(NB) Giáo trình Máy điện 1 cung cấp cho người học những kiến thức như: Khái niệm chung về máy điện; Máy biến áp; Quấn dây máy biến áp; Máy điện không đồng bộ; Vẽ sơ đồ dây quấn động cơ; Tháo ráp động cơ; Tháo ráp động cơ;...Mời các bạn cùng tham khảo nội dung giáo trình phần 2 dưới đây.
Trang 1Bài 6 Tháo ráp động cơ 6.1 Ý nghĩa các kí hiệu ghi trên biển máy
Thông thường trên tất cả các động cơ điện điều có ghi các thông số cơ bản sau:
- Công suất định mức Pđm (KW) hoặc (HP)
- Điện áp dây định mức Uđm (V)
- Dòng điện dây định mức Iđm (A)
- Tần số dòng điện f (Hz)
- Tốc độ quay rôto nđm (vòng / phút) hoặc (r/pm)
- Hệ số công suất cos ϕ
- Loại động cơ 3 pha hoặc 1 pha
Ngoài các thông số định mức trên bên cạnh đó có những loại động cơ còn
có các thông số phụ như: hiệu suât (ηđm ); mã số vòng bi; cấp cách điện; trọng lượng động cơ…
6.2 Cách bố trí các mối dây ra của động cơ
6.2.1 Qui ước ký hiệu Đầu- Cuối
* Đối với bối dây (hay nhóm bối dây): Trong khi thực hành, khi xây dựng
sơ đồ dâyquấn ta phải qui ước khi nhìn vào hình vẽ của bối dây (hay nhóm bối dây) đầu nằm ở phía tráilà đầu “đầu” đầu còn lại nằm ở phía phải là đầu“cuối”
* Đối với cuộn dây pha: Tương tự như trên, kí hiệu A, B, C là đầu “đầu” các pha, X, Y, Z là đầu “cuối” các pha
6.2.2 Quy cách bố trí các mối dây ra trên hộp nối
Động cơ 3 pha gồm có 3 cuộn dây pha với 6 đầu dây được đưa ra ngoài hộp nối (hình 4.1a) Tùy thuộc vào điện áp định mức đặt lên các cuộn dây và đện áp nguồn mà ta có cách đấu Y hay bằng cách xoay lá đồng vào các chân cực (hình 4.1b, c)
C B
A
X Z
Y
C B
A
X Z
Y
C B
A
X Z
Y
a) b) c)
Hình 4.1 a Cách bố trí các đầu dây ra trên hộp nối b Đấu Y; c Đấu
Trang 2Bài 7 Đấu dây vận hành động cơ
Qua quá trình sửa chữa và quấn lại toàn bộ động cơ, công đoạn cuối cùng
là đấu dây để cho động cơ hoạt động theo chiều quay thì ta phải nắm được sơ đồ dấy quấn của từng loại để thuận tiện trong quá trình đấu Tùy theo loại động cơ
1 pha hay 3 pha mà ta có các sơ đồ sau
7.1 Đấu dây vận hành động cơ một pha
7.1.1 Sơ đồ quạt bàn dùng tụ (quạt bàn 3 số)
7.1.2 Sơ đồ quạt trần chạy tụ
Trang 37.1.3 Động cơ một pha dùng tụ thường trực
7.2 Đấu dây vận hành động cơ 3 pha sáu đầu dây
Cách đấu động cơ 3 pha tùy thuộc vào điện áp định mức mà nhà thiết kế yêu cầu và điện áp nguồn Trên thực tế, có hai cách đấu động cơ 3 pha sáu đầu dây: đấu tam giác ( ) và đấu sao (Y)
Trang 47.2.1 Đấu tam giác ( )
Khi trên thẻ máy của động cơ 3pha có ghi điện áp định mức 2 cấp 220V/380V và động cơ được lắp đặt sử dụng với mạng điện 110V/220V 3 pha, thì động cơ được đấu dây tam giác cho phù hợp với điện áp thấp
7.2.1 Đấu tam giác ( )
Đấu sao (Y)
Nếu động cơ 3 pha trên được lắp đặt sử dụng với mạng điện 220V/380V 3 pha thì động cơ được đấu dây theo cách đấu sao mới phù hợp với điện áp cao của mạng điện
Lưu ý: Động cơ ghi 127V/220V chỉ đấu sao và sử dụng với điện áp thấp 220V-3 pha Động cơ ghi 380V/660V chỉ đấu tam giác để sử dụng mạng điện 220V/380V 3 pha
X,Y,Z
C A
Trang 5Bài 8 Quấn dây động cơ 3 pha 8.1 Tháo và vệ sinh động cơ
- Tháo các đầu dây dẫn điện đến động cơ, tháo dây tiếp đất Trước khi tháo phải kiểm tra chắc chắn đã cắt điện
- Tháo rời động cơ ra khỏi máy được động cơ kéo
- Tháo puli ở bộ phận truyền lực ra khỏi trục động cơ ra bằng vam, không được dùng búa để tống puli ra
- Tháo bộ phận che cánh quạt và nếu là động cơ kín, kiểu kín cánh quạt ngoài
- Tháo lắp mỡ sau của động cơ
- Tháo bu lông nắp trước và lắp sau
- Rút nắp sau ra bằng cách dùng búa gõ nhẹ trên một miếng đệm bằng gỗ hoặc bằng kim loại mềm như đồng đỏ Cần phải tuần tự gõ đều trên hai điểm đối xứng của đường kính trên mặt nắp Nếu có ốc hãm giữ nắp và vòng bi phải chú
ý ốc hãm
- Rút ruột cùng với nắp ra khỏi vỏ
- Rút ruột ra phải để trên giá gỗ không để trục và ruột động cơ sát trực tiếp xuống đất Vòng bi chỉ được tháo ra khỏi trục trong trường hợp phải thay
- Lau sạch và bôi trơn trục
8.2 Khảo sát và vẽ lại sơ đồ dây quấn
8.2.1 Ví dụ 1:
Tính toán vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn động cơ 3 pha:
Z1 = 24, 2p = 4, m = 3, lớp đơn, đồng tâm, 6 tổ bối đôi y1 = 8, y2 = 6 Đấu nối tiếp khác phía: Đầu- cuối
- Số tổ = 1/2 số cực Các tổ bối dây đấu nối tiếp khác phía
Trang 6* Sơ đồ trải:
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 1 2 3 4 5 6 7 8 9 20 1 2 3 4
8.2.2 Ví dụ 2:
Tính toán, vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn động cơ 3 pha:
Z= 24; 2p = 2 Mỗi pha có 2 tổ bối đôi đồng khuôn, lớp đơn; y = 11
Các cuộn pha lệch nhau 2/3= 2/3.12= 8 (rãnh)
Giả sử cuộn pha A bắt đầu ở rãnh 1cuộn pha B bắt đầu từ rãnh 1+ 8 = 9 Cuộn pha C bắt đầu từ rãnh 9 + 8 = 17
- Số tổ = số cực Các tổ bối dây đấu nối tiếp cùng phía
* Sơ đồ trải:
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 1 2 3 4 5 6 7 8 9 20 1 2 3 4
Trang 78.2.3 Ví dụ 3:
Tính toán, vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn động cơ 3 pha có:
Z1 = 24, 2p = 4, y = 4 Lớp đơn đồng khuôn mỗi pha có 4 tổ bối đơn Đấu nối tiếp cùng phía
- Số tổ = số cực= 4 Các tổ bối dây đấu nối tiếp cùng phía
Các cuộn pha lệch nhau 2/3= 2/3.6 = 4(rãnh)
Giả sử cuộn pha A bắt đầu ở rãnh 1cuộn pha B bắt đầu từ rãnh 1+ 4 = 5 Cuộn pha C bắt đầu từ rãnh 5 + 4 = 9
- Số tổ = 1/2 số cực Các tổ bối dây đấu nối tiếp khác phía
