Trên phạm vi pháp luật nước ngoài, ở một số quốc gia trong hệ thống pháp luật của mình đã ban hành các luật riêng quy định về vấn đề ATVSLĐ, có thể kể đến như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc.v.v…
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ CHUYÊN
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ, PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Văn Bính
Trang 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Bùi Thị Chuyên
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ATVSLĐ, PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VỀ ATVSLĐ 7
1.1 Khái quát về ATVSLĐ 7
1.1.1 TNLĐ và BNN - các tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của thế giới 7
1.1.2 Yêu cầu đặt ra về xây dựng Hệ thống quản lý ATVSLĐ 8
1.2 Pháp luật quốc tế về ATVSLĐ 11
1.2.1 Quan niệm về ATVSLĐ 11
1.2.2 Một số quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề ATVSLĐ 17
1.2.3 Vai trò của pháp luật quốc tế trong việc đảm bảo ATVSLĐ 25
1.3 Pháp luật một số quốc gia về ATVSLĐ 28
1.3.1 Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp của Hàn quốc 28
1.3.2 Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp của Nhật Bản 29
1.3.3 Bộ luật Lao động Philipin 31
1.3.4 Luật Sức khoẻ và an toàn nơi làm việc của Singapore 32
1.3.5 Kinh nghiệm xây dựng và triển khai Luật ATVSLĐ của một số quốc gia trên thế giới 34
Chương 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ATVSLĐ 37
2.1 Những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ 37
2.1.1 Những vấn đề lý luận về ATVSLĐ 37
2.1.2 Đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước 43
Trang 42.1.3 Thực tiễn về công tác ATVSLĐ ở Việt Nam 48
2.2 Những nội dung chính của Pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ 59
2.2.1 Các chế độ bảo đảm ATVSLĐ, chăm sóc sức khỏe người lao động 60
2.2.2 Các quy định về kỹ thuật ATVSLĐ 65
2.2.3 Các quy định nhằm bảo đảm và thúc đẩy thực hiện công tác ATVSLĐ 67
2.2.4 Quy định về ATVSLĐ trong một số Luật chuyên ngành 72
2.2.5 Đánh giá quy định pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ 78
2.3 Vấn đề chuyển hoá các quy định về ATVSLĐ của pháp luật quốc tế vào pháp luật Việt Nam 85
2.3.1 Nhận xét chung 85
2.3.2 Nghĩa vụ chuyển hoá Điều ước quốc tế vào pháp luật quốc gia 86
2.3.4 Các hoạt động hợp tác chuyên môn, kỹ thuật về ATVSLĐ đối với Việt Nam 88
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ATVSLĐ 93
3.1 Cơ sở hoàn thiện pháp luật về ATVSLĐ 93
3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về ATVSLĐ 96
3.2.1 Nhóm giải pháp về hoàn thiện chính sách, pháp luật 96
3.2.2 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện 98
3.2.3 Các giải pháp cụ thể 102
3.3 Sự cần thiết phải xây dựng Luật ATVSLĐ ở Việt Nam 103
3.3.1 Xây dựng Luật ATVSLĐ ở Việt Nam với các định hướng sau 104
3.3.2 Một số nội dung trọng tâm của Luật ATVSLĐ 105
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ATLĐ An toàn lao động
2 ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động
3 BHLĐ Bảo hộ lao động
4 BNN Bệnh nghề nghiệp
5 ĐKLĐ Điều kiện lao động
6 ILO Tổ chức Lao động Quốc tế
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
1 Bảng
Bảng 1.1: Một cách tiếp cận đa ngành đối với phát triển bền vững và công bằng 12
Bảng 1.2: Năm nguyên tắc và ba cấp độ cho một sức khỏe nghề nghiệp tốt 14
Bảng 2.1: Kết quả kiểm soát môi trường lao động 48
Bảng 2.2: TNLĐ theo thống kê từ báo cáo doanh nghiệp 50
Bảng 2.3: Tình hình BNN qua các giai đoạn 1976-2011 51
Bảng 2.4: Những nguyên nhân để xảy ra TNLĐ do NSDLĐ 52
Bảng 2.5: Những nguyên nhân để xảy ra TNLĐ do NLĐ 52
Bảng 2.6: Tổng hợp tình hình thanh tra, kiểm tra trên toàn quốc 54
2 Biểu đồ Biểu đồ 2.1: Biểu đồ về số vụ TNLĐ 49
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ về số người bị TNLĐ và cơ cấu giới tính 49
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài nghiên cứu
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc
tế, Việt Nam đã đạt được những thành tự to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra những tiền đề vững chắc đưa đất nước chuyển sang một thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhờ sự phát triển đó
và với những đổi mới trong công tác quản lý Nhà nước về lao động, công tác
an toàn vệ sinh lao động (sau đây viết tắt là ATVSLĐ) được quan tâm đầy đủ hơn, điều kiện làm việc, sức khỏe NLĐ từng bước được cải thiện Thực tiễn
đó thể hiện chính sách, chiến lược vì con người của Đảng và Nhà nước, luôn luôn chăm lo và coi trọng quyền và lợi ích của NLĐ
Bên cạnh đó, vấn đề về bảo vệ an toàn tính mạng và sức khoẻ con người cũng được quan tâm hơn Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề bảo hộ lao động (sau đây viết tắt là BHLĐ), công tác ATVSLĐ, điều này được thể hiện trong nội dung Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947, Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp 1992, Pháp lệnh BHLĐ năm 1991 và Bộ luật Lao động năm 1994 (được sửa đổi, bổ sung các năm
2002, 2006, 2007), kế thừa và phát huy các quy định trong Bộ luật Lao động trước đây, trong Bộ luật Lao động năm 2012, vấn đề ATVSLĐ được quy định thành một chế định riêng biệt, ngoài ra các quy định chi tiết, hướng dẫn của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã có tác dụng tích cực trong việc phòng ngừa tai nạn lao động (sau đây viết tắt là TNLĐ), bệnh nghề nghiệp (sau đây viết tắt là BNN), bảo vệ sức khỏe NLĐ, góp phần vào sự phát triển sản xuất, ổn định kinh tế - xã hội và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế, hòa nhập với các nước trong khu vực và hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong những năm gần đây do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau về việc làm, đời sống, sự xuống cấp
Trang 8và lạc hậu của thiết bị công nghệ, hạ tầng, tình hình vi phạm các quy định ATVSLĐ đã diễn ra ở nhiều nơi, nhiều cơ sở, nhất là trong lĩnh vực xây lắp, khai thác mỏ, giao thông dẫn đến hàng chục nghìn vụ TNLĐ chết người hoặc gây thiệt hại lớn về tài sản của nhà nước và nhân dân, số người bị thương tật
do TNLĐ, BNN tăng để lại hậu quả khôn lường cho xã hội, nhiều người tàn phế suốt đời…
Bên cạnh đó, các quy định về ATVSLĐ nằm rải rác, phân tán ở nhiều văn bản khác nhau từ các quy định của Bộ luật, Luật, Nghị định, Thông tư như hiện nay gây khó khăn cho việc thực hiện các quy định về ATVSLĐ, điều này đang tạo ra một hệ thống phức tạp, chồng chéo, gây khó khăn cho việc thực thi Nhiều tiêu chuẩn, quy chuẩn ban hành đã lâu, trở nên lạc hậu so với sự phát triển của sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đã nhấn mạnh một trong những quan điểm chỉ đạo là xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung
và pháp luật về ATVSLĐ nói riêng, đáp ứng yêu cầu của quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam và quá trình hội nhập Đồng thời, thực hiện Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26/11/2011 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 207/QĐ-TTg về việc phân công cơ quan chủ trì soạn thảo các dự án Luật, Pháp lệnh thuộc chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì xây dựng Dự án Luật ATVSLĐ
Để thực hiện tốt nhiệm vụ nói trên, đòi hỏi các tổ chức, cơ quan, cũng như các cán bộ được giao nghiên cứu xây dựng Luật ATVSLĐ trên
cơ sở quán triệt các quan điểm của Đảng, tình hình của đất nước, học tập kinh nghiệm quốc tế và kế thừa thành quả và kinh nghiệm thực tiễn trong
Trang 9thời gian qua, theo đó từng bước cải thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về ATVSLĐ, thực hiện việc ngăn chặn TNLĐ và bệnh tật liên quan đến lao động
Đề tài nghiên cứu “Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ” nhằm nghiên cứu và làm rõ những quy định của
pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ, qua đó tìm ra những thiếu hụt, những bất cập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tìm hiểu sự chuyển hóa pháp luật quốc tế vào pháp luật Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng pháp luật về ATVSLĐ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam phù hợp với xu thế hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
ATVSLĐ là vấn đề được quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều độc giả, những sản phẩm nghiên cứu được biết đến như: “Danh mục trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân”, NXB Lao động - Xã hội, 2004; “Công tác BHLĐ trong nông nghiệp, nông thôn”, NXB Lao động – Xã hội, 2010; “Hồ
