỗ trợ đắc lực cho chúng ta trong việc tiếp thu kiến thức học tập
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, việc tiếp thu kiến thức qua hình ảnh trực quan thường dễ dàng hơn việc tiếp thu kiến thức qua con chữ đơn thuần
Thông qua những hình vẽ trực quan, chúng ta không còn bị gò bó qua những con chữ và số khô khan Mọi việc dường như vượt xa mọi khuôn khổ cho phép Giờ đây, bạn dễ dàng tìm cho mình những ý tưởng mới lạ, khám phá những chân trời mới qua sự liên kết của những ý tưởng lớn
Ngay khi ra đời, Sơ đồ tư duy đã được PR một cách mạnh mẽ nhờ cha
Mẫu 1
Trang 2đẻ Tony Buzan, và đã trở thành một hiện tượng Song hầu hết mọi người dùng
nó một cách gượng ép, dẫn tới không hiệu quả Suy cho cùng, bản chất của Sơ
đồ tư duy là một cách sắp xếp lại thông tin, thay vì ghi chép theo từng dòng, thì bây giờ bạn viết từ… giữa tờ giấy ra!
*Tồn tại:
Các hình ảnh của sơ đồ tư duy đôi khi thu hút học sinh theo hướng quan sát hình mà quên mất ghi nhớ kiến thức tổng hợp
Giáo viên sử dụng quá nhiều hình ảnh sơ đồ tư duy trong các tiết học, tạo
ra sự nhàm chán, không hứng thú, mất đi kĩ năng vận dụng kiến thức của học sinh
Một số học sinh rất thụ động, chưa biết cách khai thác kiến thức trong sơ
đồ tư duy
2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
2.1 Mục đích của giải pháp:
Hệ thống kiến thức bằng sơ đồ tư duy trong các hoạt động củng cố kiến thức là các hoạt động giáo dục thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một bộ phận của quá trình giáo dục được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp và có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học
Thông qua những hình vẽ trực quan, chúng ta không còn bị gò bó qua những con chữ và số khô khan Mọi việc dường như vượt xa mọi khuôn khổ cho phép Giờ đây, bạn dễ dàng tìm cho mình những ý tưởng mới lạ, khám phá những chân trời mới qua sự liên kết của những ý tưởng lớn
Thông qua các hoạt động dạy học, hệ thống kiến thức bài học, kiến thức của từng chương bằng khả năng ghi nhớ, học sinh sẽ phát huy vai trò tổng hợp nội dung chính, trọng tâm, tư duy logic, tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân
Các em được tham gia thiết lập các sơ đồ tư duy, hệ thống kiến thức trọng tâm của bài, từ đó ghi nhớ lâu kiến thức đã học, dễ dàng phân biệt cấu tạo
và chức năng, giữa các bộ phận,
Học sinh ý thức được trách nhiệm của bản thân vận dụng và liên hệ đưa ra những lập luận giải quyết những vấn đề đang gặp phải, sáng tạo trong việc ghi nhớ kiến thức
Khi thực hiện, bản thân tôi cảm thấy bất ngờ về kết quả thu được Đa số các em đều hào hứng phấn khởi, yêu thích môn học Nhiều em bộc lộ rõ năng khiếu của mình như sáng tạo khi lập sơ đồ ghi nhớ kiến thức, kĩ năng làm họa sĩ
có những cách thể hiện đặc sắc kiến thức trong cây tư duy của mình
Ngay cả một số em học sinh cá biệt thường ít khi vận động, ít khi thuộc bài, ngại giao tiếp nhưng khi tham gia các hoạt động đã hào hứng, nhiệt tình (phát huy năng lực cá nhân) Đó là sự động viên rất lớn đối với giáo viên chúng tôi Khi học tập dưới dạng hệ thống kiến thức bằng sơ đồ tư duy sẽ giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách chủ động, tích cực, sáng tạo, tiếp cận và phát triển năng lực của các em học sinh
Trang 32.2 Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp so với giải pháp đã, đang được áp dụng; mô tả chi tiết bản chất của giải pháp:
Bản thân tôi đã linh hoạt trong việc tổ chức hoạt động có nội dung trải nghiệm sáng tạo (có kiến thức thực hành) theo các bước khi tổ chức một hoạt động trải nghiệm sáng tạo, đồng thời linh hoạt vận dụng 4 phương pháp:
Phương pháp trò chơi:
Học sinh vừa học, vừa chơi, từ việc chơi đó các em rút ra được kiến thức
về sinh sản ở cây xanh như phân biệt các nhóm quả, kể tên được các nhóm quả, lấy ví dụ thực tế