Trang 8* Sơ đồ trải:
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 1 2 3 4 5 6 7 8 9 20 1 2 3 4 5 6 7 8 9 30 1 2 3 4 5 6
8.2.5 Ví dụ 5:
Tính toán, vẽ sơ đồ trải, bộ dây quấn động cơ 3 pha Z = 36, 2p = 4, 6 tổ bối
ba, lớp đơn đồng tâm, y= 12- 10- 8 Đấu nối tiếp khác phía
* Tính toán các thông số:
- Bước cực: = Z/2p= 36/4= 9
Các cuộn pha lệch nhau 2/3= 2/3.9= 6(rãnh)
Giả sử cuộn pha A bắt đầu ở rãnh 1cuộn pha B bắt đầu từ rãnh
1+ 6 = 7
Cuộn pha C bắt đầu từ rãnh7 + 6 = 13
- Số tổ = 1/2 số cực Các tổ bối dây đấu nối tiếp khác phía
* Sơ đồ trải:
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 1 2 3 4 5 6 7 8 9 20 1 2 3 4 5 6 7 8 9 30 1 2 3 4 5 6
Trang 98.3 Thi công quấn dây
Bước 1: Khảo sát bộ dây cũ
Trước hết, cần căn cứ vào kết cấu ống dây, hình thức khởi động, số đầu dây ra, điện áp sử dụng để khẳng định đó là loại động cơ gì Từ đó để phân biệt được nhiệm vụ của các đầu dây ra và tìm cách ghi nhớ chúng bằng màu sắc vỏ dây, bằng nút thắt hoặc xâu giấy Nếu là động cơ ba pha thì phải phân biệt được đâu là đầu đầu của các pha, đâu là đầu cuối của chúng, đâu là những mối dây chung… sau đó, phải dùng sơ đồ tròn để vẽ lại cấu tạo ống dây
Cần phải vẽ chi tiết đến từng bối dây để sau này có căn cứ mà lồng dây lại như cũ Những bối dây được lồng vào trước hoặc những cạnh bối dây nằm ở lớp dưới nên vẽ bằng nét đứt, những bối dây lồng vào sau hoặc những cạnh bối dây
ở lớp trên nên vẽ bằng nét liền
Hình 6.1 Quan sát cuộn dây, xác định kiểu quấn, bước quấn dây cắt băng đầu dây,
lật các đầu nối để vẽ lại sơ đồ trải
Bước 2: Tháo dỡ bộ dây cũ và lấy số liệu
Bộ dây rôto hoặc stato trong động cơ điện thường được tẩm sơn cách điện nên rất chắc chắn Với những động cơ mới tiếp xúc lần đầu lại cần phải lấy số liệu nữa nên phải biết cách tháo dỡ nó Trước hết phải dùng cưa đĩa hoặc máy cắt cắt cụt các đầu nối về một phía của các bối dây (Hình 6.2) Các mảnh đầu nối được cắt ra cần phải giữ lại để lấy số liệu
Hình 6.2 Dùng máy cắt cắt cụt các đầu nối ở
một phía
Hình 6.3 Các mảnh đầu nối cắt ra phải giữ
lại để lấy số liệu
Trang 10Tiếp đến tống cho các nêm giữ dây trượt ra khỏi các rãnh, sau đó, dùng tuôcnơvit hoặc que sắt, bẩy cho phần còn lại của các bối dây tụt sang phía ống dây chưa bị cắt (hình 6.4)
- Xác định số nhóm bối dây trong 1 pha
- Tìm các dây đấu liên kết giữa các nhóm
- Xác định kiểu dây quấn (tập trung hay phân tán)
Hình 6.4 Dùng tuốcnơvít hoặc móc bẩy cho
phần còn lại của các bối dây
tụt sang phía chưa bị cắt
Hình 6.5 Lõi thép phải được vệ sinh
sạch sẽ
Đối với những động cơ lớn, có thể dùng búa hoặc đột, đặt cho sơn cách điện bong ra rồi tháo dần các vòng dây ra khỏi rãnh Riêng những động cơ có rãnh hình chữ nhật thì không nên cắt đầu các bối dây, nên dùng búa và đột gỗ,
gõ cho cả bối dây tụt dần qua phía khe miệng rãnh Khi lấy số liệu, nên gõ nhẹ lên các mảnh đầu nối đã cắt ở trên cho sơn cách điện bong ra, dựa vào màu men
và cỡ dây, ta đếm được số vòng dây quấn cho từng bối của các cuộn dây Để tránh nhầm lẫn, nên lấy số liệu ở ba mảnh đầu nối khác nhau Số liệu chính thức
sẽ được lấy ở mảnh có số liệu trung bình
Khi đo cỡ dây phải đo hai lần: lần 1 đo cả lớp sơn êmay, lần thứ hai đo đường kính dây đã đốt lớp êmay thì mới chính xác
Trang 11Bước 3: Làm vệ sinh và lót cách điện rãnh
Trước khi lót ta quan sát bên trong rãnh còn dính các cách điện cũ hay các lớp verni khô bị cháy còn sót trong rãnh, dùng lưỡi cưa sắt mài bén một cạnh làm thành dao để cạo sạch các vật bẩn đang chứa bên trong rãnh Nếu có khí nén thì thổi sạch các vật bẩn đã được cạo sạch ra khỏi rãnh (hình 6.7)
Hình 6.7 Rãnh stator sau khi làm vệ sinh hoàn chỉnh
Sau khi làm sạch rãnh stato đo chu vi rãnh và cắt cách điện rãnh Giấy lót cách điện giữa các bối dây với rãnh phải là loại giấy dầy, dai, ít hút ẩm và có điện áp đánh thủng cao Đó là các loại bìa cách điện chuyên dùng, vải lụa cách điện thường, vải lụa cách điện amiăng và các loại giấy mica Chiều dày và vật liệu làm lớp cách điện phụ thuộc vào điện áp làm việc của động cơ, cỡ dây quấn động cơ và nhiệt độ của nó ở chế độ làm việc lâu dài Nhìn chung, các động cơ càng lớn thì lớp cách điện càng dày và ngược lại Đôi khi, để tăng chất lượng cách điện cho động cơ, người ta phải làm lớp cách điện bằng hai loại giấy lót, lớp tiếp xúc với dây là lớp chịu nhiệt, lớp tiếp xúc với rãnh là lớp chịu điện áp Khi quấn lại ống dây, cần phải căn cứ vào chiều dầy lớp cách điện cũ để làm giấy lót mới Nếu giấy lót mới mà quá dày thì không thể vào được hết dây, nếu quá mỏng thì dễ bị rò điện ra lõi Kết cấu cách điện rãnh stato động cơ xoay chiều được trình bày trên hình 6.8
Hình 6.8 Kết cấu cách điện rãnh stato
a) Cách điện rãnh dây quấn xếp đơn
b) Cách điện rãnh dây quấn xếp kép:
1 – Bìa lót rãnh, 2 – Bìa úp, 3 – Nêm gỗ
1 2 3
Trang 12Cách làm bìa lót rãnh:
- Xác định kích thước mẫu: cắt miếng bìa cách điện có chiều dài lớn hơn chiều dày của lõi thép (4 – 6)mm Chiều rộng lấy bằng chu vi mặt cắt ngang của rãnh tính từ hai điểm gấp của miệng rãnh Cắt và gấp mép hai đầu miếng bìa về mỗi phía (2–3)mm (tuỳ động cơ nhỏ hay vừa mà nên gấp 2 hay 3mm) Làm như thế để khi uốn đầu bối dây, giấy cách điện không bị xé rách Nên gấp mép giấy
