1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tình hình thực hiện chính sách thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập trên địa bàn tỉnh hưng yên

160 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Lời cảm ơn

  • PHầN Mở ĐầU

  • Chương 1:

  • chương 2:

  • Chương 3:

  • Kết luận và kiến nghị

  • Tài liệu tham khảo

Nội dung

Những yêu cầu cấp bách đòi hỏi nền Trường quản lý kinh tế công nghiệp không những phải năng động trong việc phát huy tiềm lực hiện có để đào tạo đội ngũ càn bộ, nhân viên kinh tế, kỹ thu

cơ sở phương pháp luận về chiến lược phát triển nhân lực

Các khái niệm cơ bản

Thuật ngữ "chiến lược" có nguồn gốc từ nghệ thuật quân sự cổ đại, mang ý nghĩa là phương pháp điều khiển và chỉ huy các trận đánh; nhờ ưu thế của nó, khái niệm chiến lược đã mở rộng sang các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, chính trị, kinh tế, xã hội và đến thế kỷ XX xuất hiện trong quản trị doanh nghiệp Hiện nay khi toàn cầu hóa giao dịch kinh tế phát triển mạnh, tiến bộ khoa học kỹ thuật và ứng dụng công nghệ vào sản xuất và quản lý diễn ra nhanh, vòng đời sản phẩm ngắn, rủi ro kinh doanh cao, nguồn tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng và môi trường bị khai thác cạn kiệt dẫn đến một môi trường kinh doanh đầy biến động và cạnh tranh gay gắt với nhiều phương thức trên phạm vi lớn Trong bối cảnh đó, quản lý nội bộ trước đây có thể dẫn đến thành công nay chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ là khả năng doanh nghiệp phản ứng trước biến đổi của thị trường Nói ngắn gọn, không có cạnh tranh sẽ không có chiến lược và quản lý chiến lược là quản lý hành vi ứng xử của doanh nghiệp với môi trường nhằm tạo ưu thế cạnh tranh, đồng thời là yếu tố then chốt của quản trị doanh nghiệp và biện pháp bảo đảm sự phát triển lâu dài.

Tuỳ theo cách tiếp cận, tư duy về chiến lược mà có những khái niệm về chiến lược như:

"Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ" (M.Porter).

Chiến lược kinh doanh là quá trình xác định các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp và lựa chọn các chính sách cùng chương trình hành động nhằm phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả để đạt được những mục tiêu đó Đây là khung định hướng cho mọi quyết định và hoạt động của doanh nghiệp, giúp tối ưu hóa nguồn lực, tăng trưởng bền vững và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang tính thống nhất, toàn diện và có sự phối hợp giữa các hoạt động nhằm đảm bảo các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp được thực hiện một cách hiệu quả Nó định hướng cách thức tổ chức và phân bổ nguồn lực, kết nối các bộ phận và cấp quản lý để tối ưu hoá lợi thế cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu thị trường Một chiến lược kinh doanh thành công xác định mục tiêu dài hạn, phân tích môi trường kinh doanh và thiết kế các hoạt động trọng yếu; từ đó tập trung nguồn lực, quản trị rủi ro và tạo nền tảng cho sự tăng trưởng bền vững Theo William J Glueck, chiến lược kinh doanh không chỉ là một kế hoạch riêng lẻ mà là một hệ thống liên kết giữa mục tiêu, nguồn lực và hành động nhằm biến các mục tiêu của doanh nghiệp thành kết quả thực thi được.

Như vậy ta thấy rằng dù có quan niệm như thế nào về chiến lược thì cũng có mục đích chung, đó là nhằm đảm bảo sự thành công của doanh nghiệp và chiến lược của một doanh nghiệp chính là sản phẩm kết hợp được những gì môi trường có, những gì doanh nghiệp có thể và những điều doanh nghiệp mong muốn Những chiến lược chủ yếu của một doanh nghiệp bao gồm những mục tiêu, những bảo đảm về nguồn lực để đạt được những mục tiêu, chính sách chủ yếu cần được tuân theo trong khi sử dụng các nguồn lực này

Chiến lược là đường hướng phát triển cho doanh nghiệp, nếu coi chiến lược là mục đích thì chính sách là những phương tiện để đạt được được mục tiêu đó.

Chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp là tập hợp thống nhất các mục tiêu, chính sách và sự phối hợp các hoạt động của một đơn vị kinh doanh trong khuôn khổ chiến lược tổng thể Nó phản ánh cách đơn vị xác lập mục tiêu, lựa chọn biện pháp và phương tiện để đạt được mục tiêu đó, đồng thời đảm bảo sự đồng bộ giữa các hoạt động nhằm tối ưu hiệu quả cạnh tranh trên thị trường.

Mục đích của hoạch định chiến lược là dự báo tương lai dựa trên hiện tại và dựa vào chiến lược kinh doanh để các nhà quản lý có thể xây dựng các kế hoạch cho những năm tới; quá trình này đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ và được hiệu chỉnh ở từng bước đi Một chiến lược vững mạnh cần có khả năng thực thi linh hoạt, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để tạo lợi thế cạnh tranh bền vững với mức chi phí có thể chấp nhận được Để hoạch định chiến lược thực sự có chỗ đứng và phát huy tác dụng, doanh nghiệp cần có cam kết lâu dài từ ban lãnh đạo và sự cân nhắc chiến lược được thể hiện trong mọi hành động, đồng thời dành thời gian tổ chức các cuộc họp về chiến lược cũng như duy trì sự chú ý đến các quyết định hàng ngày trong khuôn khổ các mục tiêu dài hạn Cần cụ thể hóa mục tiêu và phương tiện bằng một loạt mục tiêu, quyết định và hành động được lên lịch do chính ban lãnh đạo đặt ra, đảm bảo sự đồng thuận và thiện chí của mọi cấp quản lý và tránh nguy cơ thiếu minh bạch từ cán bộ cấp dưới Thực tế cho thấy lần đầu hoạch định chiến lược sẽ thuận lợi hơn khi có sự hướng dẫn của các chuyên gia bên ngoài, sau đó cán bộ tham mưu nội bộ sẽ dần làm chủ quy trình này.