Phương pháp sắm vai:
Học sinh đóng vai mình là bác sĩ khám mắt cho bệnh nhân, từ việc phát hiện thị lực của học sinh sẽ đưa ra lời khuyên của một chuyên gia (bạn này nhìn gần, bạn kia nhìn xa, biện pháp vệ sinh học đường)
Phương pháp hoạt động nhóm:
Học sinh được trải nghiệm kĩ năng khéo léo trong ứng dụng của phương pháp sinh sản vô tính như giâm, chiết, ghép cành đối với cây ăn quả…
Phương pháp nêu vấn đề:
Học sinh đặt vào trường hợp sau khi đo chiều cao, cân nặng cho các bạn học sinh trong lớp, tính chỉ số BMI của từng bạn, sau khi đánh giá các em liên
hệ ngay được với cuộc sống hàng ngày để đảm bảo cân bằng chất dinh dưỡng cho tuổi dậy thì…
2.3 Mô tả chi tiết nội dung của giải pháp: (phần này yêu cầu báo cáo chi tiết như cách làm, các bước, các biện pháp, giải pháp… nêu cụ thể):
Để tổ chức một tiết trải nghiệm cần thực hiện tuần tự các bước sau:
Bước 1 Giúp học sinh xây dựng ý tưởng
Bước 2 Học sinh phải định hình những công việc cần làm làm là gì? Tổ
chức ở đâu? Những ai thực hiện? Cần có sự giúp đỡ của ai ở trong hoặc ngoài nhà trường? Cần những gì về cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng… để thực hiện
Vì thế phát huy vài trò của học sinh từ bước 2 là quan trọng để các em làm tốt các bước tiếp theo
Bước 3 Giáo viên theo dõi, giúp đỡ học sinh việc chuẩn bị thực sự phải an
toàn về mọi mặt: Sức khỏe, tác phong, lời nói, ăn mặc, đồ dùng, dụng cụ , phục vụ cho hoạt động Đặc biệt giáo viên có thể tập huấn, hướng dẫn cho các
em các năng cách ghi chép, phỏng vấn hoặc dự đoán tình huống nảy sinh khi thực hiện, cách giải quyết…
Bước 4 Học sinh tiến hành thực hiện công việc.
Trong quá trình các em thực hiện, giáo viên cần giúp đỡ và theo dõi, giải quyết tình huống nảy sinh và sự sáng tạo trong cách giải quyết của các em Giúp giáo viên có thể đánh giá đúng những phẩm chất năng lực của các em
Bước 5 Học sinh tự đánh giá lại quá trình hoạt động.
Nội dung đánh giá phải được tổng hợp lại từ việc xây dựng ý tưởng đến tất cả các bước tổ chức thực hiện, kết quả công việc và ý nghĩa của nó, những bài học kinh nghiệm về mọi mặt giúp việc giao tiếp được mạnh dạn, tự tin, ý thức trách nhiệm của các em được bộc lộ
Trang 4Dưới dây là vận dụng các phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong một số tiết trải nghiệm sáng tạo môn KHTN sinh học khối 6,7,8 tại trường PTDT BT THCS La Pan Tẩn
2 3.1 Phương pháp trò chơi
Thực hiện trên lớp 6b
Tiết 24, bài 15 Cơ quan sinh sản của cây xanh.
Hoạt động luyện tập Trò chơi ai nhanh hơn
Mục tiêu: Hình thành kĩ năng quan sát, xác định các cơ quan sinh sản của cây xanh như phân biệt các nhóm quả
Hoạt động 1.
Giáo viên yêu cầu học sinh hoạt động chơi trò chơi: Phân loại các loại quả, hoa
Cử một học sinh làm quản trò (lớp phó học tập)
Học sinh chơi trò chơi: Ai nhanh hơn
Chọn học sinh thực hiện thành hai đội, mỗi đội 5 học sinh
Phổ biến luật: Mỗi bạn được đánh 1 dấu X vào loại quả mà mình chọn, sau đó nhanh chóng đến lượt bạn tiếp theo cứ như vậy xác định nhanh các loại quả trong 5 phút
Học sinh trải nghiệm hoàn thành bảng- tài liệu trang 93- KHTN 6
Quan sát các loại quả trong hình, xác định và xếp vào nhóm quả cho phù hợp: Quả thịt, quả khô
Gv lưu ý: Trong cùng một đội, nếu bạn chơi trước đã dánh dấu V hoặc X vào loại quả được chọn thì bạn chơi sau không được sửa
Các bạn còn lại cổ vũ cho hai đội chơi
Quản trò đánh giá kết quả hoạt động của các nhóm
Mỗi loại quả xác định đúng được tính 1 điểm
Đội nào kể, xác định nhanh và chính xác nhiều đáp án nhất trong khoảng thời gian quy định sẽ giành chiến thắng
Từ đây nhận xét sự phân loại quả của các đội đã đúng chưa
Đánh giá được quá trình học tập các bạn đã hiểu bài và liên hệ được với thực tế chưa
Trang 5Hình ảnh: Bảng phụ trò chơi.