sơ quốc gia về ATVSLĐ”, NXB Lao động – Xã hội; “Chiến lược toàn cầu về ATVSLĐ”, kết luận của Hội nghị Lao động quốc tế, kỳ họp thứ 91 của năm
2003, Văn phòng ILO, 2003; “Hệ thống quốc gia về ghi chép và thông báo về BNN”, Văn phòng ILO, 2013
Một số Báo, Tạp chí có những bài viết sâu sắc đánh giá về vấn đề ATVSLĐ như “Đánh giá rủi ro trong sản xuất theo nhóm các yếu tố nguy hiểm” TS Triệu Quốc Lộc Tạp chí BHLĐ tháng 4/2012
Đề tài khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu hiệu quả kinh tế xã hội của các giải pháp cải thiện môi trường và điều kiện làm việc cho NLĐ và xây dựng mối quan hệ với năng suất lao động nhằm nâng cao tính cạnh tranh và bảo vệ nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập” Chủ nhiệm đề tài GS.TS Lê Vân Trình, Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật BHLĐ, năm 2011; “Nghiên
Trang 10cứu xây dựng chiến lược và các biện pháp cơ bản để giám sát, dự phòng và xử
lý các nguy cơ ô nhiễm môi trường lao động ảnh hưởng tới sức khỏe NLĐ” Chủ nhiệm đề tài PGS TS Nguyễn An Lương, Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật BHLĐ, năm 2000.v.v
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Thiết bị lọc bụi gỗ” TS Phạm Văn Hải, Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuât BHLĐ; “Nghiên cứu chế thử quần áo chống lạnh dùng cho công nhân làm việc trong các nhà lạnh” Nhóm nghiên cứu: Dược sỹ Trần Thanh Hương, Kỹ thuật viên Hồ Thị Mão - Viện BHLĐ; Kỹ sư Nguyễn Thị Bội - Xí nghiệp Chế biến Vi sinh Hà Nội; “Đánh giá thực trạng môi trường lao động về BNN trong ngành đường sắt” Nhóm nghiên cứu: Phạm Văn Hùng và Trung tâm Y tế dự phòng Đường sắt.v.v
Một số bài viết trên các báo, tạp chí, ví dụ Tạp chí Lao động - Xã hội, Báo điện tử Dân trí, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, http://www.ilo.org, http://statutes.agc.gov.sg.v.v
Vì vậy, nghiên cứu về ATVSLĐ không phải là một hiệu tượng mới nhưng lại là một đề tài được coi là “cần thiết”, cần có sự nghiên cứu nghiêm túc và kỹ lưỡng để có thể thấy vấn đề một cách toàn diện
Đối với luận văn này, trên cơ sở tham khảo một số tài liệu có liên quan, học viên đã tiếp cận vấn đề một cách nghiêm túc Từ việc nghiên cứu pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật trong nước về vấn đề này
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật quốc tế, nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng về ATVSLĐ ở Việt Nam làm rõ những bất cập trong hệ thống pháp luật hiện hành, những vướng mắc trong quá trình triển khai, thực hiện những quy định đã hoặc chưa phù hợp để đưa ra đề xuất
Trang 11sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, có tính đến việc học tập kinh nghiệm quốc tế về xây dựng pháp luật ATVSLĐ
4 Tính mới và những đóng góp của Đề tài
Nội dung về ATVSLĐ là một đề tài quan tâm của nhiều độc giả, nhiều nhà nghiên cứu, nên những công trình liên quan đến nghiên cứu vấn đề ATVSLĐ đã được quan tâm nhiều, tuy nhiên nghiên cứu về pháp luật quốc tế
và pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ thì chưa có nhiều Đề tài nghiên cứu mang tính xây dựng, trên cơ sở tham khảo bài viết của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học về vấn đề này đưa ra một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật trong nước về vấn đề này
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài chủ yếu hướng vào các đối tượng là NLĐ Việt Nam, người học nghề, tập nghề và một số đối tượng là lao động đặc thù, người sử dụng lao động (sau đây viết tắt là NSDLĐ), người lao động (sau đây viết tắt là NLĐ) nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của Đề tài tập trung vào hệ thống pháp luật quốc tế (Công ước quốc tế về nhân quyền và một số Công ước quốc tế của ILO), trong quá trình nghiên cứu có đề cập đến pháp luật về ATVSLĐ của một số quốc gia (Nhật Bản, Hàn Quốc, Philipin, Singapore) và nghiên cứu hệ thống pháp luật của Việt Nam về an toàn vệ sinh lao động
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu Đề tài, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có phương pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, phương pháp thống kê, thông qua thống kê các số liệu về
TNLĐ và quá trình áp dụng các quy định về ATLĐ trong các doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư nước ngoài,
Trang 12công ty liên doanh, công ty cổ phần.v.v
Thứ hai, phương pháp phân tích, học viên đưa ra những quy định của
pháp luật Việt Nam trên cơ đó phân tích những điểm phù hợp, những điểm chưa phù hợp với những quy định của Công ước
Thứ ba, phương pháp so sánh, trên cơ sở những phân tích và bình luận
về các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, học viên mạnh dạn đưa ra một số đánh giá
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về ATVSLĐ, pháp luật quốc tế và pháp luật nước
ngoài về ATVSLĐ
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ
Chương 3:Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về ATVSLĐ
Trang 13Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ATVSLĐ, PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VỀ ATVSLĐ
1.1 Khái quát về ATVSLĐ
1.1.1 TNLĐ và BNN - các tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của thế giới
Theo ước tính của Tổ chức lao động quốc tế (sau đây viết tắt là ILO) hàng năm có khoảng 337 triệu vụ Tai nạn lao động xảy ra trên thế giới và 2,3 triệu người chết do các bệnh liên quan đến lao động [88] Thiệt hại do TNLĐ, BNN ước tính khoảng 4% GDP của toàn thế giới Ở một số nước có thu nhập cao, khoảng 40% số người nghỉ hưu trước tuổi là bị thương tật do lao động Tính trung bình số thời gian bị rút ngắn này khoảng 5 năm, tương đương 14% độ dài thời gian có khả năng làm việc của lực lượng lao động Tính trung bình 5% lực lượng lao động nghỉ việc do ảnh hưởng sức khoẻ trong lao động, 1/3 số người thất nghiệp do bị suy giảm khả năng lao động, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tái sản xuất sức lao động của xã hội loài người Các nghiên cứu tình hình TNLĐ hàng năm trên thế giới cho thấy ở các quốc gia đang phát triển, tần suất TNLĐ chết người là 30 - 43 người/100.000 lao động [60]
Các số liệu thống kê tại Cộng đồng Châu Âu cho thấy, trong số 115 triệu NLĐ của Cộng đồng Châu Âu đã có hơn 10 triệu người bị TNLĐ hoặc BNN hàng năm Số người chết vì TNLĐ là hơn 8000 người/ năm Thiệt hại kinh tế khoảng 26 tỉ euro/năm Ở Đức, điều kiện lao động (sau đây viết tắt là ĐKLĐ) xấu gây thiệt hại là 52 tỉ đê mác/năm Ở Anh, chi phí cho người bị tai nạn bằng 4 - 8% tổng lợi nhuận của các công ty thương mại và công nghiệp của Anh Tại Hà Lan, chi phí cho TNLĐ, BNN bằng khoảng 4% GDP
Trang 14Tại Mỹ, mỗi ngày có khoảng 9.000 người bị thương tật do TNLĐ và 153 người chết do TNLĐ, BNN thiệt hại kinh tế hàng năm do tai nan lao động xảy ra trong công nghiệp là 190 tỉ đô la Mỹ [13]
Tại Châu Á, nhiều nước với sự năng động việc tập trung mọi nỗ lực cho phát triển kinh tế bắt đầu từ thập kỉ sáu mươi của thế kỉ 20 đã đem đến cho khu vực này một sự khởi sắc mới về phát triển kinh tế, xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống Nhiều công nghệ, kĩ thuật mới đã được đưa vào ứng dụng đã giải phóng sức lao động con người, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Tuy nhiên do quá tập trung cho phát triển kinh tế và chưa coi trọng đến công tác ATVSLĐ nên số vụ TNLĐ, ốm đau, bệnh tật đã tăng nhanh Tại hàng loạt nước công nghiệp phát triển như Hàn Quốc, Nhật bản.v.v TNLĐ, BNN đã có thể coi như “đại dịch”
Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (sau đây viết tắt là WHO) cho thấy, ĐKLĐ rủi ro, có hại đã góp phần gây ra sự hoành hành một số bệnh trên thế giới, cụ thể: 37% số người bị bệnh đau lưng, 16% số người bị tổn thương thính lực, 11% số người bị bệnh hen xuyễn, 10% số người bị thương tật, 9%
số người bị ung thư và 2% số người bị bệnh bạch cầu Ngoài ra, ĐKLĐ xấu cũng tác động không nhỏ đến cộng động xã hội, làm mỗi năm có thêm khoảng gần 310.000 người chết do bị những tổn thương liên quan đến lao động và 146.000 người chết vì bị bệnh ung thư liên quan đến lao động [76]
Tuy nhiên, phần lớn TNLĐ và BNN đều có thể phòng ngừa được với các biện pháp thích hợp, việc ngăn ngừa và giảm thiểu TNLĐ là vấn đề tôn trọng con người và quyền cơ bản của con người thông qua chương trình làm việc bền vững, xây dựng và ban hành chính sách lấy con người làm trung tâm, chú trọng các chính sách xã hội và phát triển bền vững
1.1.2 Yêu cầu đặt ra về xây dựng Hệ thống quản lý ATVSLĐ
Một trong những xứ mệnh của Tổ chức lao động quốc tế ILO là bảo vệ
Trang 15NLĐ khỏi những ốm đau, bệnh tật, tổn thương có liên quan đến công việc Bệnh tật và thương vong không có nghĩa là do nghề nghiệp cũng như không thể lấy đói nghèo để biện minh cho việc xem nhẹ vấn đề an toàn và sức khỏe của NLĐ Mục tiêu hàng đầu của tổ chức ILO là tạo thêm cơ hội cho NLĐ dù
là nam hay nữ có được công việc tốt và hữu ích trong điều kiện bình đẳng, bác ái, và an toàn, nói ngắn gọn là “công việc tốt” Theo ILO, công việc tốt là công việc an toàn, công việc an toàn cũng chính là nhân tố tích cực để tăng năng suất và phát triển kinh tế
Xuất phát từ mục đích trên, ILO đã ban hành “Hướng dẫn về hệ thống quản lý an toàn lao động” năm 2001, nhằm tạo một công cụ hỗ trợ thiết thực cho các tổ chức, các cơ quan có thẩm quyền cũng như các biện pháp để không ngừng hoàn thiện việc thực hiện công tác an toàn lao động (sau đây viết tắt là ATLĐ) Hệ thống quản lý ATLĐ mà tổ chức lao động quốc tế khuyến nghị chính là kết quả đút rút kinh nghiệm thực tế đa dạng ở nhiều nước, từ đó xây dựng thành một hệ thống khuyến nghị mang tính mục tiêu tác động tích cực trong việc giảm thiểu nguy cơ cũng như hợp lý hoá quá trình và tăng năng suất lao động, làm cho các khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế ngày càng được phổ biến rộng rãi và hình thành xu thế hội nhập của các nước đang phát triển Mục tiêu của hệ thống quản lý ATLĐ là góp phần bảo vệ NLĐ khỏi các nguy cơ rủi ro và dần tiến đến loại trừ mọi TNLĐ, BNN và giảm tỷ lệ tử vong liên quan đến quá trình lao động Đồng thời khuyến nghị của ILO có giá trị tham khảo và sử dụng trực tiếp trong việc hình thành khung hệ thống quản lý ATLĐ cấp quốc gia Bên cạnh đó còn giúp cho các cơ sở sản xuất chủ động tổ chức thực hiện việc tuân thủ các quy định và các tiêu chuẩn về ATLĐ đáp ứng những nhu cầu thực tế và phù hợp với tính chất hoạt động của đơn vị
Hướng dẫn của Tổ chức Lao động quốc tế đã nêu rõ quan điểm ATLĐ bao gồm việc tuân thủ các yêu cầu về ATLĐ theo đúng pháp luật và các quy
Trang 16định của quốc gia là trách nhiệm và nghĩa vụ của NSDLĐ, NLĐ cần được chỉ đạo và cam kết thực hiện các hoạt động ATLĐ và tạo điều kiện để thiết lập hệ thống ATLĐ tại cơ sở Hướng dẫn chỉ rõ khung quốc gia về hệ thống quản lý ATLĐ mà ILO khuyến nghị bao gồm 3 yếu tố chủ đạo: Chính sách quốc gia, hướng dẫn quản lý Nhà nước và hướng dẫn triển khai thực hiện
Trên cơ sở hướng dẫn về “Hệ thống quản lý ATLĐ” năm 2001 của ILO
đã tạo tiền đề cho việc định hướng cũng như hoàn thiện hệ thống quản lý ATLĐ và là tiêu chí chính thức để đánh giá công tác này trong hoạt động sản xuất ở các nước Hầu hết mô hình quản lý Nhà nước về ATLĐ ở các nước đều theo mô hình: Chính phủ giao trách nhiệm quản lý Nhà nước về an toàn cho các ngành: Lao động, y tế, công nghiệp, môi trường, giao thông vận tải.v.v… Một số nước tổ chức ngành kết hợp, ngành y tế kết hợp với khoa học công nghệ ở Trung Quốc, môi trường kết hợp với năng lượng ở Pháp
Hiện nay Việt Nam đang thúc đẩy và xây dựng Hệ thống quản lý ATVSLĐ của Việt Nam trên cơ sở hướng dẫn về “Hệ thống quản lý ATLĐ” như một công cụ thiết thực trong việc tăng cường ATVSLĐ, hướng dẫn này
sẽ là nền tảng cơ sở cho các cấp, các ngành, các cơ quan tổ chức, các cơ sở sản xuất xây dựng kế hoạch hành động để có thể áp dụng trực tiếp ở cơ sở Hướng dẫn về Hệ thống quản lý ATVSLĐ là một công cụ quốc tế quan trọng trong việc phát triển Hệ thống quản lý ATVSLĐ tại Việt Nam Hướng dẫn này đã có tác động tích cực trong việc nâng cao năng suất lao động, giảm thiểu nguy cơ và rủi ro trong sản xuất, được Chính phủ, NLĐ và người NSDLĐ trên thế giới công nhận Hướng dẫn này sẽ tạo ra cơ sở phù hợp và mang tính linh hoạt trong việc xây dựng văn hoá an toàn bền vững trong các
tổ chức, các doanh nghiệp và nơi làm việc
Tuy nhiên, khi xây dựng các hướng dẫn này Việt Nam cần đặc biệt lưu
ý đến quy mô, cơ sở hạ tầng của cơ sở sản xuất và các yếu tố nguy hiểm cũng như nguy cơ và mức độ rủi ro có thể xảy ra trong quá trình sản xuất
Trang 171.2 Pháp luật quốc tế về ATVSLĐ
1.2.1 Quan niệm về ATVSLĐ
Cụm từ “occupational safety and health” có nhiều cách dịch khác nhau
là “ATLĐ và sức khoẻ nghề nghiệp”, “ATLĐ, vệ sinh lao động và sức khoẻ nghề nghiệp”, “ATVSLĐ” theo cách hiểu chung nhất học viên dùng thuật ngữ
“ATVSLĐ” (sau đấy viết tắt là ATVSLĐ)
Trên phạm vi quốc tế vấn đề sức khoẻ, xét về mặt công việc, không chỉ là tình trạng không có bệnh tật, mà còn bao gồm cả các yếu tố thể chất
và tinh thần có tác động đến sức khoẻ và có liên quan trực tiếp đến ATLĐ
và vệ sinh lao động [67]
Từ năm 1950, Tổ chức Lao động quốc tế và Tổ chức Y tế Thế giới đã chia sẻ một định nghĩa chung về sức khỏe nghề nghiệp, định nghĩa này được thông qua bởi Ủy ban về sức khỏe nghề nghiệp tại phiên họp đầu tiên vào năm 1950 và được sửa đổi tại kỳ họp thứ mười hai trong năm 1995 Trong định nghĩa khuyến cáo, sức khỏe nghề nghiệp nên nhằm mục đích thúc đẩy
và duy trì mức độ cao nhất về các mặt vật chất, bảo vệ NLĐ khỏi các rủi ro
từ việc làm của họ do các yếu tố bất lợi cho sức khỏe, cần đặt và bảo đảm NLĐ làm việc trong môi trường nghề nghiệp phù hợp với khả năng sinh lý
và tâm lý của NLĐ
Trọng tâm chính trong sức khỏe nghề nghiệp là trên ba mục tiêu khác nhau: (i) duy trì và nâng cao sức khỏe NLĐ và khả năng lao động, (ii) cải thiện môi trường làm việc để việc làm trở thành an toàn và có lợi cho sức khoẻ và (iii) phát triển văn hóa làm việc theo hướng đảm bảo sức khỏe và an toàn tại nơi làm việc, khi đạt được các yếu tố trên sẽ thúc đẩy một môi trường xã hội tích cực và hoạt động trơn tru và có thể nâng cao năng suất lao động Khái niệm về văn hóa làm việc được nêu ra trong bối cảnh trên đã phản ánh các hệ thống giá trị chủ yếu thông qua các nhân tố có liên quan Văn hóa việc làm như vậy cần được áp dụng trong thực tế các hệ thống quản
Trang 18lý, chính sách nhân sự, nguyên tắc tham gia, chính sách đào tạo và quản lý chất lượng công việc [85]
Trong những năm 1980, khái niệm "phát triển bền vững" lần đầu tiên được nhấn mạnh, trong đó bao gồm "quyền có một cuộc sống lành mạnh và hài hòa với thiên nhiên" (nguyên tắc đầu tiên của Tuyên bố Rio, Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển) Mục tiêu của một môi trường an toàn và lành mạnh sẽ trở thành một phần của khái niệm phát triển bền vững, trong đó cũng có nghĩa cân bằng giữa bảo vệ sức khoẻ và cơ hội về việc làm, cải thiện đời sống và sức khỏe cho NLĐ, gồm môi trường làm việc và sức khỏe nghề nghiệp góp phần làm cho phát triển bền vững Chuyển đổi mô hình này được minh họa trong Bảng 1.1
Bảng 1.1 Một cách tiếp cận đa ngành đối với phát triển bền vững
và công bằng [80]
Mục đích của Bảng này là để minh họa sự tương tác giữa sức khỏe nghề nghiệp, công việc và môi trường làm việc trong sự hỗ trợ lẫn nhau để phát triển bền vững Nó xác định một khu vực đại diện cho sự tích hợp của các mục tiêu kinh tế và xã hội có thể đáp ứng trong khi đồng thời có tính đến môi trường, việc làm, sức khỏe và kinh tế, trong đó trọng tâm của mô hình nghiêng về sức khỏe và công việc
Trong năm 1984, Hội nghị Lao động quốc tế thường niên của ILO đã thông qua một nghị quyết về cải thiện điều kiện làm việc gồm các yếu tố về
Trang 19cải thiện điều kiện làm việc và môi trường là một yếu tố cần thiết để thúc đẩy công bằng xã hội Thông điệp của Hội nghị nhấn mạnh rằng cải thiện môi trường và điều kiện làm việc là một đóng góp tích cực cho sự phát triển quốc gia, trong đó có ba nguyên tắc cơ bản (i) Công việc nên diễn ra trong một môi trường an toàn và lành mạnh, (ii) Điều kiện làm việc phải phù hợp với mong muốn và phẩm giá của NLĐ và (iii) Công việc nên cung cấp các điều kiện để
cá nhân phát huy năng lực, tự hoàn thiện và phục vụ xã hội
Đối với WHO, sức khỏe nghề nghiệp bao gồm an toàn tại nơi làm việc