1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của chiến lược

Sau gần hai mươi năm thực hiện chính sách đổi mới, các doanh nghiệp đã đạt nhiều thành tựu và dần khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân; tuy nhiên mỗi năm vẫn có không ít doanh nghiệp phá sản hoặc rời thị trường vì nhiều nguyên nhân, trong đó một yếu tố then chốt là thiếu tư duy chiến lược và thiếu hệ thống kiểm soát để duy trì vị thế Xây dựng chiến lược thực sự là quá trình chuyển hoá tiềm năng thành thành công trong tương lai Tiềm năng thành công của doanh nghiệp thường bị suy giảm bởi sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự thay đổi nhu cầu của thị trường và thành công của đối thủ cạnh tranh, do đó việc xây dựng và duy trì ưu thế cạnh tranh là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.

Chiến lược có ý nghĩa đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, giúp nhận thức rõ mục tiêu và hướng đi, làm cơ sở cho mọi hành động cụ thể, nâng cao chất lượng kinh doanh thông qua phương pháp tiếp cận hệ thống và tăng cường liên kết, gắn bó của đội ngũ nhân viên quản trị trong việc thực hiện mục tiêu doanh nghiệp Doanh nghiệp không có chiến lược được ví như người đi biển không có địa bàn.

Trong bối cảnh kinh doanh hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp phải đối mặt với môi trường kinh doanh ngày càng biến động Môi trường thay đổi nhanh mang lại cả cơ hội lẫn rủi ro cho tương lai Việc xây dựng và vận dụng chiến lược hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa cơ hội và giảm thiểu rủi ro, từ đó tăng cường sự chuẩn bị để đối phó và làm chủ các diễn biến của thị trường, tránh bị động và tối ưu hoá phân bổ thời gian, nguồn lực cho các lĩnh vực hoạt động khác nhau.

Chiến lược kinh doanh nhằm duy trì sự thích ứng giữa mục tiêu và khả năng của doanh nghiệp với biến động của thị trường, giúp doanh nghiệp nhận diện và nắm bắt cơ hội thị trường Việc lựa chọn thị trường mục tiêu cần dựa trên khả năng và nguồn lực hiện có cũng như tiềm năng của chính mình trong bối cảnh thị trường luôn biến động Nhờ đó, doanh nghiệp có thể tạo lợi thế cạnh tranh trên thương trường bằng cách vận dụng hiệu quả các nguồn lực để đạt hiệu quả cao nhất.

Quản lý chiến lược là động lực để doanh nghiệp hướng tới tương lai, phát huy sự năng động sáng tạo và ngăn chặn những tư tưởng chống đổi mới, đồng thời làm rõ trách nhiệm cá nhân và tăng cường tính tập thể Nhờ đó, doanh nghiệp nâng cao vị thế cạnh tranh, cải thiện chỉ tiêu doanh số và tăng năng suất lao động cùng hiệu quả quản lý Đồng thời, công tác này giúp giảm thiểu rủi ro tài chính thông qua phòng ngừa và xử lý các vấn đề khó khăn Nền tảng quản trị này cũng nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên và đảm bảo doanh nghiệp phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt.

Kết quả từ các nghiên cứu cho thấy khi doanh nghiệp áp dụng quản trị chiến lược, hiệu quả kinh doanh được cải thiện đáng kể so với trước đây hoặc so với các doanh nghiệp không triển khai quản trị chiến lược Điều này không có nghĩa là họ sẽ luôn giành thắng lợi, mà là việc vận dụng quản trị chiến lược giúp giảm thiểu rủi ro, nâng cao khả năng dự báo và chủ động nắm bắt cũng như tận dụng các cơ hội khi chúng xuất hiện, từ đó tăng khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững.

Cũng cần chú ý về vấn đề nhận thức và quan điểm về chiến lược kinh doanh, đó là:

Chiến lược không phải là một thuật toán hay một công thức cố định; nó luôn ở trạng thái động và linh hoạt, đòi hỏi sự thích nghi với biến động của thị trường và môi trường kinh doanh Kinh nghiệm của các doanh nghiệp cho thấy không nên tin hoàn toàn vào các mô hình toán học hay các phương pháp phân tích, cũng không nên dựa hẳn vào trực giác của các chuyên gia Thay vào đó, các nhà xây dựng và quản lý chiến lược cần kết hợp và tổng hợp các công cụ phân tích với kinh nghiệm thực tế để rút ra những yếu tố đồng nhất, hợp lý và có thể áp dụng được, từ đó hình thành chiến lược phù hợp và bền vững.

- Chiến lược không phải chỉ dành cho những nhà quản lý cấp cao mà mọi người trong tổ chức đều đóng góp vào quản lý chiến lược.

1.1.3 Các loại hình chiến lược

Tuỳ theo các căn cứ để phân loại mà chiến lược kinh doanh được phân thành các loại như sau:

- Căn cứ vào phạm vi của chiến lược kinh doanh

Chiến lược chung, còn được gọi là chiến lược tổng quát, là khung định hướng cho doanh nghiệp, tập trung vào những vấn đề quan trọng nhất và mang tính bao quát Nó có ý nghĩa lâu dài và định hình mục tiêu, phạm vi hoạt động cũng như cách thức để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thị trường Nhờ sự tập trung vào yếu tố quyết định sự sống còn của tổ chức, chiến lược chung giúp doanh nghiệp xác định định vị, ưu thế cạnh tranh và lộ trình phát triển bền vững.

Xây dựng chiến lược

Đối với mỗi doanh nghiệp, mục tiêu tối thiểu là duy trì sự tồn tại trên thị trường bằng cách khắc phục yếu kém nội tại và nâng cao hiệu quả vận hành Tuy nhiên, những mất cân đối bên trong có thể bị dung nạp trong một thời gian ngắn, còn khi vị thế cạnh tranh bị rớt lại sau đối thủ thì nguy cơ tồn tại của doanh nghiệp sẽ ngay lập tức bị đe dọa Vì vậy, nhiệm vụ của người làm chiến lược là tìm ra một lộ trình hành động cụ thể giúp công ty vượt qua thách thức và giành thắng lợi trong cuộc đua cạnh tranh Quá trình chuẩn bị hành động nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh đòi hỏi phân tích kỹ lưỡng nguồn lực, thị trường và điểm yếu—đồng thời tận dụng cơ hội để tối ưu hóa vị thế của doanh nghiệp Vậy làm sao để triển khai các hành động thiết thực, thích ứng nhanh với biến động thị trường và đổi mới liên tục để duy trì lợi thế cạnh tranh?

Phương pháp hay dùng mà các doanh nghiệp chuẩn bị chiến lược gọi là xây dựng chiếnlược (kế hoạch hoá chiến lược, hoạch định chiến lược)

Để xây dựng chiến lược kinh doanh hiệu quả, doanh nghiệp căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống chế độ, chính sách và pháp luật của Nhà nước, kết hợp với kết quả điều tra, nghiên cứu dự báo nhu cầu thị trường và phân tích nguồn lực có thể khai thác; chiến lược này được liên tục hoàn thiện và điều chỉnh trước các biến động lớn về chủ trương hoặc tình hình thị trường Quá trình hình thành chiến lược gồm nghiên cứu hiện trạng, nhận thức về quan điểm phát triển của Nhà nước, đánh giá thị trường và đề ra các chính sách phát triển cho từng bộ phận; xây dựng chiến lược kinh doanh là một tổng thể về cách doanh nghiệp vận hành, mục tiêu cần đạt và các chính sách cần có để thực hiện được mục tiêu ấy.

1.2.1 Các bước xây dựng chiến lược

Thực chất của việc xây dựng chiến lược kinh doanh là xác định đúng lĩnh vực kinh doanh và đảm bảo nguồn lực cần thiết để duy trì và phát triển doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh Việc lựa chọn lĩnh vực kinh doanh và phân bổ nguồn lực một cách hợp lý giúp tối ưu hóa hiệu quả hoạt động, tăng sức cạnh tranh và thích nghi với biến động thị trường Do đó, chiến lược kinh doanh phải đạt được các yêu cầu về tính khả thi, tính bền vững và khả năng thích nghi với môi trường cạnh tranh nhằm đảm bảo sự tăng trưởng liên tục và lợi thế cạnh tranh lâu dài.

Xác định rõ mục tiêu cơ bản cần đạt được theo từng thời kỳ và phổ biến mục tiêu ấy đến mọi cấp quản lý, mọi lĩnh vực hoạt động trong doanh nghiệp, vì chiến lược có tác động bao trùm lên tất cả hoạt động Việc quán triệt mục tiêu ở mọi cấp giúp tạo sự nhất quán giữa các phòng ban, tăng tính đồng thuận và giảm thiểu mâu thuẫn nội bộ, từ đó nâng cao hiệu quả thực thi chiến lược và hiệu quả hoạt động tổng thể của tổ chức.

Đảm bảo huy động tối đa và kết hợp tối ưu các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp nhằm phát huy lợi thế cạnh tranh và tận dụng mọi cơ hội trên thị trường Việc kết hợp hài hòa các yếu tố nội tại và yếu tố bên ngoài giúp khai thác tối đa nguồn lực, tối ưu hóa hiệu quả hoạt động và giành ưu thế cạnh tranh bền vững.

Chiến lược kinh doanh là một quá trình liên tục, bắt đầu từ bước xây dựng chiến lược và đi tới thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi điều chỉnh để phù hợp với mục tiêu và điều kiện thị trường Quy trình này giúp doanh nghiệp định hướng rõ ràng, triển khai hiệu quả và liên tục cải thiện hiệu suất hoạt động Việc đánh giá định kỳ và điều chỉnh chiến lược dựa trên dữ liệu thực tế cho phép doanh nghiệp thích ứng nhanh với biến động và tối ưu hóa lợi thế cạnh tranh.

- Chiến lược phải được lập ra trong thời gian tương đối dài, thường từ 3 năm trở lên

Trình tự xây dựng chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp thường phải tuân thủ theo 6 bước sau:

Dự án xây dựng chiến lược

Lập chiến lược Công ty

Lập chiến lược các đơn vị kinh doanh

Xây dựng các biện pháp thực hiện chiến lược Đánh giá chiến lược và các biện pháp thực hịên

7 Lập và thông qua các tài liệu chiến lược

1: Được lập bởi các chuyên gia, sau khi nghiên cứu, khảo sát trong 1 thời gian tương đối dài

2: Phân tích SWOT (S: Strenghts: điểm mạnh; W: Weaknesser: điểm yếu; O: Opportunities: cơ hội; T: Threats: thách thức)

3: Rà soát các lĩnh vực, đơn vị kinh doanh để xem có thêm lĩnh vực nào, lĩnh vực nào đầu tư thêm, đầu tư mới.

4: Các chiến lược cạnh tranh làm cho từng đơn vị kinh doanh

5: Xây dựng biện pháp tài chính, nhân lực, công nghệ

6: Đánh giá tính hiệu quả, khả thi

7: Viết, thông qua tài liệu chiến lược Đây là sản phẩm cuối cùng.

Qui trình 6 bước (2-7) để thực hiện 3 nội dung sau:

1-Xác định nhiệm vụ chiến lược và hệ thống mục tiêu chiến lược (mô hình 3E) *

2- Chẩn đoán chiến lược (phân tích môi trường kinh doanh) bên ngoài và bên trong, mục đích để nhận dạng SWOT

3-Xây dựng các chiến lược khả thi và lựa chọn chiến lược

*: Chiến lược kinh doanh là sự tương hợp của 3E trong đó:

Phân tích doanh nghiệp tập trung vào việc so sánh điểm mạnh và điểm yếu với đối thủ cạnh tranh và xây dựng một hệ thống ba cấp độ cạnh tranh Cấp độ 1 là vị trí cạnh tranh trên thị trường mục tiêu, đòi hỏi doanh nghiệp phải tích luỹ theo thời gian để đạt được; cấp độ 2 là lợi thế cạnh tranh dài hạn về sản phẩm và thị trường, phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm và mức giá, giúp duy trì vị thế trên thị trường; cấp độ 3 là lợi thế cạnh tranh dài hạn về nguồn lực, bao gồm vốn, lực lượng lao động, tài sản và mạng phân phối Tuy cấp độ 2 và cấp độ 3 là nền tảng chiến lược, chúng được xây dựng từ cấp độ 3 lên cấp độ 2 để có cấp độ 1 Hệ thống ba cấp độ này có sự tác động và phản hồi lẫn nhau, với mỗi cấp độ tác động trở lại lên các cấp độ khác và củng cố vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp.

Cả 3 cấp độ này phải được xây dựng trong cả quá trình lâu dài.

E2 - Môi trường bao gồm các cơ hội và đe doạ đối với sự phát triển của doanh nghiệp, được phân tích ở ba góc độ: ngành, kinh tế quốc dân và kinh tế quốc tế Trong khung phân tích này, 5 yếu tố cần xem xét là plan (kế hoạch) để tận dụng cơ hội và giảm thiểu rủi ro, ploy (mưu lược) để nâng cao cạnh tranh, pattem (khuôn mẫu) nhằm thiết lập chuẩn mực và sự nhất quán, position (vị thế) để xác định và củng cố lợi thế cạnh tranh, và perpectue (triển vọng) để định hướng tăng trưởng và chiến lược dài hạn.

E3- Ertreprenewr - chủ doanh nghiệp: giá trị và niềm tin.

Đây vẫn được xem là một mô hình cổ, thể hiện sự tương thích với 3E; tuy nhiên, 3E ngày nay đã mở rộng với nhiều quan điểm đa dạng và sâu sắc hơn, và nó đã trở thành văn hóa doanh nghiệp chứ không chỉ là một mô hình kinh doanh.

1.2.2 Xác định nhiệm vụ chiến lược và hệ thống mục tiêu chiến lược

Ở bước xác định ngành nghề và mặt hàng kinh doanh chính, doanh nghiệp xác định mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ cốt lõi, làm nền tảng cho việc hoạch định chiến lược và xây dựng kế hoạch kinh doanh Việc làm rõ các mục tiêu và nhiệm vụ giúp định hướng chỉ đạo cho các bước tiếp theo trong tiến trình xây dựng chiến lược và cung cấp căn cứ cho việc kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh chiến lược trong quá trình thực thi sau này.

Chức năng và nhiệm vụ là lý do tồn tại của doanh nghiệp và là yếu tố giúp phân biệt doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh Nội dung của chức năng và nhiệm vụ phải được nêu rõ để định hướng chỉ đạo cho toàn bộ tổ chức Vì vậy, chúng cần được triển khai có hệ thống và phác thảo thành các mục tiêu cụ thể, có thể đo lường được, nhằm đảm bảo sự nhất quán giữa chiến lược, hoạt động và kết quả thực tế của doanh nghiệp.

Hệ thống mục tiêu chính là những kết quả cụ thể mà doanh nghiệp phấn đấu để đạt được, là đích của các chiến lược và quyết định của doanh nghiệp Nói cách khác, đây là những kết quả doanh nghiệp hy vọng sẽ đạt được khi thực hiện chiến lược Tuỳ từng doanh nghiệp và từng thời kỳ mà mục tiêu sẽ thay đổi để hình thành một hệ thống mục tiêu chiến lược, với các chỉ tiêu như tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, năng suất, thị phần và vị thế trên thị trường; tuy nhiên cũng có thể phân chia ra hai loại mục tiêu cơ bản là.

Định hướng mục tiêu dài hạn là các kết quả mong muốn của doanh nghiệp được đề ra và thực hiện trong một khoảng thời gian tương đối dài, vượt quá một chu kỳ kinh doanh Hiện nay, doanh nghiệp thường theo đuổi nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng có thể quy về ba mục tiêu cơ bản: khả năng sinh lợi, vị thế trên thị trường và mức độ an toàn trong kinh doanh Việc xác định rõ các mục tiêu dài hạn giúp tối ưu hóa phân bổ nguồn lực, xây dựng kế hoạch chiến lược và đo lường hiệu quả theo thời gian Ba trụ cột này cùng nhau tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững và gia tăng giá trị cho doanh nghiệp giữa bối cảnh cạnh tranh hiện nay.

Mục tiêu ngắn hạn là các kết quả mong đợi của doanh nghiệp được xác định và thực hiện trong một chu kỳ kinh doanh ngắn Với loại mục tiêu này, cần hết sức cụ thể và có kết quả rõ ràng, chẳng hạn các mục tiêu về năng suất, thị phần hoặc ra mắt sản phẩm công nghệ mới Những mục tiêu ngắn hạn giúp tập trung nguồn lực, đo lường tiến độ và cho phép doanh nghiệp thích ứng nhanh với biến động thị trường trong thời gian ngắn.

Dù là mục tiêu nào thì cũng phải đảm bảo các tiêu chí sau: cụ thể, linh hoạt, định hướng, khả thi và nhất quán

1.2.3 Chẩn đoán chiến lược bên ngoài và bên trong

Trước khi hoạch định chiến lược, doanh nghiệp cần tiến hành một loạt phân tích dựa trên căn cứ khoa học, trong đó phân tích môi trường ngoại vi (bao gồm môi trường vĩ mô và môi trường vi mô) và phân tích môi trường nội bộ (nội vi) là hai nhóm chính Đây là tập hợp các điều kiện và yếu tố bên ngoài lẫn bên trong tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp và chi phối sự thành công hay thất bại Việc đánh giá kỹ lưỡng điều kiện môi trường kinh doanh hiện tại và dự báo môi trường dự kiến trong tương lai sẽ giúp bảo đảm sự thành công của doanh nghiệp.

Phân tích môi trường kinh doanh: phân tích này nhằm xác định thời cơ và các đe doạ từ môi trường

Chiến lược phát triển nhân lực

1.3.1 Vai trò của yếu tố con người trong đào tạo và sản xuất kinh doanh

Con người là vốn quý nhất, là nguồn lực bao trùm mọi hoạt động kinh tế - xã hội Trong đào tạo và sản xuất kinh doanh, vốn không chỉ là tiền bạc, cơ sở vật chất hay đất đai mà còn là con người với trí tuệ, kỹ năng và động lực làm việc Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển lịch sử và tiến bộ xã hội Đầu tư vào nguồn nhân lực, nâng cao trình độ và kỹ năng của đội ngũ lao động chính là nền tảng để nâng cao hiệu quả đào tạo, sản xuất và cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế Nhờ có con người, đổi mới sáng tạo và tiến bộ xã hội được duy trì và lan tỏa, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội.

Trong những năm gần đây, đồng thời với việc nói đến chiến lược kinh tế

Xã hội, các nhà lãnh đạo và các nhà khoa học đều nhắc đến chiến lược con người, nhưng đây không phải là hai vấn đề tách rời mà là hai cách diễn đạt của một nội dung phát triển đất nước: nhận thức lý luận và thực tiễn đều hiện hữu và cùng vận hành, với con người giữ vai trò thiết yếu Quá trình phát triển của xã hội chính là quá trình giải quyết mâu thuẫn, và động lực giải quyết các mâu thuẫn đó chính là con người, thông qua các hoạt động của chính họ Khi con người được nhìn nhận là động lực quyết định cho sự tiến lên của xã hội và là nguồn lực chủ đạo để giải quyết mọi mâu thuẫn, thì họ xứng đáng được quan tâm đầy đủ ở mọi mặt.

Con người vừa phát huy và ứng dụng khoa học kỹ thuật để cải tạo đối tượng lao động, vừa khai thác và bảo vệ thiên nhiên để tạo ra sản phẩm; đồng thời khoa học kỹ thuật cũng là phương tiện để con người phát triển bản thân và tham gia với tư cách là một lực lượng sản xuất đặc biệt Hai mặt đó gắn bó chặt chẽ với nhau, bảo đảm cho quá trình tiến lên của chính con người và của lực lượng sản xuất Trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, khi lực lượng sản xuất phát triển mạnh, vai trò của con người càng được nâng cao.

Mức tă ng tr- ởng thị tr- ờng cao

Vị thế cạnh tranh yếu thế Vị cạnh tranh mạnh

Lựa chọn các chiến lược củng cố mạnh và chiến lược làm thay đổi cách kinh doanh

Thu hồi vốn đầu tư

Lựa chọn các chiến lược nhằm vào việc giữ doanh nghiệp tiếp tục ở lại ngành

Thâm nhập thị trường Phát triển thị trường Phát triển sản phảm

Hội nhập dọc Đa dạng hoá đồng tâm Mua lại (chiến lược hướng ngoại)

Lựa chọn các chiến lược chuyển doanh nghiệp sang ngành khác

Lựa chọn các chiến lược giảm bớt sự tham gia của doanh nghiệp trong ngành

Hình 1.3 - Sự lựa chọn chiến lược của doanh nghiệp

1.3.2 Khái niệm về nhân lực

- Khái niệm về nhân lực

Nhân lực là tổng hòa của sức lực, trí lực và tâm lực, ba yếu tố quyết định hiệu quả và chất lượng công việc của mỗi người; sức lực biểu hiện bằng sức cơ bắp và thể lực, và phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, mức sống và chế độ dinh dưỡng; trí lực là khả năng tư duy, học hỏi và sáng tạo, còn tâm lực thể hiện động lực, tinh thần làm việc và sự gắn kết với tổ chức.

Trí lực là yếu tố phản ánh khả năng nhận thức và tư duy của con người, là những thuộc tính của trí tuệ giúp chúng ta nắm bắt tri thức và vận dụng kiến thức vào cuộc sống Nhờ trí lực, con người có thể phân tích thông tin, đánh giá tình huống và đưa ra quyết định một cách chính xác Đây là nguồn lực trí tuệ giúp các hoạt động hàng ngày diễn ra dễ dàng và hiệu quả trong nhiều lĩnh vực khác nhau Năng lực trí tuệ không chỉ ở việc ghi nhớ mà còn ở khả năng sáng tạo, tư duy phản biện và học hỏi liên tục để thích nghi với môi trường thay đổi.

Nhân lực, còn được gọi là lao động sống, là một đầu vào độc lập có vai trò quyết định các đầu vào khác của quá trình sản xuất và kinh doanh Quản trị nguồn nhân lực hiệu quả giúp tối ưu hóa chu trình sản xuất, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, đồng thời nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

Nguồn nhân lực, theo nghĩa rộng, được hiểu là nguồn lực con người và được xem như một thành phần quan trọng bên cạnh nguồn lực vật chất và nguồn lực tài chính của tổ chức Việc huy động và quản lý hiệu quả nguồn lực con người, đồng thời tối ưu hóa các nguồn lực vật chất và tài chính, là yếu tố then chốt để thực hiện các mục tiêu đã đề ra.

Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp là tập hợp những người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động để làm việc Theo cách hiểu này, nguồn nhân lực là một bộ phận của dân cư gồm những người ở độ tuổi lao động theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam, nam từ 15 đến 60 tuổi và nữ từ 15 đến 55 tuổi, có khả năng lao động Đây là lực lượng lao động tiềm năng, nguồn lực quan trọng nhất có thể huy động vào các hoạt động của nền kinh tế - xã hội, và số lượng nhân lực phụ thuộc vừa vào khả năng tham gia lao động của từng cá nhân, vừa vào quy định độ tuổi lao động của mỗi quốc gia.

Nguồn nhân lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liến với một nền khoa học công nghệ hiện đại.

- Khái niệm về nhân lực trong doanh nghiệp

Nhân lực của một doanh nghiệp là toàn bộ số người tham gia vào quá trình sản xuất và kinh doanh, đại diện cho khả năng lao động mà doanh nghiệp huy động để thực hiện các nhiệm vụ ngắn hạn và dài hạn Dựa trên các dấu hiệu như giới tính, độ tuổi, trình độ chuyên môn và bậc học, cơ cấu nhân lực được phân loại và mỗi phương án phân loại đi kèm một cơ cấu phù hợp với mục tiêu nguồn lực của doanh nghiệp Chất lượng nhân lực được coi là sản phẩm của hoạt động lãnh đạo quản lý và là yếu tố quyết định để nâng cao năng suất lao động Số lượng nhân lực phụ thuộc vào quy mô, phạm vi và chức năng, nhiệm vụ của doanh nghiệp, và thường được xác định thông qua hệ thống định mức và tiêu chuẩn định biên Nhân lực, hay yếu tố con người, đóng vai trò then chốt trong nâng cao năng suất lao động, và để đổi mới trong doanh nghiệp trước hết phải có con người có khả năng đổi mới.

Phát triển nhân lực là quá trình biến đổi đồng bộ về số lượng và chất lượng của đội ngũ lao động, đồng thời tăng cường sức lao động của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh Việc nâng cao trình độ, kỹ năng và động lực làm việc của nhân viên giúp tối ưu vận hành, tăng năng suất và giảm thiểu lãng phí Phát triển nhân lực cũng là nền tảng cho đổi mới sáng tạo và sự thích ứng với yêu cầu thị trường, từ đó củng cố cạnh tranh cho doanh nghiệp Mục tiêu cuối cùng là cải thiện hiệu quả trong sản xuất kinh doanh đồng thời xây dựng nguồn lực con người bền vững cho sự phát triển lâu dài.

Đào tạo nhân lực là quá trình học tập giúp người lao động thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và làm tốt các công việc hiện tại, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động cho sự phát triển kinh tế Đào tạo bao gồm các hoạt động nhằm nâng cao tay nghề và kỹ năng cho hiện tại hoặc cho lựa chọn tương lai, là nội dung không thể thiếu đối với mọi tổ chức có sử dụng lao động Trong doanh nghiệp, đào tạo tạo cơ hội cho CNVC được học tập và với việc học tập liên tục sẽ làm biến đổi hành vi tương đối bền vững, cho kết quả là có kiến thức, có kỹ năng và có năng lực cá nhân phù hợp với nhu cầu thực tế; khi được đào tạo người lao động sẽ nhanh chóng nắm bắt kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm ứng dụng vào hoạt động kinh doanh để mang lại năng suất cao, có thể bù đắp được chi phí đào tạo và vẫn đảm bảo lợi nhuận cao hơn trước, đồng thời xây dựng được đội ngũ nhân lực kế cận cho sự phát triển chung của doanh nghiệp Để công tác đào tạo đáp ứng yêu cầu, doanh nghiệp phải chú trọng toàn diện các nội dung như kế hoạch đào tạo, nội dung đào tạo, phương thức đào tạo và các nguồn lực phục vụ cho quá trình đào tạo, đồng thời xây dựng chương trình đào tạo thích hợp nhất với nguồn nhân lực của doanh nghiệp.

1 3.4 Tiến trình hoạch định nguồn nhân lực

Quy trình hoạch định nhân lực là quá trình phân tích nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp dưới điều kiện thay đổi và triển khai các chính sách, biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu đó Quá trình này giúp lãnh đạo đánh giá xem doanh nghiệp có đúng số lượng và loại lao động ở đúng vị trí, đúng thời điểm hay không, những người có khả năng hoàn thành nhiệm vụ một cách hiệu quả để thúc đẩy doanh nghiệp đạt được mục tiêu chung Dựa trên chiến lược phát triển của doanh nghiệp, chiến lược phát triển nguồn nhân lực phải xác định mục tiêu tương lai và phác thảo các bước đi cần thiết để đạt được những mục tiêu ấy, từ đó hình thành kế hoạch hành động nhân sự phù hợp với mục tiêu kinh doanh.

Chiến lược phát triển nhân lực của tổ chức bao gồm:

- Xác định nhu cầu về số lượng, chất lượng lao động từng thời kỳ

- Bố trí sử dụng đội ngũ lao động hiện có

- Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ đáp ứng yêu cầu bố trí sử dụng

- Chính sách tuyển dụng nguồn nhân lực từ bên ngoài

Các bước thực hiện như sau

Bước 1-Dự báo nhu cầu

Xuất phát từ yêu cầu của công việc dự báo nhu cầu nhân lực, cần xác định rõ số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, số nhân sự đã có, số cần bổ sung và nguồn bổ sung phù hợp Trong bước này, cần quan tâm đến trình độ học vấn chung của xã hội, quan điểm thịnh hành về lao động, các quy định có ảnh hưởng đến người lao động và tình hình cung cầu nhân lực để từ đó định hướng kế hoạch đào tạo và tuyển dụng một cách hiệu quả.

Bước 2: Dựa trên các dự báo, doanh nghiệp đề xuất các chính sách tuyển dụng, mức lương, thưởng, quy chế và cơ chế hoạt động, đồng thời xác lập mục tiêu doanh nghiệp và nâng cao nghiệp vụ, trình độ công nghệ Đây là nhóm yếu tố nội bộ đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng từ bên ngoài.

Bước 3- Thực hiện kế hoạch: tuyển dụng, sắp xếp, bố trí, đề bạt

Các nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược phát triển nhân lực trong một tổ chức

Chiến lược phát triển nhân lực trong một tổ chức chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố sau:

1.4.1 ảnh hưởng của các tiêu chuẩn và quy trình tuyển dụng

Nhân lực của tổ chức được tuyển dụng và bổ nhiệm theo yêu cầu thực tế của từng vị trí công tác, vì vậy quy mô và cơ cấu tuyển dụng phải tương thích với khối lượng công việc, tính chất và điều kiện làm việc Hệ thống tuyển dụng nhân lực cần được tổ chức chặt chẽ và nghiêm túc để tuyển đúng người theo các tiêu chuẩn đã đặt ra, từ đó đảm bảo chất lượng đội ngũ lao động ngay từ ban đầu và tạo nền tảng cho bổ nhiệm, bố trí cán bộ đúng chuẩn Việc xây dựng và áp dụng chuẩn tuyển dụng và tuyển chọn theo chuẩn đặt ra không chỉ đáp ứng yêu cầu hiện tại mà còn là cơ sở để đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nhân lực về lâu dài.

1.4.2 ảnh hưởng của chính sách đào tạo, nâng cao trình độ

Chính sách đào tạo và bồi dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ lao động của mỗi tổ chức; vì mỗi tổ chức có đặc điểm hoạt động riêng, yêu cầu trình độ chuyên môn và quản lý khác nhau tùy thuộc vào vị trí pháp lý, chức năng và nhiệm vụ Trước thực tế hệ thống giáo dục quốc dân không thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu riêng của từng tổ chức, việc này đòi hỏi các tổ chức phải xây dựng chính sách đào tạo nhằm trang bị kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước, tin học và ngoại ngữ phù hợp với công việc đặc thù Đồng thời, cần liên tục nâng cao trình độ chuyên môn và bồi dưỡng cập nhật kiến thức cho cán bộ quản lý và nhân sự chuyên môn để đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức Để thực hiện hiệu quả công tác đào tạo, việc xây dựng nội dung, chương trình và lựa chọn phương thức tổ chức đào tạo phù hợp với yêu cầu công việc theo từng chức danh và từng loại nhân lực là yếu tố hàng đầu đảm bảo duy trì và nâng cao chất lượng đội ngũ lao động trong tổ chức.

Các yếu tố tác động đồng thời đến chất lượng đội ngũ lao động trong một tổ chức từ nhiều góc độ khác nhau Từ phía tổ chức, cần đặc biệt quan tâm đến các yếu tố mang tính chủ quan như tuyển dụng nhân lực, đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, sử dụng và thu hút nhân lực, vì nhóm yếu tố này có thể kiểm soát và điều tiết xu hướng cũng như mức độ tác động từ phía tổ chức.

1.4.3 Mức độ hấp dẫn của chính sách tổ chức sử dụng và đãi ngộ

Việc bổ nhiệm và bố trí nhân lực vào các chức danh, vị trí công tác phù hợp với trình độ đào tạo, chuyên môn và năng lực của từng người theo hướng chuyên môn hoá sẽ tạo ra môi trường hoạt động thuận lợi để mỗi cá nhân phát huy sở trường, có điều kiện tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và tự đào tạo nâng cao chất lượng nhân lực theo hướng chuyên sâu, phát huy đầy đủ các tố chất vốn có của người lao động và đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nhân lực của tổ chức Ngược lại, nếu nhân lực được tuyển dụng mà không được bố trí đúng công việc sẽ gây lãng phí về nhân lực và ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần, thái độ làm việc, chất lượng công việc và chất lượng nhân lực của tổ chức.

Kỷ luật lao động và xây dựng tổ chức thực thi các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, công chức là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến ý thức kỷ luật và việc duy trì đạo đức, văn hóa nghề nghiệp của tổ chức Công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng hoạt động và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức được thực hiện thường xuyên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhằm tăng cường kỷ luật làm việc, tuân thủ các quy trình làm việc và tiêu chuẩn công việc, đồng thời duy trì đạo đức nghề nghiệp, là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực nói riêng và chất lượng hoạt động của tổ chức nói chung.