Quản trò đánh giá:
Quả thịt: Quả đu đủ, quả mơ, quả chanh, quả cà chua, quả táo
Quả khô: Quả cải, quả chò, quả bông, quả thìa là, quả đậu hà lan
Hình ảnh: Học sinh đánh giá kết quả của hai đội chơi
Hoạt động 2 Hãy kể tên một số quả thịt, quả khô.
Học sinh hoạt động nhóm, thảo luận trao đổi trong 3 phút
Mỗi đội trong khoảng thời gian 3 phút viết nhanh các loại quả và xếp vào nhóm cho phù hợp, đội nào kể nhanh, chính xác và được nhiều đáp án đúng sẽ giành chiến thắng.
Trang 6Hình ảnh: Học sinh thi kể các loại quả.
Hết thời gian thi đấu quản trò tổng hợp, nhận xét và đánh giá
Đội viết đúng chính tả, kể tên nhiều loại quả và xếp chính xác vào các nhóm sẽ giành chiến thắng
Hình ảnh: Quản trò đánh giá kết quả hai đội Quả thịt: Quả đào, quả mận, quả lê, quả chuối, quả cam, quả khế, quả cà chua…
Quả khô: Quả cải, quả dừa, quả đay, quả lạc, quả thìa là…
Quản trò đánh giá ý thức các bạn tham gia tích cực, sôi nổi
Xác định chính xác loại quả
Tuy nhiên tác phong của một số bạn còn chưa nhanh, viết chưa đúng chính tả
Trang 72.3.2 Phương pháp nêu vấn đề
Tiết 6- bài 25 Cơ thể khỏe mạnh( ngày 6/9/2018)
Chỉ số khối cơ thể BMI
Mục tiêu: Thực hành tự đánh giá sức khỏe cá nhân thông qua các chỉ số thể lực
Chuẩn bị: Cân y tế, thước dây
Công thức tính chỉ số BMI =Cân nặng: (chiều cao x chiều cao)
Chỉ số cơ thể BMI Phân loại BMI (kg/m2)
Theo WHO
BMI (kg/m2) Theo IDI & WPRO Cân nặng thấp (gầy) < 18,5
Giao nhiệm vụ: Học sinh thực hành theo 3 nhóm mỗi nhóm 8 bạn.
Trong nhóm cử ra một bạn là người đo chiều cao và cân cân nặng, một bạn là thư ký tổng hợp kết quả của nhóm
Sau khi đo chiều cao, các bạn cân để biết được cân nặng
Cuối cùng dùng công thức tính chỉ số BMI= Cân nặng: (chiều cao x chiều cao)
Học sinh thực hiện, giáo viên theo dõi, giúp đỡ
Hình ảnh: Các bạn lớp 8a đo chiều cao
Trang 8Hình ảnh: Cân cân nặng của các bạn học sinh lớp 8a
Giáo viên lưu ý học sinh khi đứng đo chiều cao đứng thẳng lưng, hai tay
để sát thân, đầu thẳng
Đánh giá kết quả:
Xử lý kết quả: Ví dụ tính BMI của bạn Chu:
Cao 1m35, nặng 33kg
BMI= 33: ( 1,35x 1,35) =18,1( gầy)
Kết quả của 3 nhóm với 23 bạn sau khi đã cân và đo được kết quả như sau:
12 bạn có chỉ số BMI đạt < 18,2( gầy)
11 bạn đạt mức 18,5-24,9( bình thường)
0 bạn đạt > 25( thừa cân)
Từ số liệu tổng quát thu được khi đo thực tế từng bạn học sinh cho thấy: 1/2 bạn học sinh trong lớp bị thiếu cân ( gầy) có bạn chỉ đạt 18,1
1/2 các bạn học sinh đảm bảo đủ số cân theo chuẩn
Từ kết quả thu được giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận liên hệ thực tế
và đưa ra các lời khuyên dành cho các bạn thiếu cân?
HS thảo luận và chia sẻ, đưa ra lời khuyên cho tất cả các bạn học sinh trong lớp:
+ Ăn đa dạng nhiều loại thực phẩm và đảm bảo đủ bốn nhóm: chất bột, chất đạm, chất béo, vitamin và muối khoáng
+ Phối hợp thức ăn nguồn đạm động vật và thực vật, nên ăn tôm, cua, cá
và đậu đỗ
+ Ăn phối hợp dầu thực vật và mỡ động vật hợp lý, nên ăn vừng lạc (mè, đậu phụng)
+ Nên sử dụng muối iốt, không ăn mặn
+ Cần ăn rau quả hằng ngày, uống bổ sung sữa
Trang 9+ Đảm bảo an toàn vệ sinh trong lựa chọn, chế biến và bảo quản thực phẩm
+ Uống đủ nước sạch hằng ngày
+ Tăng cường hoạt động thể lực, duy trì cân nặng hợp lý
+ Lao động vừa sức
2 3.3 Phương pháp sắm vai.