Vệ sinh được định nghĩa là hướng về phòng chống dịch bệnh trong khi an toàn được coi là một nguyên tắc giúp cơ thể ngăn ngừa chấn thương do tai nạn Đối với ILO, an toàn và sức khỏe nghề nghiệp được xem như một môn học nhằm ngăn ngừa các chấn thương làm việc (bao gồm BNN và TNLĐ, các điều kiện ATLĐ, sức khỏe nghề nghiệp, y học lao động, vệ sinh lao động và chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp được sử dụng để ghi nhận những đóng góp của các ngành nghề khác nhau (ví dụ như kỹ sư, bác sĩ, y tá.v.v ) và công nhận thực tế là các tổ chức ATLĐ, y tế ở cấp độ doanh nghiệp thường bao gồm các dịch vụ riêng biệt ATLĐ và sức khỏe nghề nghiệp, cũng như các ủy ban an toàn và sức khỏe
Ở một mức độ nhất định, ATLĐ và phòng ngừa có quan hệ chặt chẽ
với các công nghệ được sử dụng, đến quá trình sản xuất và quản lý hàng ngày,
trong đó tập trung nhiều vào các mối quan hệ giữa công việc và sức khỏe, đặc biệt là về công tác giám sát môi trường làm việc và sức khỏe của NLĐ, cũng như yếu tố con người và các khía cạnh làm việc Ở cấp độ doanh nghiệp, các
kỹ sư có một sự hiện diện cần thiết và không thể tách rời với quá trình quản lý (kỹ sư sản xuất, bảo dưỡng, kỹ thuật viên.v.v ), trong khi đó sức khỏe nghề nghiệp và vệ sinh đòi hỏi sự can thiệp của các chuyên gia trong lĩnh vực y tế, những người hoạt động thông qua hình thức tư vấn hoặc hoạt động theo tổ dịch vụ y tế lao động bên ngoài
Trang 20Bất cứ cách thức sắp xếp tổ chức và các thuật ngữ được sử dụng trong doanh nghiệp, điều quan trọng nhất là người quản lý sản xuất và chuyên gia y
tế làm việc chú trọng về hợp tác và phối hợp trong việc xây dựng và thực hiện chương trình hành động, cũng như sự phát triển của khái niệm thống nhất, chẳng hạn như "nền văn hóa làm việc" (văn hóa an toàn, văn hóa BHLĐ, văn hóa doanh nghiệp) có lợi cho an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc và "nâng cao chất lượng tiếp tục" điều kiện làm việc và môi trường
Ủy ban về sức khoẻ nghề nghiệp năm 1992 giữa ILO/WHO cũng nhấn mạnh rằng phạm vi sức khỏe nghề nghiệp rất rộng (Bảng 1.2), bao gồm các ngành như y học, điều dưỡng, vệ sinh lao động (sau đây viết tắt là VSLĐ), ATLĐ, kỹ thuật, chất độc, môi trường vệ sinh, tâm lý học lao động và quản lý nhân sự Sự hợp tác và tham gia của NSDLĐ và NLĐ trong các chương trình sức khỏe nghề nghiệp là một điều kiện tiên quyết cần thiết cho thực hành sức khỏe nghề nghiệp thành công
Bảng 1.2 Năm nguyên tắc và ba cấp độ cho một sức khỏe nghề nghiệp tốt [86]
Nguyên tắc
Cá nhân (đa dạng) Phòng ngừa
tai nạn
Vệ sinh công nghiệp
Y học công nghiệp Thiết bị bảo
hộ cá nhân
Tổ chức khoa học công việc Phân tích công việc
Chương trình
hỗ trợ nhân viên
Bồi thường điều trị
Nhóm (nhóm tiếp
xúc, nhu cầu đặc
biệt)
Môi trường làm việc an toàn và lành mạnh Được xây dựng trong an toàn
Y học nghề nghiệp Máy bảo vệ
Thái bao gồm thiết kế
Chương trình nâng cao sức khỏe của NLĐ
Lập kế hoạch khẩn cấp và chuẩn bị sẵn sàng
Xã hội và tất cả các
công nhân
(Nguyên tắc chung
của việc chăm sóc
sức khỏe ban đầu)
Công nghệ kiểm soát Quản lý sức khỏe môi trường
Sức khỏe môi trường Dịch tễ học Chăm sóc y tế
dự phòng
Công nghệ phù hợp Bảo vệ người tiêu dùng
Chương trình xúc tiến giáo dục và sức khỏe
Chữa bệnh chăm sóc sức khỏe
Phục hồi chức năng
Trang 21Ủy ban về Sức khỏe và Môi trường của WHO một lần nữa tiếp tục công nhận "các hình thức phát triển cần thiết để bảo vệ sức khỏe sẽ phụ thuộc vào nhiều điều kiện, trong đó có yếu tố môi trường, trong khi phát triển mà không quan tâm đến môi trường chắc chắn sẽ dẫn đến suy giảm sức khỏe con người" (WHO 1992) Trong bối cảnh đó, sức khỏe nghề nghiệp được công nhận là một "giá trị gia tăng", là một đóng góp tích cực cho sự phát triển quốc gia và một điều kiện phát triển bền vững
Tuyên bố và Chương trình hành động được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển xã hội được tổ chức tại Copenhagen vào năm 1995 Hội nghị thượng đỉnh chỉ ra rằng mục tiêu không phải để tạo ra bất
kỳ loại công việc nào, mà công việc đảm bảo chất lượng để bảo vệ các quyền
và lợi ích cơ bản của NLĐ, ngoài ra việc tạo ra việc làm chất lượng tốt phải bao gồm các biện pháp để đạt được một môi trường làm việc lành mạnh và an toàn, để loại bỏ các mối nguy hiểm tới sức khỏe và đảm bảo ATLĐ Đây là một dấu hiệu cho thấy triển vọng của sức khỏe nghề nghiệp cũng có thể hợp tác tích cực trong việc điều hoà việc làm, y tế và môi trường đối với sự phát triển công bằng và bền vững
Trong quan niệm về phát triển bền vững theo khuyến nghị của ILO/WHO thì ATVSLĐ là một phần không thể thiếu, các chỉ số đảm bảo phát triển bền vững nhất thiết phải bao gồm các chỉ số về sức khỏe, vì Ủy ban về sức khỏe nghề nghiệp nhấn mạnh cam kết "bảo vệ và nâng cao sức khỏe con người" là một nguyên tắc cơ bản cho phát triển bền vững [40] Trong đó môi trường làm việc và đảm bảo sức khỏe của NLĐ là yếu tố đặc biệt được quan tâm
Trên phạm vi pháp luật nước ngoài, ở một số quốc gia trong hệ thống pháp luật của mình đã ban hành các luật riêng quy định về vấn đề ATVSLĐ,
có thể kể đến như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc.v.v… là những quốc gia đi đầu trong việc nghiên cứu các chính sách về đảm bảo sức khoẻ và tính mạng của NLĐ, chúng ta có thể nghiên cứu là:
Trang 22Trong Luật ATLĐ và sức khoẻ nghề nghiệp của Mỹ năm 1970 có các quy định về các biện pháp ngăn chặn việc gây ra những thương tích, bệnh tật
và tử vong của NLĐ ở nơi làm việc, định nghĩa về “tiêu chuẩn về ATLĐ và sức khỏe nghề nghiệp” là một tiêu chuẩn đòi hỏi phải có điều kiện, được thừa nhận hoặc sử dụng một hoặc nhiều hoạt động, phương tiện, phương pháp, các quy trình hợp lý, cần thiết hoặc thích hợp để cung cấp một công việc và môi trường làm việc an toàn và lành mạnh” [43]
Luật an toàn và sức khoẻ công nghiệp của Hàn Quốc năm 1990 có quy định “TNLĐ và BNN” để chỉ những trường hợp NLĐ chết, bị thương hoặc bị BNN vì các công trình, thiết bị, nguyên liệu thô, khí, hơi, bột, bụi trong công việc… hoặc do các lý do công tác và do công việc gây ra [44] Mục đích của Luật này là duy trì và thúc đẩy an toàn và sức khoẻ của NLĐ thông qua việc phòng ngừa TNLĐ và BNN bằng cách xây dựng các tiêu chuẩn về an toàn và sức khoẻ lao động và làm rõ trách nhiệm cá nhân, tạo
ra môi trường làm việc thoải mái
Luật ATVSLĐ trong Công nghiệp Nhật bản năm 1972 sửa đổi năm
2006 có quy định: “TNLĐ” để chỉ trường hợp NLĐ bị thương, bệnh tật hoặc thiệt mạng vì các công trình, thiết bị, nguyên vật liệu, khí, hơi, bụi.v.v… trong lao động hoặc do các hoạt động lao động hoặc do công việc yêu câu sự có mặt của NLĐ [58] Mục đích của Luật này cùng với Luật Tiêu Chuẩn Lao Động năm 1947 của Nhật Bản nhằm đảm bảo an toàn và sức khỏe của NLĐ ở nơi làm việc, cũng như để tạo ra một môi trường làm việc thoải mái, bằng cách thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa TNLĐ một cách toàn diện và hệ thống, ví
dụ như xây dựng các tiêu chuẩn về phòng ngừa nguy hiểm, làm rõ trách nhiệm thuộc về ai và thúc đẩy các hoạt động tình nguyện để tuyên truyền các biện pháp phòng ngừa TNLĐ
Như vậy, quan niệm về ATVSLĐ theo khuyến cáo của Uỷ ban về sức
Trang 23khỏe nghề nghiệp ILO/WHO và quy định trong Luật an toàn và sức khoẻ công nghiệp của Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ (Chúng ta sẽ nghiên cứu ở mục 1.3) được hiểu thông qua cách diễn đạt khác nhau, tuy nhiên đều hướng đến mục đích về bảo vệ sức khoẻ của con người, bảo đảm NLĐ có môi trường làm việc an toàn và thuận lợi để phát huy tối đa khả năng cống hiến của NLĐ, nhằm đảm bảo sức khoẻ cao nhất của NLĐ bao gồm cả mặt vật chất lẫn tinh thần, tránh cho NLĐ khỏi những rủi ro về TNLĐ, BNN, những yếu tố bất lợi cho sức khỏe của NLĐ tại nơi làm việc, đảm bảo NLĐ có một công việc an toàn và khoẻ mạnh
Hiện nay, ATVSLĐ được xem xét không chỉ “gói gọn” trong vấn đề về tính mạng, sức khoẻ của NLĐ mà thông điệp này còn được các chuyên gia quốc tế xem xét dưới góc độ nhân quyền, nó gắn bó mật thiết với bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu của toàn cầu
1.2.2 Một số quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề ATVSLĐ
Quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nằm trong nội hàm của quyền có mức sống thích đáng được nêu ở Điều 25 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948, theo đó, mọi người có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để bảo đảm sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết
Ngoài ra, quy định về sức khoẻ và bảo vệ sức khoẻ con người được quy định trong các điều ước quốc tế đa phương và điều ước quốc tế khu vực (i) Các điều ước quốc tế đa phương đó là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa năm 1966; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ năm 1979; Công ước về Quyền trẻ em năm 1989 (ii) Các điều ước quốc tế khu vực đó là Hiến chương Xã hội châu Âu năm 1961; Hiến chương châu Phi về quyền của nhân dân và con người năm 1981; Nghị định thư bổ sung Công ước Mỹ về nhân quyền (Nghị định thư San Salvador năm 1988).v.v…
Trang 24Trong các Công ước trên, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 được coi là Công ước có quy định cơ bản về vấn đề nhân quyền liên quan đến bảo vệ sức khoẻ và ATVSLĐ Công ước kêu gọi các quốc gia thành viên của Công ước công nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt đảm bảo những điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh [33] Ngoài ra, Công ước khuyến khích các quốc gia thành viên công nhận quyền của mọi người đạt tới một tiêu chuẩn sức khoẻ về thể chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể được; Các biện pháp mà các quốc gia thành viên của Công ước phải thi hành để thực hiện đầy đủ quyền này bao gồm những yêu cầu cần thiết về (i) Cải thiện mọi mặt về vệ sinh môi trường và vệ sinh công nghiệp; (ii) Ngăn ngừa, xử lý và hạn chế các dịch bệnh, bệnh ngoài da, BNN và các bệnh khác; (iii) Tạo các điều kiện bảo đảm mọi dịch vụ và sự chăm sóc y tế khi đau yếu [34]
Các quy định trên của Công ước quốc tế về các quyền về kinh tế, xã hội
và văn hóa được coi là quy định pháp luật quốc tế toàn diện nhất về quyền được chăm sóc sức khỏe và đảm bảo ĐKLĐ an toàn tại nơi làm việc Ủy ban
về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã giải thích một cách khá toàn diện và chi tiết về quyền này trong Bình luận chung số 14 thông qua tại phiên họp lần thứ
22 năm 2002 của Ủy ban, có thể tóm tắt những điểm quan trọng liên quan đến sức khoẻ và mối quan hệ với ATVSLĐ trong Điều 7 như sau:
Thứ nhất, chăm sóc sức khoẻ là một quyền con người cơ bản, không
thể thiếu để thực hiện các quyền khác Mọi người có quyền được hưởng tiêu chuẩn chăm sóc sức khoẻ cao nhất có thể đạt được để sống một cuộc sống có nhân phẩm Hiện thực hóa quyền được chăm sức khoẻ có thể được thực hiện thông qua nhiều cách tiếp cận bổ trợ nhau, chẳng hạn như xây dựng chính sách y tế, hoặc thực hiện các chương trình y tế do WHO triển khai, hoặc ban hành những văn bản pháp luật cụ thể
Trang 25Thứ hai, quyền được chăm sóc sức khoẻ liên quan mật thiết và phụ
thuộc vào việc hiện thực hoá các quyền con người khác, bao gồm các quyền sống, quyền về lương thực, nhà ở, việc làm, giáo dục, nhân phẩm, bình đẳng, không phân biệt đối xử, cấm tra tấn, bảo vệ đời tư, tiếp cận thông tin, và các quyền tự do lập hội, hội họp, đi lại Đặc biệt quyền được chăm sóc sức khoẻ
có mối quan hệ mật thiết với chính sách của Nhà nước ban hành về đảm bảo điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, làm việc trong môi trường an toàn và vệ sinh
Thứ ba, Điều 12 của Công ước không bao gồm định nghĩa về sức khoẻ,
tuy nhiên có thể liên hệ đến định nghĩa được nêu trong lời nói đầu của Điều lệ của WHO, theo đó sức khoẻ được xác định là “trạng thái thỏa mái về điều kiện thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ thuần tuý là không có bệnh tật hay không ổn định” Vì vậy, quyền được chăm sóc sức khoẻ được hiểu là quyền được thụ hưởng những cơ sở vật chất, hàng hoá, dịch vụ và điều kiện cần thiết để đạt được tiêu chuẩn sức khoẻ cao nhất có thể
Thứ tư, quyền được chăm sóc sức khoẻ phụ thuộc vào những yếu tố cơ
bản là (i) Khả năng sẵn có về cơ sở chăm sóc sức khoẻ và y tế công, các loại hàng hoá và dịch vụ, cũng như các chương trình chăm sức khỏe của quốc gia thành viên và (ii) Khả năng có thể tiếp cận của mọi người với các cơ sở chăm sóc sức khỏe, hàng hoá và dịch vụ y tế
Nghĩa vụ thực hiện yêu cầu các quốc gia công nhận đầy đủ quyền được chăm sóc sức khoẻ trong hệ thống pháp luật và chính trị quốc gia, thích hợp nhất là thông qua hình thức thực hiện lập pháp, và ban hành một chính sách y
tế quốc gia với kế hoạch chi tiết để thực hiện quyền được chăm sóc sức khoẻ [32] Việc thực hiện chính sách về sức khoẻ thông qua việc xây dựng các chính sách về bảo đảm sức khoẻ ở nơi làm việc, các tiêu chuẩn an toàn trong lao động cũng nằm trong nội hàm của việc đảm bảo sức khoẻ của con người
và được nhân loại công nhận như một quyền của con người
Trang 26Bên cạnh đó, các quy định về bảo vệ tính mạng sức khoẻ của NLĐ được quy định trong các Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế Năm 1919,
Tổ chức lao động quốc tế được thành lập, nhiệm vụ cơ bản của Tổ chức này
là đưa ra các tiêu chuẩn quốc tế về lĩnh vực lao động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ, trong đó có quyền bảo vệ NLĐ được làm việc trong môi trường lao động an toàn, tránh được nguy cơ gây TNLĐ, BNN, tránh được tổn thương đối với các bộ phận cơ thể, thậm chí phòng ngừa được nguy cơ gây tử vong Từ khi thành lập đến nay, ILO đã có nhiều biện pháp và các hành động thiết thực để giữ vững mục đích đã đặt ra đối với những quốc gia tham gia ký kết
Năm 2003, ILO đã thông qua một kế hoạch hành động về an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp, bao gồm việc đưa vào áp dụng văn hoá an toàn và sức khoẻ phòng ngừa, khuyến trợ và phát triển các công cụ thích hợp và sự hỗ trợ
kỹ thuật Năm 2001, ILO đã đưa ra “Hướng dẫn về hệ thống quản lý ATVSLĐ” nhằm tạo một công cụ hỗ trợ thiết thực cho các tổ chức, các cơ quan có thẩm quyền cũng như các biện pháp để không ngừng hoàn thiện việc thực hiện công tác ATVSLĐ Mục tiêu của hệ thống quản lý ATVSLĐ là xây dựng văn hoá an toàn trong doanh nghiệp góp phần bảo vệ NLĐ khỏi các nguy cơ rủi ro và dần tiến tới loại trừ mọi TNLĐ, BNN và giảm tỷ lệ tử vong liên quan đến quá trình lao động Để đảm bảo tính khả thi mạnh mẽ cho các khuyến cáo, ILO đã áp dụng nguyên tắc đồng thuận và vai trò của tổ chức 3 bên: Tổ chức đại diện cho Chính phủ, tổ chức đại diện cho NSDLĐ và tổ chức đại diện cho NLĐ, quan hệ 3 bên này đem lại sức mạnh, tính mềm dẻo
và cơ sở nền tảng phù hợp cho sự phát triển văn minh công nghiệp cũng như văn hoá cạnh tranh bền vững cho mọi cơ sở sản xuất
Nguyên tắc NLĐ phải được bảo vệ chống lại bệnh tật, đau ốm và tai nạn phát sinh từ việc làm là một trong những nguyên tắc cơ bản trong Điều lệ
Trang 27của ILO Các tiêu chuẩn của ILO về an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp cung cấp các công cụ thiết yếu cho Chính phủ, NLĐ và NSDLĐ để thiết lập nên những thông lệ và đảm bảo sự an toàn tối đa tại nơi làm việc Tính đến nay, ILO đã thông qua 40 tiêu chuẩn về ATLĐ và sức khoẻ nghề nghiệp và hơn 40
Bộ Quy tắc để áp dụng trong thực tiễn Gần một nửa các văn kiện của ILO liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới các vấn đề ATLĐ và sức khoẻ nghề nghiệp Chúng ta có thể đưa ra một số Công ước cơ bản về an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp sau đây:
Một là, Công ước số 155 về ATLĐ và sức khoẻ nghề nghiệp năm 1981
và Nghị định thư năm 2002 Công ước yêu cầu thông qua một chính sách quốc gia nhất quán về an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp, cũng như hành động
ở cấp Chính phủ và trong phạm vi doanh nghiệp để khuyến trợ an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp góp phần cải thiện điều kiện làm việc Chính sách này sẽ được xây dựng trên cơ sở xem xét các điều kiện và thực tiễn quốc gia và sẽ định kỳ xét lại một chính sách quốc gia chặt chẽ về ATVSLĐ và môi trường làm việc, mục đích của chính sách quốc gia và phòng ngừa TNLĐ và những tổn thương về sức khoẻ phát sinh từ công việc, bằng cách giảm đến mức thấp nhất, trong điều kiện thực tế cho phép, những nguyên nhân rủi ro vốn có trong môi trường làm việc [66] Nghị định thư số 155 về Công ước số 155 về
ATLĐ, vệ sinh lao động và môi trường làm việc năm 1981 kêu gọi thiết lập
và định kỳ xem xét các yêu cầu, thủ tục ghi lại, thông báo về tai nạn và BNN
và xuất bản các số liệu thống kê hàng năm liên quan
Hai là, Công ước số 187 của ILO về Cơ chế thúc đẩy ATVSLĐ năm
2006, mục đích của Công ước nhằm thúc đẩy việc cải thiện không ngừng an toàn và vệ sinh lao động để ngăn chặn TNLĐ, BNN và tử vong do TNLĐ, thông qua việc xây dựng về chính sách quốc gia, hệ thống quốc gia và chương trình quốc gia về ATVSLĐ qua đó đưa ra giải pháp tiếp cận hệ thống quản lý;
Trang 28Đưa vấn đề ATVSLĐ lên thứ tự ưu tiên tại các chương trình nghị sự của quốc gia; Thúc đẩy việc thực hiện các tiêu chuẩn và các công cụ của ILO về ATVSLĐ; Thúc đẩy tiến trình phê chuẩn các công ước của ILO về ATLĐ [74] Trong Công ước, lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “văn hoá an toàn và sức khoẻ phòng ngừa”, thuật ngữ này dùng để chỉ văn hoá trong đó quyền về môi trường làm việc an toàn và lành mạnh được tôn trọng ở mọi cấp, ở đó Chính phủ, NSDLĐ và NLĐ chủ động tham gia vào việc bảo đảm môi trường lao động an toàn và lành mạnh thông qua một hệ thống các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ được xác định, và ở đó quyền phòng ngừa được ưu tiên cao nhất
[73] Theo đó, cần thức đẩy và nhấn mạnh hơn nữa việc thực hiện các chính
sách về ATVSLĐ cho NLĐ và NSDLĐ để các chính sách này trở thành văn hoá trong nghề nghiệp của họ
Công ước 187 cùng với công ước 155 đã trở thành một công cụ sử dụng rộng rãi để phát triển tiêu chuẩn quốc gia và các chương trình ở cấp quốc gia và doanh nghiệp Nhiều nước đã bắt đầu thực hiện các Công ước trên thông qua một số cơ chế tự nguyện hoặc xây dựng chiến lược quốc gia tích hợp với hệ thống quản lý
Ba là, Công ước số 161 của ILO về dịch vụ sức khoẻ nghề nghiệp năm
1958, trong Công ước này yêu cầu thiết lập dịch vụ sức khoẻ y tế lao động với các chức năng thiết yếu nhất là phòng ngừa và chịu trách nhiệm tư vấn cho NLĐ, NSDLĐ và đại diện của họ tại doanh nghiệp về việc duy trì một môi trường làm việc an toàn và khoẻ mạnh, trong đó tình trạng sức khoẻ ở đây được
đề cập đến bao gồm yếu tố về thể chất và tinh thần liên quan đến lao động [69]
Bốn là, Công ước số 184 của ILO về An toàn sức khoẻ trong lao động nông nghiệp năm 2001, nội dung của Công ước nhằm yêu cầu các quốc gia thành viên bắt buộc áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn, hạn chế, tiến tới loại trừ, giảm thiểu hoặc kiểm soát các nguy cơ có trong môi trường
Trang 29lao động nông nghiệp những tai nạn và tổn thương sức khoẻ xảy ra cho NLĐ trong lĩnh vực nông nghiệp, đồng thời phải tiến hành rà soát định kỳ những chính sách quốc gia về ATVSLĐ trong nông nghiệp
Đây là công ước duy nhất trong tổng số 187 công ước của ILO quy định các tiêu chuẩn lao động bắt buộc bảo vệ an toàn, sức khoẻ cho NLĐ trong ngành nông nghiệp vốn được coi là một trong ba ngành có nguy cơ mất
an toàn nhất (nông nghiệp, xây dựng và hầm mỏ) ở các nước phát triển và những nước đang phát triển Sự ra đời của Công ước số 184 đem lại niềm hy vọng được bảo vệ sức khoẻ đầy đủ và tốt hơn cho khoảng 1,3 tỷ NLĐ trong nông nghiệp trên thế giới trong đó chỉ có khoảng 5% được làm việc trong
điều kiện an toàn và được luật pháp bảo vệ [93], cùng với Công ước số 184
ILO có đưa ra Khuyến nghị số 192 về ATVSLĐ trong nông nghiệp, Khuyến nghị yêu cầu các nước thành viên xây dựng và định kỳ rà soát các chính sách quốc gia về an toàn, vệ sinh trong lao động nông nghiệp
Năm là, Công ước 102 quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội năm 1952, Công ước yêu cầu các nước thành viên phải bảo đảm cho những người được bảo vệ được trợ cấp trong trường hợp TNLĐ hoặc BNN, Tại hội nghị quốc tế
về lao động hàng năm, tổ chức quốc tế về lao động đã thông qua công ước
102 (6/1952), công ước đầu tiên về những quy phạm tối thiểu của BHXH gồm
9 chế độ trợ cấp như sau: Chăm sóc y tế; Trợ cấp ốm đau; Trợ cấp tuổi già; Trợ cấp thất nghiệp; Trợ cấp TNLĐ và BNN; Trợ cấp gia đình; Trợ cấp thai sản; Trợ cấp tàn tật; Trợ cấp tử tuất Công ước đòi hỏi sự bình đẳng trong đối
xử đối với người bản xứ và không phải bản xứ, cũng như qui định những hoàn cảnh ngừng chi tả trợ cấp và quyền khiếu nại khi bị từ chối chi trả Công ước này là một tập hợp tất cả các chính sách trong một tài liệu toàn diện, dựa vào đó các nước thành viên tham gia ký kết và xác định những chế độ được coi là nòng cốt của hệ thống an sinh xã hội nước mình Theo Công ước 102,
Trang 30Nhà nước chịu trách nhiệm chính về bộ máy quản lý, sự bảo đảm an toàn và kiểm soát hoạt động của quỹ an sinh xã hội, tạo điều kiện cho đại diện của những người được bảo vệ, NSDLĐ và Chính phủ cùng tham gia
Công tác BHXH đã hình thành và phát triển ở từng nước khác nhau, không phải nước nào cũng thực hiện đủ 9 chế độ trên và không phải nước nào cũng có đủ đối tượng, phạm vi áp dụng, nguồn hình thành quỹ giống nhau mà tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội của từng nước để áp dụng cho phù hợp
Ngoài các Công ước trên, liên quan đến chính sách ATVSLĐ có thể kể đến là Công ước số 152 của ILO về an toàn và sức khoẻ đối với việc làm ở hải cảng, Công ước số 167 của ILO về an toàn và sức khoẻ trong ngành xây dựng, Công ước số 176 của ILO về an toàn sức khoẻ trong các hầm mỏ, Công ước số 161 về lao động trong lĩnh vực dịch vụ y tế, Công ước số 120 năm
1964 về sức khoẻ nghề nghiệp trong thương mại và văn phòng, Công ước số
81 về thanh tra lao động, Công ước 129 về thanh tra lao động trong nông nghiệp, Công ước số 130 về Chăm sóc y tế và chế độ trợ cấp ốm đau, năm
1969 và Công ước số 159 về Tái thích ứng nghề nghiệp và việc làm của người
khuyết tật, năm 1983 [6].v.v…
Các tiêu chuẩn lao động quốc tế là một công cụ quan trọng để cải thiện ATVSLĐ vì đó là mục tiêu đặt ra cho các tiêu chuẩn này Trong các chuỗi Công ước liên quan đến ATVSLĐ của ILO, tính đến tháng 4/2013 Việt Nam
đã phê chuẩn Công ước số 155 về ATLĐ và sức khoẻ nghề nghiệp 1981 (phê chuẩn ngày 3/10/1994) Hiện nay Việt Nam đang tiến hành nghiên cứu và đang hoàn thiện Hồ sơ để phê chuẩn Công ước số 187 về cơ chế thúc đẩy ATVSLĐ, dự kiến việc phê chuẩn sẽ diễn ra trong năm 2013 – 2014, Việt Nam cũng đang nghiên cứu khả năng phê chuẩn công ước 184 về ATVSLĐ trong nông nghiệp năm 2001, Công ước số 170 về an toàn trong việc sử dụng
Trang 31hoá chất khi làm việc năm 1990 Việc phê chuẩn và nghiên cứu phê chuẩn các Công ước ILO trên của Việt Nam thể hiện quyết tâm cao của Việt Nam trong
nỗ lực cải thiện điều kiện làm việc, phát triển quan hệ lao động nhằm tiến tới phát triển quan hệ lao động hài hoà, bền vững về việc làm tại Việt Nam
1.2.3 Vai trò của pháp luật quốc tế trong việc đảm bảo ATVSLĐ
Ngày nay, vai trò của Luật quốc tế ngày càng được mở rộng hơn không chỉ nằm gói gọn trong những vấn đề truyền thống như quyền con người, vấn
đề hòa bình an ninh… mà phạm vi điều chỉnh của Luật quốc tế đã vượt ra khỏi tính truyền thống đó sang những vấn đề như môi trường, kinh tế quốc tế, quốc tế nhân đạo… Tuy nhiên, các quy phạm này đều nhằm nhằm hướng tới các giá trị tốt đẹp của con người, tạo cho con người có cuộc sống tốt hơn, đó cũng là tất yếu của quá trình lịch sử, bởi vạn vận luôn luôn thay đổi và Luật quốc tế cũng phải thay đổi theo để phù hợp với xu hướng đó Vấn đề đảm bảo ATVSLĐ cũng không nằm ngoài ý nghĩa đó, bằng chứng là việc trên bình diện quốc gia và quốc tế đã có rất nhiều quy phạm liên quan để điều chỉnh về vấn đề này
Về pháp lý, quyền con người là phẩm giá, năng lực, nhu cầu và lợi ích hợp pháp của con người được thể chế, bảo vệ bởi pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế
Quyền con người được bắt đầu từ môi trường quốc gia, trước khi cộng đồng quốc tế có thể thống nhất với nhau về những giá trị, chuẩn mực, quy định hay nguyên tắc chung để điều chỉnh cách thức ứng xử của các quốc gia đối với công dân của nước đó và cả công dân của các nước khác Các chuẩn mực về quyền con người nhìn từ góc độ quốc gia hay quốc tế đều nhằm hạn chế sự tự do xâm phạm quyền con người
Trên phạm vi toàn thế giới, hệ thống pháp luật quốc tế đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của con người nói chung và
Trang 32NLĐ nói riêng Trong xu thế quốc tế hóa mọi mặt của đời sống quốc tế ở cả hai cấp độ, khu vực và toàn cầu, dựa trên cơ sở nền kinh tế trí thức, luật quốc
tế hiện đại là kết quả và là sự phản ánh các quan hệ quốc tế trong điều kiện hợp tác, phát triển của cộng đồng thế giới Sự ra đời của các điều ước quốc tế
về ATVSLĐ với sự tham gia của rất nhiều các quốc gia thành viên trên thế giới cùng với những quy phạm mang tính chất ràng buộc, những tiêu chuẩn đối với lao động rõ ràng và cụ thể đã góp phần hiệu quả cho bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của NLĐ trên toàn thế giới
Luật quốc tế ghi nhận cam kết của các quốc gia cũng như cơ chế hợp tác trong việc đảm bảo tính mạng, sức khoẻ của NLĐ Thông qua việc ký kết, phê chuẩn hay trở thành thành viên của một điều ước quốc tế, mỗi quốc gia đã thể hiện quan điểm, chính sách của chính quốc gia đó đối với vấn đề mà quốc gia quan tâm, trong đó có vấn đề về ATVSLĐ Không có sự áp đặt mang tính quyền lực quốc tế trong quá trình thực hiện luật quốc tế trừ những cơ chế kiểm soát quốc tế có sự thỏa thuận của các quốc gia
ATVSLĐ là một vấn đề mang tính chất toàn cầu đòi hỏi các quốc gia phải hợp tác với nhau, đặc biệt là vấn đề liên quan đến phòng ngừa và giảm thiểu TNLĐ, BNN, trong đó vấn đề hợp tác và chuyển giao khoa học kỹ thuật được đặt lên hàng đầu Vì vậy, luật quốc tế chính là cơ sở, nền tảng để các quốc gia xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ để giải quyết các vấn đề có liên quan
Trong thực tế thực thi luật quốc tế về ATVSLĐ, các quốc gia phải tự điều chỉnh pháp luật của mình trên cơ sở các quy định của luật quốc tế Bên cạnh cơ chế phòng chống TLNĐ, BNN, từng quốc gia đều xây dựng cơ chế riêng để đảm bảo việc thực hiện ATVSLĐ Luật quốc tế xác lập những quy tắc, chuẩn mực pháp lý về ATVSLĐ đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới Trên cơ sở đó, các quốc gia có thể tham khảo, viện dẫn hoặc có cơ chế hiệu quả trong việc thúc đẩy các Chương trình quốc gia về cơ chế tăng cường
Trang 33ATVSLĐ, đặc biệt là xây dựng “văn hoá an toàn và sức khoẻ phòng ngừa”, nâng cao nhận thức của NLĐ, NSDLĐ đối với vấn đề này Cùng với việc ký kết các điều ước quốc tế, để thực hiện nghĩa vụ đã cam kết, các quốc gia thành viên tiến hành nội luật hóa các quy định của các điều ước vào hệ thống pháp luật quốc gia
Luật quốc tế đóng vai trò quan trọng trong thay đổi nhận thức và xây dựng văn hoá an toàn trong lao động và sản xuất, xây dựng chính sách ngăn ngừa và giảm thiểu tình trạng TNLĐ, BNN, những ảnh hưởng của môi trường làm việc, các nhân tố có hại đối với NLĐ góp phần bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của NLĐ, bảo vệ quyền con người trong xã hội
Toàn cầu hoá làm cho hệ thống pháp luật Việt Nam trở thành hệ thống pháp luật mở Các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia cùng với các tập quán quốc tế mà Việt Nam thừa nhận trở thành một bộ phận trong hệ thống pháp luật Việt Nam Thực tiễn đó buộc chúng ta phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các nguồn của pháp luật quốc tế và các nguồn của pháp luật quốc gia
Việt Nam hiện đang là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế quan trọng như APEC, WTO.v.v… Điều này mang lại vị trí và tiếng nói cho Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời tạo cơ hội thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, đất nước Tuy nhiên, đi kèm với những thời cơ luôn luôn là thách thức Việc kí kết các điều ước với các tổ chức quốc tế hay với các quốc gia khác đồng nghĩa với việc Việt Nam cũng phải chấp nhận những bất lợi do yêu cầu của bên còn lại Thực tế đó, đòi hỏi Việt Nam phải nhanh chóng thích nghi với điều kiện hội nhập và không ngừng đổi mới khắc phục toàn diện các mặt còn hạn chế, góp phần từng bước nâng Việt Nam trở thành một cường quốc vững mạnh
Trang 341.3 Pháp luật một số quốc gia về ATVSLĐ
Để làm rõ hơn về tình hình xây dựng các quy phạm pháp luật của một
số quốc gia về ATVSLĐ chúng ta cùng đi vào tìm hiểu một số quy phạm pháp luật chủ yếu về ATVSLĐ trong pháp luật Lao động một số nước:
1.3.1 Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp của Hàn quốc
Về lĩnh vực lao động, ở Hàn quốc có đạo luật: Luật Quan hệ lao động, Luật Tiêu chuẩn lao động, Luật Đảm bảo việc làm, Luật Đào tạo nghề, Luật Bảo hiểm lao động, Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp
Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp năm 1981 đã được sửa đổi qua các năm 1990, năm 1993, năm 1994, năm 1995, năm 1996, năm 1997, năm
1999, năm 2000, năm 2000, năm 2001, năm 2002, luật này gồm có 9 Chương: Chương I: Điều khoản chung; Chương II: Hệ thống quản lý an toàn sức khoẻ; Chương III: Các quy định về an toàn sức khoẻ công nghiệp; Chương IV: Các biện pháp phòng ngừa tai nạn, rủi ro; Chương V: Quản lý sức khoẻ của NLĐ; Chương VI: Giám sát và quy chế; Chương VII: Tư vấn an toàn công nghiệp
và tư vấn vệ sinh công nghiệp; Chương VIII: Điều khoản bổ sung; Chương IX: Xử lý kỷ luật
Trong Luật này các quy định đáng chú ý là doanh nghiệp phải tuân thủ các tiêu chuẩn phòng ngừa TNLĐ, cung cấp thông tin về an toàn và sức khoẻ tại nơi làm việc cho NLĐ, bảo đảm tính mạng và duy trì, thúc đẩy an toàn và sức khoẻ của NLĐ bằng cách tạo một môi trường làm việc thích hợp thông qua cải thiện ĐKLĐ và tuân thủ các chính sách phòng ngừa TNLĐ (Điều 5) Doanh nghiệp sẽ phải giao một người chịu trách nhiệm về quản lý an toàn và sức khoẻ kiểm soát tổng thể những vấn đề về ATVSLĐ như: Xây dựng một
kế hoạch phòng ngừa TNLĐ; Soạn thảo các quy định quản lý về ATVSLĐ; Giáo dục về an toàn và sức khoẻ cho NLĐ; Thanh tra và cải thiện môi trường lao động như giám sát môi trường lao động; Quản lý sức khoẻ của NLĐ như
Trang 35kiểm tra sức khoẻ; Điều tra nguyên nhân TNLĐ và đề ra các biện pháp phòng ngừa những biến cố tương tự; Ghi chép và lưu giữ thống kê TNLĐ; Trang bị bảo hộ và an toàn liên quan đến an toàn và sức khoẻ của NLĐ (Điều 13)
Nghiên cứu những chính sách quy định trong Luật An toàn sức khoẻ
và an toàn công nghiệp của Hàn quốc, chúng ta nhận thấy có một số điểm đáng lưu ý là:
Thứ nhất, Hàn Quốc có Luật riêng về an toàn và sức khoẻ cho NLĐ,
trong đó có quy định đầy đủ về an toàn và sức khoẻ công nghiệp và các biện pháp phòng ngừa tai nạn, rủi ro, quản lý sức khoẻ của NLĐ cho đến các biện pháp giám sát, tư vấn an toàn công nghiệp và tư vấn VSLĐ
Thứ hai, Hàn Quốc có quy định về việc tư vấn an toàn công nghiệp và
vệ sinh công nghiệp, cung cấp thông tin cho NLĐ, NSDLĐ nhằm nâng cao nhận thức của họ, đồng thời việc pháp điển hoá quy định trên vào trong luật đảm bảo hiệu lực, hiệu quả thực thi về quy định đó
Thứ ba, quy định về các biện pháp phòng ngừa tai nạn, rủi ro trong lao
động Việc quy định như trên nhằm đảm bảo trách nhiệm của các nhà chức trách trong vấn đề an toàn và sức khoẻ của NLĐ, đồng thời giúp NLĐ phòng tránh có hiệu quả những rủi ro trong quá trình làm việc
Thứ tư, quy định về “Quỹ bồi thường TNLĐ”, quỹ này áp dụng trong
trường hợp có TNLĐ hay NLĐ bị BNN, chủ sử dụng chỉ cần thông báo đến
cơ quan quản lý quỹ đó thì cơ quan đó sẽ chịu trách nhiệm chi trả
1.3.2 Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp của Nhật Bản
Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp của Nhật Bản bao gồm 12 Chương, 123 Điều và 22 Phụ lục, Chương I: Điều khoản chung, Chương II:
Kế hoạch phòng ngừa TNLĐ, Chương III: Tổ chức quản lý an toàn và sức khoẻ, Chương IV: Các biện pháp phòng ngừa các mối nguy hiểm hoặc nguy
cơ làm suy giảm sức khoẻ NLĐ, Chương V: Các quy định về máy và các hoá
Trang 36chất nguy hiểm, Chương VI: Các biện pháp bố trí nơi làm việc của NLĐ, Chương VII: Các biện pháp duy trì và tăng cường sức khoẻ của NLĐ, Chương VIII: Các biện pháp tạo môi trường làm việc thoải mái, Chương IX:
Kế hoạch cải thiện an toàn và vệ sinh lao động, Chương X: Thanh tra, kiểm tra, Chương XI: Các quy định khác, Chương XII: Các quy định về xử phạt
Nghiên cứu Luật an toàn và sức khoẻ công nghiệp Nhật Bản, chúng ta thấy các quy định đáng chú ý sau:
Thứ nhất, trong luật có quy định về tổ chức, cá nhân quản lý về
ATVSLĐ gồm: Cán bộ quản lý chung về ATVSLĐ (Điều 10), cán bộ an toàn (Điều 11), cán bộ y tế (Điều 12), hỗ trợ viên về an toàn sức khoẻ (Điều 12.2), Bác sỹ vệ sinh công nghiệp (Điều 13), cán bộ làm công tác kiểm soát chung
về ATVSLĐ (Điều 15), các chuyên viên về ATLĐ (Điều 93), cố vấn y tế về
vệ sinh lao động (Điều 95) Đồng thời tại nơi làm việc NSDLĐ phải thành lập Ban an toàn và sức khoẻ (Điều 18) và ban y tế (vệ sinh lao động) (Điều 19) tại nơi làm việc, những người này làm việc theo quy định của Bộ trưởng Bộ y tế, Lao động và phúc lợi Nhật Bản Những cán bộ này thực thi nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra sức khoẻ của NLĐ, hướng dẫn NSDLĐ tiến hành việc đo kiểm môi trường lao động hoặc các biện pháp cần thiết khác khi nhận thấy cần thiết phải duy trì sức khỏe của NLĐ bằng cách nâng cao môi trường làm việc của