Việc luân chuyển và đề bạt cán bộ trong quá trình sử dụng thể hiện sự thừa nhận và đánh giá đúng mức về trình độ, năng lực và tiềm năng của từng cá nhân, từ đó tối ưu hóa phân bổ nguồn lực của tổ chức Đây là yếu tố tác động mạnh mẽ đến chất lượng nhân lực, giúp phát hiện và khai thác tối đa khả năng của đội ngũ, nâng cao động lực làm việc và sự gắn kết với mục tiêu của tổ chức Để quản trị nguồn nhân lực hiệu quả, cần kết hợp chặt chẽ giữa luân chuyển, đề bạt và đánh giá hiệu suất, đảm bảo cơ hội thăng tiến công bằng và nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn bộ tổ chức.

Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao trong xã hội là yếu tố then chốt ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức và hiệu quả hoạt động Các yếu tố chủ chốt gồm chính sách lương cạnh tranh, cơ chế sử dụng và phân bổ nhân lực phù hợp với yêu cầu công việc, cùng các chương trình đãi ngộ hợp lý Đào tạo và phát triển được tích hợp với các ưu đãi nhằm nâng cao năng lực và động lực làm việc, từ đó thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao và hạn chế tối đa thất thoát tài năng Việc tối ưu các chính sách này sẽ đảm bảo đáp ứng yêu cầu chất lượng trong xã hội và duy trì sự ổn định lâu dài của nguồn nhân lực cho tổ chức.

phân tích đánh giá thực trạng phát triển của Trường Quản lý kinh tế công nghiệp

Chiến lược phát triển nhân lực của trường quản lý kinh tế công nghiệp đến năm 2015

Ngày đăng: 26/03/2022, 09:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. TS. Trần Kim Dung (2005), Quản trị nguồn nhân lực. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nguồn nhân lực
Tác giả: TS. Trần Kim Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2005
3. TS. Nguyễn Thanh Hợi (2002), Quản trị nhân sự. Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nhân sự
Tác giả: TS. Nguyễn Thanh Hợi
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2002
5. GS-TS. Đỗ Văn Phức (2004), Cán bộ quản lý trong sản xuất công nghiệp, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cán bộ quản lý trong sản xuất công nghiệp
Tác giả: GS-TS. Đỗ Văn Phức
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật
Năm: 2004
6. GS-TS. Đỗ Văn Phức (2005), Quản lý nhân lực của doanh nghiệp , Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhân lực của doanh nghiệp
Tác giả: GS-TS. Đỗ Văn Phức
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật
Năm: 2005
7. GS-TS. Đỗ Văn Phức (2006), Quản lý doanh nghiệp, Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý doanh nghiệp
Tác giả: GS-TS. Đỗ Văn Phức
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động xã hội
Năm: 2006
8. PGS-TS Phạm Đức Thành (1996), Giáo Trình Quản trị nhân lực. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo Trình Quản trị nhân lực
Tác giả: PGS-TS Phạm Đức Thành
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 1996
9. Nguyễn Hữu Thân, Ph.D/DBA (2006), Quản trị nhân sự. Nhà xuất bản Thống kê, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nhân sự
Tác giả: Nguyễn Hữu Thân, Ph.D/DBA
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2006
10. PGS-TS Nguyễn Đức Trí và ThS Nguyễn Đăng Trụ Báo cáo tổng kết đề tài Nghiên cứu các giải pháp thực hiện tiêu chuẩn hoá giáo viên trung học chuyên nghiệp, Mã số B2003 -52-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết đề tài Nghiên cứu các giải pháp thực hiện tiêu chuẩn hoá giáo viên trung học chuyên nghiệp
11. Đào tạo nhân lực cho nền kinh tế Quốc dân, Tạp chí ĐH và GDCN T8/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nhân lực cho nền kinh tế Quốc dân
13. Quyết định số 09/2005/QĐ - TTG ngày 11 tháng 01 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt dự án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ Nhà giáo và Cán bộ quản lý Giáo dục giai đoạn 2005 – 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ Nhà giáo và Cán bộ quản lý Giáo dục giai đoạn 2005 – 2010
14. Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI kinh nghiệp của các quốc gia (2002), NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI kinh nghiệp của các quốc gia
Tác giả: Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI kinh nghiệp của các quốc gia
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
15. Phạm Văn Đồng (1999), Một số vấn cần quan tâm về giáo dục đại học nước ta hiện nay, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn cần quan tâm về giáo dục đại học nước ta hiện nay
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
16. Đặng Bá Lâm (2003), Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ 21 chiến lược phát triển, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ 21 chiến lược phát triển
Tác giả: Đặng Bá Lâm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
1. TS. Trần Kim Dung (1992), Quản trị nhân sự. ĐHKT, TPHCM Khác
4. GS- TS. Đỗ Văn Phức, Báo cáo tổng hợp nghiên cứu khoa học cấp Bộ mã số B2005 – 28 – 182 Khác
12. Chiến lược phát triển Trường Quản lý kinh tế công nghiệp Khác
17. PGS- TS Phạm Văn Kha (2006), Chất lượng đào tạo nhân lực trong cơ chế thị trường, Tạp chí Khoa học Giáo dục Khác
18. Phạm Bá Đạt (2005), Luật Giáo dục và các quy định pháp luật mới nhất đối với GD&ĐT, NXB Lao động - Xã hội Khác
19. Phạm Minh Hạc (2001), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ 21, NXB Chính trị Quốc gia Khác
20. PGS- TS Phan Thị Ngọc Thuận, Chiến lược kinh doanh và kế hoạch hoá nội bộ doanh nghiệp, NXB Khoa học và Kỹ thuật Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w