ra phía ngoài để chúng không chiếm chỗ của bối dây (Hình 6.9)
Hình 6.9: Giấy cách điện lót rãnh stator
Trong quá trình lót cách điện rãnh ta dùng thanh tre để đẩy cách điện ép sát rãnh (hình 6.10)
Hình 6.10: Phương pháp dùng tre để đẩy giấy cách điện sát vách rãnh
Stator đã lót hoàn chỉnh giấy cách điện rãnh và đang chuẩn bị lồng dây vào rãnh
Trang 13Sau khi lót xong toàn bộ cách điện rãnh ta kiểm tra cách điện, rãnh phải
mở rộng bung sát vách rãnh và không được thấp hơn cổ rãnh (hình 6.11)
H 6.11: Stator đã lót hoàn chỉnh giấy cách điện rãnh đạt yêu cầu
Bước 4: Làm khuôn quấn dây
Muốn chế tạo cuộn dây, trước tiên phải có khuôn để quấn dây, mỗi động
cơ có một kích thước bối dây khác nhau nên không thể dùng một loại khuôn để quấn cho tất cả các động cơ được, mà phải làm khuôn quấn cho từng loại
Nếu động cơ có các tổ bối dây kiểu đồng khuôn thì chỉ cần làm một lõi khuôn, nhưng trong các tổ có bao nhiêu bối dây thì phải làm bấy nhiêu chiếc khuôn theo kiểu dính đôi, dính ba, dính bốn…nhằm giảm số đầu nối và tăng chất lượng kỹ thuật của động cơ (hình 6.12) Vật liệu để làm khuôn có thể là gỗ mềm, có thể là các mảnh xốp chèn cho dễ gọt Độ dầy của các mảnh gỗ hoặc xốp phải phù hợp với chiều cao của rãnh Với những động cơ có rãnh chữ nhật, phải làm khuôn có chiều dày nhỏ hơn chiều cao của rãnh chừng 2-3mm để có thể lồng cho cả bối dây tụt gọn vào trong rãnh Với những động cơ có rãnh hình thang, phải lồng dây theo kiểu gạt dần từng lớp nên chiều dầy của khuôn quấn không cần thiết phải bằng chiều cao của rãnh
10 10
Hình 6.12
Trang 14Kích thước của khuôn quấn phải chính xác vì nó có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của máy điện sau khi sửa chữa Kích thước ngắn quá thì khó lồng dây vào rãnh và dễ bị hỏng dây ở những chỗ uốn khúc; dài qúa thì lượng tiêu hao đồng tăng lên, điện trở dây quấn tăng lên, mặt khác phần đầu dài ra dễ chạm vào nắp ở hai đầu
Thông thường, các động cơ có rãnh hình thang nên khi lồng dây phải gạt từng ít vòng dây vào một rãnh Bởi vậy, không cần thiết phải quấn xếp lớp cho các bối dây Nhưng để dễ vào dây, các bối dây quấn càng rải đều càng tốt Riêng những động cơ có rãnh chữ nhật, nếu không quấn xếp lớp có thể không cho lọt được toàn bộ cả bối dây vào cùng một lúc
Bước 6: Lồng dây (hạ dây) vào rãnh stato
Trước khi lồng dây vào rãnh, cần nghiên cứu kỹ sơ đồ tròn để xác định khoảng cách lồng dây và chiều lồng, đấu dây Khi lồng dây phải tuân thủ nguyên tắc, cạnh nằm ở lớp dưới lồng vào trước, cạnh nằm ở lớp trên lồng vào sau Các bối dây khi quấn trên khuôn thường bị phình to chiều ngang ra một chút, khi lồng đến bối dây nào nên nắn lại bối dây đó cho phù hợp với khoảng cách giữa hai khe miệng rãnh cần lồng Nếu là động cơ có rãnh hình thang thì nên dùng que tre, nứa vót nhẵn để lùa dây không nên dùng que kim loại vì dễ bong, xước men dây
Khi bắt đầu lồng dây vào rãnh stato ta bắt đầu từ nhóm bối dây mang số thứ tự 1(nhóm 1 thuộc pha A), kế tiếp lồng nhóm bối dây mang số thứ 2 (nhóm
2 thuộc pha B) và sau đó tiếp tục lồng các nhóm bối dây khác theo số thứ tự nhóm
Thao tác chuẩn bị trước khi bắt đầu lồng dây gồm: tở dây và sắp các cạnh song song (hình 6.13 đến 6.16)
Trang 15Hình 6.13: Thao tác gỡ các dây cột giữ các bối dây
Hình 6.14: Thao tác căng hai đầu nối của bối
Hình 6.15 Thao tác xới từng vòng dây của cạnh tác dụng rời ra sắp song song
Hình 6.16: Thao tác gỡ rối sắp song song các vòng dây phía đầu nối
Trang 16Thao tác gỡ rối các vòng dây phía cạnh tác dụng và đầu nối của bối dây trước khi bắt đầu lồng vào rãnh (nên thực hiện gỡ rối bối dây trước khi lồng vào rãnh, chú ý chiều quấn các bối dây khi lồng dây và trước khi lồng vào rãnh, ta đặt các đầu ra dây của các bối đối diện với stato, sau đó xoay 1800 để đưa vào rãnh) (hình 6.17, 6.18)
Hình 6.19: Dùng giấy cách điện lót cạnh dây chờ (cạnh dây chưa lồng vào rãnh) Hình 6.20: Căng cạnh tác dụng để giữ song song các vòng dây khi lồng dây
Hình 6.18: Quay bối dây 180 0 để chuẩn bị
lồng dây vào rãnh stator
Hình 6.17: Cách đặt các bối dây đối diện với
stato trước khi lồng dây vào rãnh
Trang 17Sau khi lồng xong các vòng dây vào rãnh, ta lót giấy giấy cách điện nêm miệng rãnh để giữ cho các vòng dây quấn đã lồng vào rãnh không thoát ra khỏi rãnh (hình 6.23, 6.24)
Sau khi lót giấy nêm miệng rãnh, tiến hành lồng bối dây kế tiếp vào rãnh (hình 6.25, 6.26)
Hình 6.25: Chuẩn bị đưa bối dây kế tiếp vào rãnh stator Thao tác này thực hiện sau khi đã
xới và xếp các vòng dây song song
Hình 6.26: Quay 180 0 đưa bối dây vào trong lòng stator
Hình 6.23 Đưa giấy nêm miệng rãnh từ một
Trang 18Bước 7: Lót cách điện đầu nối, đấu dây và đai dây
Sau khi lồng toàn bộ dây quấn vào rãnh, ta lót cách điện đầu nối giữa từng nhóm bối dây:
- Cắt giấy cách điện pha đúng kích thước Có thể dùng 2 hoặc 4 mẩu giấy cách điện cho mỗi đầu
- Đưa giấy cách điện vào chỗ giao nhau giữa các nhóm bối của các pha (đối với động cơ ba pha) Chỉnh sửa, kiểm tra sự cách điện giữa chúng
Sau đó hàn sáu đầu dây ra của bộ dây ba pha, bọc gen cách điện cho các mối hàn nối dây ra, dây gen bọc phải dài che phủ mối hàn và dây dẫn cho đến hốc ra dây trên vỏ động cơ Dùng nêm tre để giữ chặt dây quấn trong rãnh, nêm tre phải được đóng trên giấy cách điện nêm rãnh
Khi đấu dây thì dựa vào sơ đồ ngang mà đấu Các đầu dây ra nên chọn về phía hộp cực hoặc gần lỗ luồn dây để giúp bối dây được gọn gàng Các mối dây nối phải đảm bảo chắc chắn, tin cậy Trước khi nối, cần cạo sạch các đầu dây, xoắn lại chắc chắn rồi mới hàn thiếc bọc ra bên ngoài Tất cả các mối nối đều được lồng gen cách điện bằng chất chịu nhiệt (amiăng) để chống đánh xuyên ra các bối dây bên cạnh Nếu quấn các tổ bối dây theo kiểu dính đôi, dính ba, dính bốn… thì số lượng các mối nối sẽ còn rất ít nhưng khi lồng dây hơi khó một chút và phải lồng sao cho đúng với chiều nối dây
Cuối cùng tiến hành đai bộ dây quấn và nắn định hình lần cuối để việc đai dây làm cho bộ dây quấn vững chắc Dây đai có vai trò xếp gọn đầu nối, giữ chặt cách điện lớp giữa các nhóm, đai dây phải tạo các gút có tính mỹ thuật và thực hiện cho cả hai phía đầu nối (hình 6.27 đến 6.28)
Hình 6.27 : Dây quấn stator sau khi quấn hoàn chỉnh Hình 6.28: Cách điện giữa các nhóm bối dây, và dây đai đầu nối
Trang 19Cụ thể:- Dùng dây đai buộc mối gút đầu tiên
- Đai chặt từng nhóm bối dây, chỉnh sửa giấy cách điện Dùng búa nhựa chỉnh sửa phần đầu nối tròn đều: trong không cọ rotor, ngoài không chạm vỏ máy
- Tại vị trí các đầu dây ra phải có ít nhất là 2 mối buộc
- Tiếp tục cho đến hết
Bước 8: Lắp ráp, kiểm tra, vận hành thử
Sau khi thực hiện xong bốn bước ta lắp ráp hoàn chỉnh động cơ, tiến hành
đo thông mạch giữa các pha, đo chạm vỏ với các pha dây quấn, đo cách điện giữa các pha Kiểm tra đạt yêu cầu đấu nối vận hành động cơ và đo dòng điện khởi động, dòng điện không tải, xác định dòng điện không tải Đo dòng điện không tải trên cả ba pha để xác định tính đối xứng của cả ba pha dây quấn
Nếu các bước trên đạt yêu cầu, sau đó ta tháo rời stato và rôto sau đó tiến hành quy trình tẩm sấy cách điện cho dây quấn (dây quấn stato sau khi hoàn chỉnh)
Nếu ống dây đã đảm bảo chắc chắn thì tiến hành cho chạy thử không tải Nếu thấy động cơ chạy êm, đủ vận tốc, để từ 15-20 phút mà thấy không nóng hoặc hơi âm ấm là đạt yêu cầu
8.3 Hiện tượng, nguyên nhân, biện pháp khắc phục
8.3.1 Động cơ điện không khởi động được khi không tải
c Cách khắc phục
Tùy theo vị trí hư hỏng tìm được mà ta có cách sửa chữa như thay dây chảy cầu chì, thay tiếp điểm công tắc tơ, khởi động từ, đánh sạch và bắt chặt đầu tiếp xúc Khi hư hỏng phía lưới điện vào Khi đứt bối dây của một pha trong cuộn stato, cần hiểu rõ công nghệ lồng đấu, tẩm sấy cuộn dây để biết rõ cách tháo gỡ đúng pha hỏng, nối hàn lại chỗ đứt và khôi phục lại động cơ
Trang 208.3.2 Động cơ quay khi không tải nhưng khi có tải thì dừng lại
a Hiện tượng
Đóng điện vào động cơ, động cơ không khởi động được khi có tải, hoặc cho động cơ chạy không tải thì được, nhưng vào tải thì tốc dộ quay bị giảm rõ rệt hoặc dừng hẳn
b Nguyên nhân
+Về cơ khí: Bị chẹt hãm ở bộ phận truyền động cơ khí
Phụ tải cơ của động cơ lớn quá mức
Chèn cánh gió làm chẹt phần quay với phần tĩnh
Động cơ bị sát cốt (rôto bị sát vào stato), do hỏng vòng bi
+Về điện: Điện áp lưới cung cấp bị hạ thấp
Đấu nhầm các pha của cuộn dây từ tam giác (∆) sang Y
Đứt một trong ba pha của cuộn dây stato
Chập mạch một số vòng đây trong một bối dây pha stato
c Cách khắc phục
- Sửa chữa các hư hỏng hoặc sai sót về cơ khí thường kết hợp kinh nghiệm lắp ráp sửa chữa với các chỉ tiêu kỹ thuật cho phép được quy định trong công nghệ chế tạo và sửa chữa máy điện
- Sửa chữa về điện: Đấu nhầm (∆) sang Y thì đấu lại, Điện áp thấp ta tăng điện áp lên, chạm chập vòng dây tháo gỡ thay bối hỏng
8.3.3 Động cơ quay được nhưng tốc độ bị giảm không đạt trị số định mức
Trang 21c Cách khắc phục
Tùy vị trí hư hỏng mà có cách khôi phục Trường hợp đứt mạch trong rôto lồng sóc thì ta phải thay rôto khác, nếu không có rôto thay thế có thể làm chảy nhôm(rôto nhôm đúc) và thay bằng lồng sóc đồng( tán đồng)
8.3.4 Động cơ bị quá nóng không cho phép
a Quá nóng cuộn dây và lõi thép stato
- Điện áp lưới cao quá định mức, điện áp lưới cung cấp không đối xứng
- Quá tải Đấu ngược đầu một tổ bối dây, hư hỏng cách điện
- Hệ số thông gió làm mát xấu: Cửa gió bị bịt kín, lắp ngược quạt gió, gẫy cánh gió, nhầm chiều thổi gió, tắc đường thông gió
* Cách khắc phục
Bằng vôn kế, ampe kế, ampe kặp kiểm tra xác định được cường độ dòng điện trong các pha, điện áp cung cấp vào động cơ Từ đó kiểm tra cầu chì, cầu dao, công tắc tơ, khởi động từ để tìm và sửa chữa pha đứt, đặt lại điện áp nếu quá cao hoặc thấp quá định mức điện áp Kiểm tra hệ thống làm mát động cơ bằng kinh nghiệm, kết hợp hiểu rõ cấu tạo và hoạt động của quạt gió
Giảm tải cơ nếu quá tải: Tăng cường bôi trơn truyền động bánh răng, hiệu chỉnh curoa, giảm lực kéo hoặc mômen quay của máy sản xuất
b Quá nóng rôto dây quấn
* Hiện tượng
Quá nóng đồng đều cả cuộn dây rôto, động cơ bị giảm tốc độ quay
Khi khởi động có tải động cơ, không có đà tốc độ và không đạt được tốc
độ quay định mức, rôto nóng nhanh
* Nguyên nhân
- Dòng điện trong các pha rôto dây quấn tăng cao quá trị số định mức, là do: Điện áp lưới cung cấp thấp dưới định mức mà động cơ là việc đầy tải, quá tải, đoản mạch trong cuộn dây rôto Nhả mối hàn Cuộn dây stato và rôto quá nóng tới nhiệt độ không cho phép
Trang 22+ Về điện từ: Lõi thép ép lỏng quá hoặc lá tôn miệng răng bị tòe đầu Khe
hở giữa rôto và stato không đồng đều khi các cuộn dây pha stato có mạch nhánh song song
+Về cơ: Động cơ bị chấn động quá, hư hỏng ở các ổ đỡ, ghép không chặt các lá tôn thành lõi stato và rôto, nêm rãnh bị hỏng, cách điện nhô lên khỏi miệng rãnh
* Cách khắc phục
Kiểm tra gu-giông, đai ốc, đinh tán, kiểm tra cách điện, nêm rãnh, xem động cơ bị chấn động quá mức không, xiết chặt các bu lông chân đế động cơ.kiểm tra cân bằng cường độ dòng điện ba pha và không quá trị số định mức, kiểm tra ổ lăn, kiểm tra bề mặt tiếp xúc của chổi than
8.5 Động cơ bị hư hỏng cách điện
* Cách khắc phục
Kiểm tra ăn mòn bằng mêgôm kế quay tay, dùng khí nén làm sạch bụi bẩn Xác định chạm chập vỏ- pha ; pha- pha kiểm tra bằng mêgôm kế
Trang 23TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]- Nguyễn Đức Sĩ, Công nghệ chế tạo Máy điện và Máy biến áp, NXB Giáo dục 1995 [2]- Vũ Gia Hanh, Trần Khánh Hà, Phan Tử Thụ, Nguyễn Văn Sáu, Máy điện 1, NXB Khoa học và Kỹ thuật 2001
[3]- Vũ Gia Hanh, Trần Khánh Hà, Phan Tử Thụ, Nguyễn Văn Sáu, Máy điện 2, NXB Khoa học và Kỹ thuật 2001
[4]- Châu Ngọc Thạch, Hướng dẫn sử dụng và sửa chữa Máy biến áp, Động cơ điện, Máy phát điện công suất nhỏ, NXB Giáo dục 1994
[5]- Nguyễn Xuân Phú, Nguyễn Công Hiền, Tính toán cung cấp và lựa chọn thiết bị, khí
cụ điện, NXB Giáo dục 1998
[6]- Đặng Văn Đào, Lê Văn Doanh, Kỹ thuật điện, NXB Khoa học và Kỹ thuật 1999 [7] Basic Electronic Practices (2001, Human Resources Development Service of Korea, Bak Jonggap)
[8] Basic Electronic Practices (2009, Human Resources Development Service of Korea, Bak Jonggap)
Trang 24PHỤ LỤC
Hướng dẫn thí nghiệm
MÔ HÌNH MÁY ĐIỆN
Trang 25Chương 1 Tổng số ED-5300
1 Tài sản của ED-5300
ED-5300 huấn luyện máy điện được thiết kế để giúp bạn hiểu các nhân vật cấu trúc, hoạt động và kiểm soát của máy phát điện và động cơ và học hỏi làm thế nào để chúng hoạt động, kết nối dây điện, và đo lường thông qua thí nghiệm thực tế
Đặc biệt, nó rất dễ dàng để hiểu được những ký tự cấu trúc bởi vì các thành phần cần thiết để sản xuất máy xoay điện được phơi bày đầy đủ, và nó phù hợp với hướng dẫn các nguyên tắc cơ bản và tính chất cấu trúc của máy điện vì các thí nghiệm được xử lý bằng những cách mà các học viên cài đặt , lắp ráp, vận hành và kết nối dây của họ-bản thân
2 Cấu hình của ED-5300
1) Danh sách thí nghiệm Mô-đun
• NO-5301Field Điện trở (Dòng biến trở) 1bộ
• NO-5302Starting Điện trở (Bắt đầu từ biến trở) 1bộ
• N0-5303AC / DC Đồng hồ đo tải đơn vị 1 bộ
• N0-53043-pha (Y-A) đơn vi tải 1bộ
• N0-5305Biến R, L, C Tải Đơn vị 1bộ
• N0-5306AC / DC Nguồn cấp 1 bộ
• N0-5307 AC Đồng hồ Vôn / ampe 1 bộ
• NO-5308 DC Đồng hồ Vôn / ampe 1bộ
• N0-5309 DC đồng hồ milli 1 bộ
• NO-5310AC / DC Máy Dòng Khung 2 chiếc
• NO-5311 Đơn vị chuyển động 1 bộ
• NO-5312 Cực Thay đổi điều khiển đơn vị 1 bộ
2) Danh sách moddun mô phỏng
• NO-5313 DC máy Ban 1bộ
• NO-5314 ba pha Máy Ban 1bộ
• NO-5315 Hợp chất Ban 1 bộ
• NO-5316 Hợp chất tô Ban 1bộ
Trang 26• NO-5317 động cơ Tốc độ Cont Ban 1bộ
• NO-5318 Repulsion tô Ban 1 bộ
• NO-5319 Spllt pha ô tô Ban 1bộ
3) Máy Part Danh sách cho hội
• A01 khe đĩa -A Rotor với cuộn dây1bộ
• A02 khe đĩa -B Rotor với ngắn nhẫn 1bộ
• Nam châm A08Permanent 2ea
• A09 Rộng Cực mảnh cho Nam châm 2ea
• A10 Rộng Cực mảnh cho cuộn 5ea
• A11Narrow Cực mảnh forCoils 6ea
• A12 Chia Cực mảnh cho cuộn 2ea
• A13 Field Coil / 300 Hóa 6ea
• A14 Dòng Coil / 700 Hóa 2ea
• A15 Dòng Coil / 1700 Hóa 2ea
• A16 Một loại Cọ Chủ Đặt 1bộ
• A17 B Chủ loại Cọ Đặt 1 bộ
• A18 C loại Cọ Chủ Đặt 1 bộ
A19 đèn sợi đốt 3/6 / 12V 5ea / Kind
• A20 Trục Rotor 2ea
• A21 Trục Cực mảnh 10ea
• A22 Khóa bolt 10ea
• A23 ổ Belt 1EA
• A24 8mm Cờ lê 1EA
• A25 loại Bar Magnet thường trực 1 ea
Trang 273 Lưu ý cho người
1) Thực hiện kết nối các mạch liên quan đến việc cung cấp điện, với biến chính
chuyển đổi của bảng và các mô-đun chuyển đổi "OFF"
2) Đối với sửa chữa các khiếm khuyết cơ khí của động cơ quay, máy phát điện, và động cơ, buộc chặt họ vững
3) Trong việc thực hiện thực tế, bạn nên thực hiện theo các lưu ý trên mỗi quá trình thử nghiệm
4) Trước khi cấu hình các mạch thí nghiệm, biến quyền lực "ON", kiểm tra kết nối của các mạch và trạng thái lắp ráp của máy
5) Nếu thiết bị được móc hãm hoặc Over-Load là vấp vào hoạt động hoặc với sức mạnh "ON", tắt công tắc nguồn, phát hiện và giải quyết các nguyên nhân, và sau đó, lại vận hành nó
6) Khi máy đang hoạt động, không đặt bàn tay của bạn trên các cánh quạt, kiểm tra các dây nối hoặc các dẫn của một thước đo không được cuộn vào cánh quạt, và đặc biệt, tránh tiếp xúc không cần thiết
7) Khi vận hành máy trong một thời gian dài, bạn nên áp dụng một
chất bôi trơn đa dụng dự phòng (WD-40) vào vùng xúc chạm của bàn chải
và các vòng trượt
8) Khi thí nghiệm được hoàn tất, bạn nên "OFF" tất cả các thiết bị chuyển mạch của tất cả các mạch và lưu trữ các thiết bị và linh kiện tại địa điểm được chỉ định
Trang 28Chương 2 Động cơ điện 2.1 Nguyên tắc phát điện
Nếu di chuyển dẫn đến phía trên, hướng của hiện tại trở nên bất lợi
Hình 2-2 Thay đổi dòng từ lực trong việc thay đổi chì
Trang 29Đây là nguyên tắc của một máy phát điện, và cho sự hiểu biết tốt hơn của dòng điện cảm ứng, Fleming đã thông qua mỗi hướng để tay phải như mô tả trên hình
2.1.2 Nguyên tắc máy phát
Như đã mô tả trên hình 2-5, đặt một dây dẫn quay (phụ kiện cuộn dây) giữa các từ trường bình đẳng, N cực và S cực, liên kết hai đầu của dây dẫn với hai trong số trượt vòng cách ly nhau, nếu quay dây dẫn (Coil) trên một trục, và một động lực điện cảm ứng được tạo ra trên dây dẫn phù hợp với quy tắc bàn tay phải của fleming
Trang 30lực điện cảm ứng này được tạo ra khi các dây dẫn quay (phụ kiện Coil) cắt giảm các dòng lực từ (thông lượng) trong từ trường bằng nhau, và các giá trị phụ thuộc vào vị trí luân phiên của các dây dẫn Nếu bạn đo lực điện động trong việc kết nối AC Volt mét cho cả hai thiết bị đầu cuối của một bàn chải như con số 2-
5, hướng được thay đổi bất cứ khi nào các dây dẫn quay một nửa chu vi như dạng sóng của các con số, và giá trị của lực điện, điện tử của AC máy phát điện
là lớn nhất khi dây dẫn tạo 90 ° với thông lượng lực điện này, e được thể hiện như sau
2.1.3 Nguyên tắc DC máy phát
Nguyên tắc của thế hệ của lực điện động cảm ứng trong máy phát điện DC
là giống như một máy phát điện xoay chiều Nhưng, như hình 2-7, kết thúc cả hai quay dây (phụ kiện Coil) được kết nối với Tổng đài, C1, C2, đó là hai dải kim loại hình bán nguyệt cách nhiệt nhau và lực điện động cảm ứng được tạo ra như DC
Hình 2-7 Vẽ các nguyên tắc của máy phát điện DC
Trang 31Hình 2-8 dưới đây cho thấy gây ra lực điện động của máy phát điện DC theo hướng của đường lực từ và các dây dẫn quay (phụ kiện Coil) cho sự hiểu biết của bạn
1/4 REV 1/2 REV 3/4 REV
0* 90’ 180' 270* 360*
2.2 Máy phát điện DC
2.2.1 Cấu trúc của máy DC
Máy DC là tất cả các máy móc vận hành bởi DC hiện tại, nhưng nhìn chung, nó có nghĩa là động cơ DC, DC phát điện, và máy DC (DC rotator với hai chức năng của động cơ và máy phát điện) Máy DC gồm Dòng mà tạo ra DC thông, phụ kiện mà tạo ra lực điện, chuyển mạch rằng giao lưu gây ra lực điện
AC DC, lại), và Yoke hỗ trợ Brush và các lĩnh vực
<Các thành phần của máy DC>
a Hệ thống Từ trường
Từ trường bao gồm các cực từ và ách như (a) trong hình 2-9 Winding cuộn dây trường trên lõi lĩnh vực và gửi dòng điện vào lõi, cực từ bắt đầu có hiệu lực từ trường và thông lượng từ tính cần thiết cho khoảng cách không khí được tạo ra Nói cách khác, đây là một cấu trúc cho việc thiết lập một từ trường cho các hoạt động tại các khoảng trống giữa các rotator và stator Trong trường hợp của một máy phát điện cỡ nhỏ hoặc một động cơ, điều này thường được thay thế bằng một nam châm vĩnh cửu Và, một số loại động cơ hoặc máy phát điện có nhiều hơn 2 cực cho số lĩnh vực hệ thống
Trang 32b Các phụ kiện điện
Các phụ kiện bao gồm lõi nhiều lớp, mà làm cho các mạch từ trường, và cuộn dây phần ứng mà gây ra lực điện Giống như (b) trong hình 2-9, lõi phần ứng có khe cắm cho đặt các cuộn dây phần ứng thành, và các cuộn dây phần ứng được hơi trên họ
cuộn dây phần ứng được thực hiện bởi cán tấm thép silicon mỏng ít hơn 0.5mm để giảm thiểu thiệt hại từ dòng xoáy hay trễ
Nếu động cơ gửi dòng điện vào phần ứng thông qua chuyển mạch, phần ứng bắt đầu xoay, và nếu các máy phát điện xoay phần ứng này bằng vũ lực bên ngoài, trái với các động cơ, lực điện động cảm ứng là sản lượng thông qua một stator
Như vậy, kể từ khi các máy phát điện có được điện áp đầu ra từ các cuộn dây phần ứng, nó không cần nhiều hiện nay như động cơ cho hoạt động Vì vậy, nếu đầu ra và đầu vào điện áp là như nhau, các cuộn dây phần ứng của một máy phát điện là mỏng hơn và xoay nhiều hơn so với một trong những động cơ
Pin lắp vào lõi sắt
(A) hệ thống Field (2 cực) (b) Các phụ kiện và chuyển mạch
Hình 2-9 Các thành phần của máy DC
c chuyển mạch
Giống như (b) trong hình 2-9, các chuyển mạch được nhúng vào một rotator với phần ứng và lực điện động cảm ứng là sản lượng thông qua bàn chải kết nối với bộ chuyển mạch này, nhưng ngược lại, động cơ sẽ gửi các dòng điện vào phần ứng cuộn qua các bàn chải và chuyển mạch
Chuyển mạch bao gồm nhiều phân đoạn hình nêm, cách điện giấy (mica) chèn xen kẽ trong phân đoạn chuyển mạch, và các hình trụ chuyển mạch tay đoạn chuyển mạch
Commutator segment
Trang 332.2.2 Nguyên tắc máy phát
a cảm ứng lực điện động của một dây dẫn
Trong (a) của các con số 2-11, với điều kiện là mức trung bình của mật độ thông lượng của khoảng cách không khí giữa các cực từ là B [Wb / m], chiều dài hiệu quả của dây dẫn phần ứng là / [m], vận tốc dẫn này cắt thông lượng (trường) theo chiều dọc trong là tôi ^ m / s], số vòng quay của phần ứng là n (rpm), và bán kính của phần ứng là r (m), và trung bình của lực điện, điện tử được gây ra đến
đơn vị phần ứng dây dẫn là như sau
Gây ra lực điện động của một máy phát điện
Mặc dù các lực điện (E) gây ra cho một trong những dây dẫn phần ứng là yếu, rất nhiều cuộn dây amature gây ra một điện áp cao giữa bàn chải, B1, B2 Thông thường, nếu số lượng dây dẫn là Z, số lượng các mạch song song là một, số lượng các dây dẫn kết nối nối tiếp giữa bàn chải trở nên
Vì vậy, lực điện động gây ra giữa bàn chải, Et thu được bằng cách nhân lực điện gây ra từ một dây dẫn, E, bởi số lượng của các dây dẫn kết nối nối tiếp
Trang 342.2.3.Phân loại Máy phát điện
máy phát điện DC tạo ra lực điện động cảm ứng trong sự hiện diện của hệ thống trường, và các lĩnh vực hệ thống có thể được thu được bằng nam châm điện chạy hiện nay để nam châm vĩnh cửu hoặc cuộn lĩnh vực Như thế này, các phương pháp để có được những lĩnh vực (dòng lực từ) của máy phát điện bao gồm 3 loại sau đây
a Nam châm Máy phát điện
Nam châm Máy phát điện sử dụng nam châm vĩnh cửu như hệ thống trường như mô tả trên hình 2-12, và nó được sử dụng như một máy phát điện cỡ nhỏ cho các mục đích đặc biệt
Hình 2-12 máy phát điện từ 2-13 riêng máy phát điện kích thích
b Máy phát điện riêng Kích thích
Như đã mô tả trên hình 2-13, nó kích thích các cuộn dây của máy phát điện bằng cách DC từ bất kỳ pin bên ngoài hoặc một máy phát điện nhỏ, không phải
là máy phát điện chính nó, để cung cấp năng lượng cần thiết cho lĩnh vực này
c Tự Máy phát điện Kích thích
Nó kích thích gửi hiện hành vào cuộn dây thông qua các lực điện gây ra từ phần ứng của máy phát điện bên trong Ngoài raTự Kích thích Máy phát điện có thể được phân loại vào ba như dòng điện, Im đi Máy phát điện, Máy phát điện ghép theo cách để kết nối các cuộn dây và phần ứng
2.2.4 Phân loại Máy phát điện tự Kích thích
a Loại máy phát điện
Như đã mô tả trên hình 2-14, tất cả các tải trọng liên kết với phần ứng, lĩnh vực quanh co, thiết bị đầu cuối được kết nối nối tiếp Điều đó có nghĩa là hiện tại trong mạch của họ đều là như nhau, và nếu tải không được kết nối với thiết bị đầu cuối của máy phát điện, các mạch của máy phát điện là mở Kết quả là, hiện
Trang 35tại không thể được gửi đến các cuộn dây và điện áp tạo không thể hữu cơ Nếu một tải nhỏ như một ngọn đèn được thực hiện, các máy phát điện sẽ có ít hơn hiện tại Sau đó, các cuộn dây được gửi ít hơn hiện tại có liên quan đến đèn hiện tại và điện áp thấp được tạo ra Nếu tải nhiều hơn là thực, càng có nhiều hiện nay được tạo ra và cường độ trường lớn và điện áp tạo ra được tăng lên Do đó, Series Máy phát điện có một tính năng của cực âm (-) quy định rằng điện áp đầu
ra của nó tăng lên đến một điểm nhất định khi tăng tải Đó là một điều rất khác nhau từ các máy phát điện shunt DC
Dòng Dòng
Hình 2-14 Tự phát loạt kích thích
b Điện trở Sun Máy phát điện
Cuộn dây của máy phát điện trở shunt được kết nối với thiết bị đầu cuối của phần ứng song song như mô tả trên hình 2-15 Vì vậy, sức mạnh của trường
là không đổi bất kể tải Nhưng, như tăng tải, điện áp phần ứng giảm tương ứng,
vì vậy, các thiết bị đầu cuối điện áp giảm Do đó, một tính năng của máy phát điện shunt là điện áp đầu cuối được giảm khi tăng tải Trong trường hợp tải không, điện áp tạo được tối đa hóa, và như tăng tải, nó sẽ giảm dần
Ngoài ra, trong sự tự kích thích máy phát điện shunt, nếu sự phân cực của cuộn dây ngược lĩnh vực shunt hoặc hướng quay của phần ứng là không bình thường, từ tính còn lại có thể được loại bỏ hoặc không được tạo ra Trong trường hợp như vậy, đồng sẽ được chiếu phân cực thế hệ bình thường
Shunt field
Hình 2-15 Tự kích thích máy phát điện trở shunt
Trang 36c Máy phát điện phức hợp
Trong phức hợp phát điện, cuộn dây lĩnh vực Điện trở Sun và cuộn lĩnh vực Series được quấn trên một mảnh cực như mô tả trên hình 2-16 Đó là như nhau bất kể số lượng cực Piece một máy phát điện hợp chất như vậy được phân loại vào hai yếu như hợp chất tích lũy và hợp chất khác biệt
Hình máy phát điện 2-16 phức hợp
d phức hợp tích lũy: máy phát điện hợp chất này làm cho tỷ giá biến động
của điện áp đầu ra sử dụng tốt hơn những điểm tốt và xấu của Series và Điện trở Sun
máy phát điện bổ xung Nói cách khác, cân bằng theo hướng của từ trường trong cả hai lĩnh vực shunt và lĩnh vực loạt, điện áp đầu ra có thể được duy trì bởi trường trở shunt trong tải không Ngược lại, sự sụt giảm của điện áp đầu ra trong máy phát điện trở shunt được bổ sung bởi lĩnh vực loạt với sản lượng đối lập đặc tính Như thế này, thiết kế số lượng trở shunt và hàng loạt lần lượt đúng cách sẽ mang lại cho sản lượng ổn định Hợp chất này tích lũy có thể được chia nhỏ trong thiết kế như sau
Trên hợp chất: Được thiết kế cho điện áp đầu ra ở chế độ đầy tải cao hơn trong không tải
• Flat-kép: Được thiết kế cho điện áp đầu ra trong không tải và đầy đủ tải đều giống nhau
• Dưới hợp chất: Được thiết kế cho điện áp đầu ra ở chế độ đầy tải thấp rằng không có tải
Trang 37b) khác biệt phức hợp: máy phát điện hợp chất này được thiết kế cho điện
áp đầu ra được giảm rất nhanh theo tải trên trái với các hợp chất tích lũy Đó là,
nó làm cho hướng của từ trường của lĩnh vực trở shunt và các lĩnh vực loạt đặt
ra nhau, và nếu kháng tải được giảm xuống và tải trọng hiện tại được tăng lên, từ trường của lĩnh vực trở shunt trở nên yếu ở mức độ mà do đó của loạt lĩnh vực
và các thế hệ điện áp đầu ra là giảm nhanh hơn
2.2.5 Interpole
Tất cả các máy phát điện như đã đề cập trước đó, các interpole được mô tả trên hình 2-17 thường được sử dụng Điều này được kết nối song song với cuộn dây phần ứng của động cơ hoặc máy phát điện Nhưng, sự phân cực của interpole trong một máy phát điện là điều ngược lại rằng trong một động cơ Nói cách khác, sự phân cực của interpole trong một máy phát điện phải được kết nối với nhau với các cực của cực từ chính ở phía trước của interpole từ hướng quay Chức năng của interpole là để ngăn chặn bất kỳ tăng đột biến trong bàn chải Đối với số lượng interpoles, một nửa số lượng các cực từ chính không gây ra bất
kỳ vấn đề trong điều hành, nhưng thông thường, số lượng interpoles là cùng với
đó các cực từ chính
Interpoles phải phù hợp với
Hình 2-17 phân cực của interpole cho xoay chiều kim đồng hồ trong máy phát điện hợp chất với interpoles và một máy phát điện 2 cực phân cực của các cực từ chính trong
Figure 2-17 Polarity of interpole for the clockwise rotation in compound generator with
interpoles and a 2-pole generator
2.2.6 Tính năng của Máy phát điện
a đường cong Không tải bão hòa của một máy phát điện
Giả sử rằng các thiết bị đầu cuối đầu ra của một máy phát điện không được thực hiện tải không vào và vận tốc quay của phần ứng là không đổi, nếu hiện tại thú vị của cuộn dây từ tính, nếu được tăng lên dần từ "0", mật độ thông lượng
Trang 38được tăng lên tương ứng và gây ra lực điện, E [V] gần như tăng tỷ lệ thuận với lĩnh vực hiện tại, Nếu Nhưng, nếu trường hiện nay, nếu tăng quá nhiều trên một mức độ nhất định, sự gia tăng của lực điện động cảm ứng, E đang chậm lại do bão hòa từ của lõi cực mảnh và nó không thay đổi nữa Như thế này, một đường cong cho thấy mối quan hệ của Dòng hiện tại, Nếu và Induced điện động lực, E [V], trong điều kiện vận tốc không đổi của phụ kiện, là không tải Saturation Curve và như hình 2-18
Figure 2-18 No-load saturation curve
Ngoài ra, nó phải được lưu ý rằng nếu lõi của lĩnh vực cực mảnh của một máy phát điện là từ hóa một cách nhất định bởi trường hiện nay, các lực lượng
từ tính của một mảnh cực sẽ không trở thành "0" và chỉ ra Magnetism dư mặc dù các lĩnh vực hiện tại được thiết lập để "0" một lần nữa Nói cách khác, đó là trạng thái giống như một chút lĩnh vực bit hiện tại sẽ được gửi và một nhà nước như vậy là kết quả từ một tính năng của từ tính còn gọi là trễ Trạng thái này tồn tại cho đến khi thời gian dài đi hoặc nó được bố trí để đảo ngược
b Ngoài đường cong đặc trưng của một máy phát điện
Sett vận tốc quay của phần ứng của DC Generator để một vận tốc không đổi, n [rpm], áp dụng một điện áp đánh giá, Vn [V] để tải kết nối với các thiết bị đầu cuối đầu ra, và điều chỉnh các lĩnh vực điện trở Rf [£] để rated tải ln hiện tại [A] có thể chảy Và sau đó, duy trì số vòng quay của phần ứng và kháng lĩnh vực liên tục và thay đổi điện trở tải RJ &], cho thấy mối quan hệ của các tải trọng hiện tại tôi [A] và các thiết bị đầu cuối điện áp E [V] với một đường cong một đường cong như vậy được gọi là 'đường cong đặc trưng bên ngoài (Tải đường cong đặc trưng)
Hình 2-19 cho thấy sơ đồ kết nối và các đường cong đặc trưng bên ngoài
để thử nghiệm các đặc trưng characteristicfload bên ngoài) của một máy phát điện
Trang 392-7 Điện áp xây dựng trên Quy trình của một Máy phát điện
Nếu một máy phát điện trở shunt là để được kích thích ban đầu, lõi trường phải bao gồm từ tính còn lại Sức mạnh của từ tính còn sót lại này là rất yếu Nhưng, như các điện động E1 [V] được tổ chức trong các cuộn dây phần ứng nếu vòng quay của phần ứng cắt giảm thông lượng resideual, kích thích của cuộn dây trường được củng cố và hiện tại, If1 chảy Khi thông lượng được hình thành bởi lĩnh vực này hiện tại, If1 mất cùng một hướng với thông lượng dư, một thông lượng kết hợp như thông lượng mới được thành lập và thông lượng còn lại tổ chức nhiều hơn tăng điện động E2 [V] trong phần ứng hoạt động này được tiếp tục cho đến khi cực lĩnh vực đạt đến một điểm bão hòa từ
Quá trình này của increaseing điện áp máy phát điện là 'Xây dựng trên quá trình của điện áp và được thể hiện ở hình 2-20 Khi quá trình xây dựng-up như vậy điện áp xảy ra trong một thời gian ngắn, điện áp ổn định có thể được thành lập trong các cuộn dây phần ứng
2.3 Đồng bộ Máy phát điện
2.3.1 Cơ cấu đồng bộ Máy phát điện
Máy phát điện đồng bộ bao gồm một Stator, trong đó có 3 pha cuộn dây quấn bằng cuộn dây phụ kiện trên một khe cắm nhiều lớp hình trụ giống như (a) của các con số 2-21, một Ring trượt như (b) của các con số 2-21, và một rotor
Trang 40vết thương của Dòng Coil mà tạo ra từ trường nếu DC hiện tại được gửi thông qua các vòng trượt Ngoài ra, trong rotor này, miếng lõi màng mỏng được lắp ráp tại được ép và về điều này, các cuộn dây Dòng là vết thương như hình sau
Và, cả hai thiết bị đầu cuối của cuộn dây được kết nối với một Ring trượt để xuất cảnh hiện tại có thể được gửi thông qua Brush
a Thế hệ của AC
Giống như (a) của các con số 2-22, sắp xếp ba cuộn dây phần ứng trong khe lõi rotor ở một góc 120 ° nhau, tạo thành N S cực (nam châm điện) bằng cách kích thích các cuộn dây trên đồng ruộng tại DC qua trượt Ring, và xoay họ,
và dòng lực từ trong từ trường xoay ngắt kết nối các cuộn dây của một cánh quạt, và sau đó
1- Giai đoạn AC lực điện đang gây ra theo quy tắc bàn tay phải của Fleming Như các lĩnh vực N.S cực xoay, nó được gọi là 'quay vòng-trường loại đồng bộ máy phát điện Các khu vực mà phần ứng với cuộn dây 3 pha là cố định tại được gọi là stato Như trường xoay, điều này được gọi là Rotor
Hình 2-22 Các nguyên tắc của máy phát điện đồng bộ
b Ảnh hưởng của số lượng cực và vận tốc
Khi cực của lĩnh vực xoay xoay một lần, sự thay đổi của điện áp trở thành
1 chu kỳ trong 2 cực nhưng 2 chu kỳ trong 4 cực