họ, kiến nghị liên quan đến chăm sóc sức khỏe NLĐ.v.v đối với NSDLĐ để bảo đảm sức khỏe cho NLĐ
Thứ hai, các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật vê thông số kỹ
thuật các loại máy, các hoá chất nguy hiểm có hại cho NLĐ đều được quy định rõ ràng về sản xuất, chuyển nhượng, lưu thông, thanh tra, kiểm tra, cấp chứng nhận, cấm sử dụng các loại máy.v.v… (Điều 37 – 54), các loại hoá chất được sản xuất, cấm sản xuất, dán nhãn v.v… (Điều 55 - ĐIều 58)
Thứ ba, các quy định về việc bố trí nơi làm việc của NLĐ, trong đó đáng
Trang 37chú ý là khi NLĐ mới được thuê, NSDLĐ phải đào tạo NLĐ về an toàn và vệ sinh lao động liên quan đến việc thực hiện công việc mà NLĐ đó tham gia
Thứ tư, NSDLĐ, theo qui định của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi,
phải tiến hành việc đo kiểm môi trường lao động cần thiết đối nơi làm việc trong nhà và những nơi khác, là nơi diễn ra các công việc gây hại, và phải lưu trữ kết quả
Thứ năm, việc kiểm tra được tiến hành thông qua Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao
động và Phúc lợi tiến hành (Điều 89), giám đốc văn phòng lao động cấp quận, huyện (Điều 89.2) có thể kiểm tra các kế hoạch đòi hỏi các kiểm tra kỹ thuật cao ngoài kế hoạch được đã khai báo của NSDLĐ như về kế hoạch xây dựng, lắp đặt, di chuyển hoặc thay thế kết cấu chính của công trình hoặc máy móc (ngoại trừ các công trình tạm thời và máy móc theo qui định của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản) ở nơi làm việc.Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân quản lý về ATVSLĐ có trách nhiệm kiểm tra sổ sách, văn bản và những vật dụng khác hoặc tổ chức đo kiểm môi trưởng hoặc thu thập các mẫu sản phẩm, nguyên vật liệu mà không phải trả tiền hoặc thực hiện việc mở rộng phạm vi cần thiết cho việc thanh tra, tiến hành kiểm tra, điều tra nguyên nhân gây TNLĐ
1.3.3 Bộ luật Lao động Philipin
Bộ luật Lao động của Philipin năm 1947 bao gồm nhiều tập khác nhau, quy định về các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động như: Trước khi tuyển dụng; Chương trình phát triển nguồn nhân lực; Các điều kiện tuyển dụng, Các chế độ an toàn, sức khoẻ và phúc lợi xã hội; Quan hệ Lao động; Các tổ chức lao động Vấn đề về ATLĐ được quy định trong tập 4, từ Điều 156 đến Điều
210 Để đảm bảo ATLĐ trong sản xuất kinh doanh, NSDLĐ cung cấp miễn phí cho NLĐ tại bất kỳ địa điểm nào các dịch vụ y tế bao gồm: Dịch vụ y tá chuyên trách khi số lượng NLĐ vượt quá 50 người nhưng không quá 200 người, Bộ trưởng Bộ Lao động sẽ quy định một quy chế thích hợp những dịch
Trang 38vụ nào yêu cầu phải có tại những nơi số lượng NLĐ ít hơn 50 người; Dịch vụ của y tá chuyên trách và bán chuyên trách của bác sĩ và nha sĩ và bệnh xá cấp cứu khi số lượng lao động trên 200 nhưng dưới 300 người; Dịch vụ của bác sĩ chuyên trách, nha sĩ chuyên trách và y tá chuyên trách hoặc bệnh viện cấp cứu với số giường bệnh tương ứng 1 giường/100 NLĐ, khi số lượng NLĐ trên
300 người; Trong trường hợp nơi làm việc độc hại, thì NSDLĐ sẽ không thuê bác sĩ hoặc nha sĩ nào làm việc tại nhà xưởng đó, nếu người này không thể ở lại đó ít nhất là 2 tiếng đồng hồ, nếu đó là cán bộ chuyên trách (Điều 157)
Nghiên cứu Bộ luật Lao động Philipin, chúng ta thấy những điểm cần lưu ý sau đây:
Thứ nhất, quy định về “Hội đồng đền bù cho NLĐ” để giải quyết các
chế độ liên quan đến quan hệ lao động, trong đó xác định mức độ đóng góp của NSDLĐ khi có các số liệu cho thấy tần suất xảy ra TNLĐ hoặc BNN ở đó cao do NSDLĐ ở đó không tuân thủ đầy đủ các biện pháp an toàn
Thứ hai, vấn đề Quỹ phúc lợi và bồi thường được quy định nghiêm
ngặt về khoản đóng góp của Nhà nước cũng như của NSDLĐ và NLĐ
Thứ ba, vấn đề bồi thường cho NLĐ khi bị TNLĐ, BNN được quy định
rõ ràng, bình đẳng với sức lao động của NLĐ, cũng như quan tâm đến vấn đề nhân thân của NLĐ
Tuy Philippin không quy định vấn đề về ATVSLĐ thành một Luật riêng, tuy nhiên có nhiều vấn đề quy định trong Bộ luật Lao động Philippin mà Việt Nam có thể sử dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
về ATVSLĐ như vấn đề về Quỹ phúc lợi và bồi thường, dịch vụ chăm sóc NLĐ tại nơi làm việc, đến bù cho NLĐ khi xảy ra TNLĐ, BNN.v.v…
1.3.4 Luật Sức khoẻ và an toàn nơi làm việc của Singapore
Luật Sức khoẻ và an toàn nơi làm việc của Singapore có hiệu lực từ ngày 01/03/2006, sau đó được sửa đổi lần 1 vào ngày 31/07/2009, sửa đổi lần
Trang 392 vào ngày 01/9/2011, sửa đổi lần 3 và có hiệu lực từ ngày 30/11/2013, Luật gồm 10 phần quy định về các vấn đề khác nhau, Phần I sơ lược, phần II giải thích, Phần III điều hành thực hiện , phàn IV nhiệm vụ chung tại nơi làm việc, Phần V quyền hạn của Uỷ viên, phần VI thanh tra và báo cáo tai nạn, những lần xuất hiện nguy hiểm và bệnh nghề nghiệp, phần VII tổ chức quản
lý an toàn và sức khoẻ, Phần VIII Hội đồng sức khoẻ và an toàn nơi làm việc, phần IX thanh tra và quyền hạn thi hành khác, Phần X tội phạm, hình phạt và
tố tụng, Phần XI phần chung
Nghiên cứu Luật Sức khoẻ và an toàn nơi làm việc của Singapore, chúng ta thấy những điểm cần lưu ý như sau:
Thứ nhất, đối tượng Luật này áp dụng là nơi làm việc nào hoàn toàn
hoặc một phần thuộc sở hữu hoặc chiếm đóng của Chính phủ; và bất kỳ cơ sở, trong đó có hoạt động xây dựng hay sản phẩm của kỹ thuật xây dựng thực hiện bởi hoặc thay mặt cho Chính phủ
Thứ hai, phạm vi Luật điều chỉnh những vấn đề liên quan đến việc xử
lý, phân loại, đóng gói, lưu trữ, thay đổi, sửa chữa, xây dựng, chế biến hoặc sản xuất hàng hóa hay sản phẩm; việc xử lý, phân loại, đóng gói, lưu trữ, chế biến, sản xuất hoặc sử dụng bất kỳ các chất độc hại; sửa chữa, xây dựng hoặc sản xuất bất kỳ tàu xe; bất kỳ hoạt động xây dựng, công trình kỹ thuật xây dựng; hoạt động hoặc duy trì bất kỳ cơ sở hoặc hệ thống liên quan đến việc cung cấp các bất kỳ tiện ích công cộng
Thứ ba, các vấn đề như chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm
đến đâu, xử lý vi phạm, giải quyết vấn đề ra sao đều được giải quyết trong các phần của Luật Đặc biệt các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật trong xây dựng, hoá chất, máy móc, môi trường độc hại nguy hiểm, các bệnh được coi là nằm trong danh mục bệnh nghề nghiệp đều được đưa vào trong Luật
Như vậy, Luật Sức khoẻ và an toàn nơi làm việc của Singapore có những
Trang 40điểm khác biệt so với một số Luật liên quan đến ATVSLĐ các nước đó là Luật Sức khoẻ và an toàn nơi làm việc của Singapore chủ yếu tập trung điều chỉnh các vấn đề có nguy cơ cao như hoạt động xây dựng, môi trường sản xuất tiếp xúc với chất độc hại, qua đây Việt Nam có thể nghiên cứu để học tập kinh nghiệm để xây dựng với phạm vi điều chỉnh tương tự về hoạt động xây dựng, hoạt động trong điều kiện môi trường sản xuất độc hại, nguy hiểm, đồng thời
có thể học tập kinh nghiệm lập pháp về mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình xử lý, thanh tra, báo cáo tai nạn lao động trong trường hợp điều tra sự cố nguy hiểm, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Qua nghiên cứu pháp luật quốc gia có những nét văn hoá tương đồng với Việt Nam như Philipin và một số quốc gia ở Châu Á có nền công nghiệp phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore cho thấy vấn đề ATVSLĐ được pháp điển hoá trong hệ thống pháp luật, các vấn đề liên quan đến bảo vệ sức khoẻ và tính mạng cho NLĐ trong quá trình sản xuất có những quy định
ưu việt, qua đây Việt Nam có thể tham khảo và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng pháp luật về ATVSLĐ của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển có hệ thống pháp luật ổn định, phù hợp với thông lệ quốc tế và nội dung của các Điều ước quốc tế mà nước Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia, qua đó học hỏi và chọn lọc để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
1.3.5 Kinh nghiệm xây dựng và triển khai Luật ATVSLĐ của một số quốc gia trên thế giới
Qua nghiên cứu pháp luật lao động của một số quốc gia trên thế giới cho thấy, về hình thức, quy phạm về ATVSLĐ được thiết kế theo 2 nhóm: Luật nằm trong Bộ luật Lao động (Brunei, Campuchia, Indonêxia, Lào, philipin) hoặc Luật ATVSLĐ riêng (Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Trung quốc, Singapore, Mông Cổ, Thái Lan) Tuy nhiên qua nghiên cứu cho thấy,