Tiết 13, bài 26 Phòng chống tật khúc xạ và cong vẹo cột sống.
Mục tiêu:
Phát hiện nhanh tật khúc xạ và nêu được nguyên nhân, biện pháp phòng tránh tật khúc xạ
Giáo dục ý thức ngồi học đúng tư thế, đọc sách đủ ánh sáng
+ Ý tưởng:
Học sinh đóng vai là bác sĩ trong việc đo thị lực kiểm tra mắt Sử dụng bảng thử thị lực để đánh giá thị lực của các bạn học sinh
+ Giao và thực hiện nhiệm vụ: Trong lớp 8a
Học sinh đóng vai trò là bác sĩ dùng que chỉ các kí hiệu vòng tròn trên bảng thử thị lực
Học sinh được thử thị lực đứng cách xa 5-6m
Học sinh lần lượt kiểm tra thị lực theo các cấp độ
Giáo viên hướng dẫn học sinh bịt một mắt bên trái, sau đó đổi lại bịt một mắt bên phải
Dựa vào việc phát hiện hướng mở của cung tròn để đánh giá, nếu học sinh chỉ sai ở cự lý thứ mấy trong bảng thì đánh giá học sinh có mắt đạt ở mức độ đó
Lưu ý khi chỉ tránh che mất độ mở của cung tròn.
Hình ảnh: Giáo viên hướng dẫn HS Hình ảnh: Học sinh sắm vai là bác sĩ
Trang 10Hình ảnh: Học sinh đo thị lực mắt trái Hình ảnh: Học sinh đo thị lực mắt phải
Hình ảnh: Học sinh đánh giá kết quả kiểm tra mắt Kết quả thu được:
10 bạn có mắt đạt 10/10
Trang 1111 bạn đạt mắt 9/10
1 bạn đạt 8/10
1 bạn mắt đạt 7/10
Nguyên nhân dẫn đến tật khúc xạ: Do bẩm sinh (cầu mắt dài), do di truyền, chế độ ăn uống thiếu chất ( thiếu vitamin B2, A), đọc sách hoặc làm việc khoảng cách gần trong thời gian quá lâu, thiếu ánh sáng…
Biện pháp phòng tránh tật khúc xạ (bạn học sinh bị cận): Giữ đúng khoảng cách trong học tập, học bài đủ ánh sáng, uống viên bổ mắt, không ngồi lâu trước máy tính, không chơi điện tử, kiểm tra mắt định kì…
Bổ sung các loại vitamin đặc biệt là vitamn A giúp sáng mắt, đeo kính cận
Tiết 26, bài 24 Hô hấp và vệ sinh hô hấp- KHTN 7.
Hoạt động C: Thực hành hô hấp nhân tạo.
Mục tiêu: Thực hành được hô hấp nhân tạo
+ Ý tưởng: Học sinh một người đóng vai nạn nhân, một người thực hiện động tác Giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện theo 3 nhóm lớn( 10 người một nhóm)
+ Chuẩn bị: Gối, chiếu cá nhân
Học sinh thực hiện hai nội dung:
- Phương pháp hà hơi thổi ngạt
- Phương pháp ấn lồng ngực
+ Cách thực hiện:
Phương pháp hà hơi thổi ngạt:
Đặt nạn nhân nằm ngửa, đầu ngửa ra phía sau
Bịt mũi nạn nhân bằng hai ngón tay
Tự hít một hơi đầy lồng ngực rồi ghé môi sát miệng nạn nhân và thổi hết vào phổi nạn nhân, không để không khí thoát ra ngoài chỗ tiếp xúc với miệng
Ngừng thổi đẻ hít rồi lại thổi tiếp
Thổi liên tục với 12-20 lần/phút cho tới khi quá trình hô hấp của nạn nhân được ổn định bình thường
Phương pháp ấn lồng ngực:
Đặt nạn nhân nằm ngửa, dưới lưng kê cao bằng một gối mềm để đầu hơi ngửa ra phía sau
Cầm nơi hai cẳng tay hay cổ tay nạn nhân và dùng sức nặng cơ thể ép vào ngực nạn nhân cho không khí trong phổi bị ép ra ngoài, sau đó dang tay nạn nhân đưa về phía sau đầu
GV kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh, yêu cầu học sinh sau khi thực hiện
sẽ nhận xét, chia sẻ
Học sinh thực hiện, giáo viên theo dõi, sửa sai: