Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Abstract: Tổng quát lý luận và thực tiễn về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạ
Trang 1Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Abstract: Tổng quát lý luận và thực tiễn về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực
cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2003 - 2010
Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới
Keywords: Bảo hiểm; Hội nhập kinh tế; Quan hệ kinh tế quốc tế; Việt Nam
Content
1 Tính cấp thiết cu ̉ a đề tài nghiên cƣ́u
Với quan điểm mở rộng hợp tác, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới đã giúp Việt Nam ngày càng hội nhập sâu và rộng hơn với nền kinh
tế thế giới Một số dấu mốc có thể kể đến khi nói đến sự hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam như: Việt Nam đã ký hiệp định hợp tác thương mại với Liên minh Châu Âu (năm 1992) Gia nhập ASEAN năm 1995, AFTA năm 1998, APEC năm 2008, ký hiệp định thương mại tự do với Mỹ năm 2000 và đặc biệt quan trọng là việc tham gia đàm phán gia nhập WTO năm 1995 và trở thành thành viên chính thức của tổ chức này vào năm 2007
Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh tế thông qua việc tăng cường khả năng thu hút các nguồn lực về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đồng thời mở ra con đường cho các doanh nghiệp trong nước vươn tới thị trường quốc tế Tuy nhiên, hội nhập cũng đặt ra những thách thức lới đối với các doanh nghiệp trong nước Sự thâm nhập của các doanh nghiệp nước ngoài sẽ làm môi trường cạnh tranh tại thị trường trong nước gay gắt hơn Điều này
Trang 2tác động rất lớn tới các doanh nghiệp trong nước như bị thu hẹp thị phần, thua lỗ và thậm chí phá sản Do đó, có thể gây ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế
Hội nhập kinh tế trong lĩnh vực bảo hiểm cũng nằm chung trong xu hướng đó Việc mở cửa cho các DNBH 100% vốn nước ngoài gia nhập thị trường có thể tạo áp lực cạnh tranh khốc liệt hơn nữa cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước cũng như có thể gây bất ổn định thị trường bảo hiểm do mất vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước, hệ thống quy định quản lý chưa theo kịp được với mức độ mở cửa thị trường Hơn nữa, bảo hiểm là một lĩnh vực hoạt động rất nhạy cảm, có tính xã hội cao, đòi hỏi các DNBH trong nước phải đủ mạnh để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp bảo hiểm trên thế giới Tuy nhiên, thực tế cho thấy, năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm Việt Nam còn thấp Tìm hiểu năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam chịu ảnh hưởng của những yếu tố nào và làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới có ý nghĩa rất quan trọng, do vậy, tôi lựa
chọn đề tài “Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp
của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài báo nghiên cứu nêu ra thực trạng và các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm Việt Nam Tuy nhiên, các công trình trên chưa đi sâu nghiên cứu và đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam Do đó, các công trình trên đều chưa
đề xuất được các giải pháp một cách toàn diện để cải thiện các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
*) Mục đích:
Luận văn nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam để đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm trong thời gian tới
*) Nhiê ̣m vụ nghiên cứu:
Tổng quát lý luận và thực tiễn về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
Trang 3ngành bảo hiểm Việt Nam;
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2003 - 2010
Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cư ́ u
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn từ khi bắt đầu thực hiện chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm năm 2003 cho đến hết năm 2010 Tập trung nghiên
cứu vào nhóm bảo hiểm Nhân thọ và phi nhân thọ trên thị trường bảo hiểm Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh giữa các giai đoạn phát triển của ngành bảo hiểm để phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam Thêm vào đó, luận văn sử dụng phương pháp thống kê thông qua bảng hỏi
Luận văn sử dụng một số tiêu chí trong hệ thống CARAMELS (Vốn, Tài sản, Tái bảo hiểm, Dự phòng nghiệp vụ, Quản lý, Lợi nhuận và Tính thanh khoản) để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm Đây là các hệ thống tiêu chí đang được các cơ quan quản lý bảo hiểm của Hoa Kỳ, Canada, Anh,… sử dụng đánh giá năng lực cạnh tranh ngành và doanh nghiệp của họ
6 Đóng góp của luận văn
- Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng tích cực và tiêu cực tới năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm trong giai đoạn 2003-2010
- Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận , nô ̣i dung chính của luâ ̣n văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 4Chương 2: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực ngành bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH BẢO HIỂM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Khái quát chung về ngành bảo hiểm
1.1.1 Khái niệm Bảo hiểm
Theo Uỷ ban thuật ngữ bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa Kỳ thì Bảo
hiểm là sự tập trung các tổn thất bất ngờ bằng việc chuyển giao những rủi ro gây ra chúng cho những người bảo hiểm khi họ cam kết bồi thường những tổn thất này, cung cấp các quyền lợi bằng tiền khác khi tổn thất xảy ra hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến rủi ro.
Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì Bảo hiểm là sự thoả thuận qua đó một
bên (người bảo hiểm) hứa thanh toán cho bên kia (người được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm) một khoản tiền nếu sự cố xảy ra gây tổn thất tài chính cho người được bảo hiểm Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, người bảo hiểm đòi người được bảo hiểm một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm
Dưới góc độ tài chính, người ta cho rằng: Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài
chính nhằm phân phối lại những chi phí mất không mong đợi.
Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp, các tập đoàn thương mại
trên thế giới lại đưa ra khái niệm: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này một người,
một doanh nghiệp hay một tổ chức, chuyển nhượng rủi ro cho DNBH, doanh nghiệp đó
sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm.
Có thể nói, các khái niệm trên đã lột tả được bản chất của bảo hiểm trên các khía cạnh
về rủi ro Sự chuyển giao rủi ro giữa DNBH và người được bảo hiểm thông qua phí bảo hiểm
và số tiền bồi thường hoặc chi trả khi người được bảo hiểm gặp rủi ro tổn thất Và một cách đơn giản, bảo hiểm chính là một cách xử lý rủi ro, nhờ đó việc chuyển giao, phân tán rủi ro
Trang 5trong từng nhóm người được thực hiện qua hoạt động kinh doanh bảo hiểm (KDBH) của các
tổ chức bảo hiểm
1.1.2 Vai trò của ngành Bảo hiểm trong nền kinh tế quốc dân
Vai trò kinh tế - xã hội của bảo hiểm được ghi nhận ở tất cả các quốc gia trên thế giới bởi những đóng góp dưới đây:
Bảo hiểm đóng góp vào tăng trưởng kinh tế: Hoạt động kinh doanh bảo hiểm càng phát triền thì doanh thu phí từ bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT), bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và hoạt động đầu tư sẽ đóng góp vào GDP của cả nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Bảo hiểm huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Các DNBH vẫn sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đó để đầu tư vào nhiều lĩnh vực và chủ yếu là đầu tư gián tiếp trên thị trường tài chính, nhất là thị trường chứng khoán Hoạt động đầu tư tích cực của các DNBH còn có tác dụng tăng quy mô và độ linh hoạt của thị trường tài chính, kích thích các luồng vốn vận động theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tăng tính khả thi của những dự án lớn, nâng cao hiệu quả của việc phân bố các nguồn lực tài chính có hạn trong nền kinh tế
Đóng góp cho sự ổn định kinh tế - xã hội: Rủi ro mang đến những thiệt hại tài chính bất thường cho các cá nhân, tổ chức Vượt lên ý nghĩa “tiền bạc”, bảo hiểm mang đến trạng thái an toàn về tinh thần, giảm bớt sự lo âu trước rủi ro, bất trắc cho người được bảo hiểm Vai trò này được thể hiện ở các khía cạnh khác như là: giảm sức ép đối với hệ thống phúc lợi xã hội, hỗ trợ các hoạt động kinh doanh, thúc đẩy các hoạt động thương mại phát triển
Tạo việc làm cho xã hội: Ngành bảo hiểm đã thu hút một lực lượng lớn lao động làm việc tại các DNBH, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, mạng lưới đại lý bảo hiểm và các nghề nghiệp liên quan như đánh giá rủi ro, giám định tổn thất, định giá tài sản, giám định sức khỏe…trong điều kiện thất nghiệp đang ám ảnh nền kinh tế toàn cầu thì sự phát triển ngành bảo hiểm vẫn được coi là còn nhiều tiềm năng ở các quốc gia, góp phần giải quyết tình trạng thiếu việc làm cũng như các vấn đề xã hội có liên quan
1.2 Năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm
1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh
Theo Hội đồng về năng lực cạnh tranh của Hoa Kỳ: Năng lực cạnh tranh là năng
lực kinh tế về hàng hoá và dịch vụ của nền sản xuất, của một nước có thể vượt qua thử
Trang 6thách trên thị trường thế giới trong khi sức sống của dân chúng nước ấy có thể được nâng cao một cách vững chắc, lâu dài Khái niệm này tuy lột tả được được tính cạnh
tranh nhưng lại bị bó hẹp về năng lực cạnh tranh cấp quốc gia, chưa nhấn mạnh đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của ngành
Theo Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại, năng lực cạnh tranh là Năng lực
của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm chí một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nước khác đánh bại về năng lực kinh tế Khái niệm này đã bao
quát được năng lực cạnh tranh của các cấp độ nhưng diễn tả cụm từ “cạnh tranh” chưa rõ ràng
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (The OECD High Level Forum on Industrial Competitiveness) đã lựa chọn một
khaí niệm cố gắng kết hợp cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Năng lực
cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”
Như vậy, mỗi một khái niệm đều có mặt ưu điểm và nhược điểm riêng, nhưng khái niệm của OECD là hoàn thiện nhất khi nêu được chủ thể cạnh tranh và cụm từ cạnh tranh Như vậy, năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm là khả năng ngành bảo hiểm của một quốc gia có khả năng giành được thị phần trước các đối thủ cạnh tranh để tạo ra thu nhập và việc làm cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế
1.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm
Trong lĩnh vực bảo hiểm, trên thế giới hiện nay chưa có một phương pháp luận chung để đánh giá năng lực cạnh tranh của DNBH hay của ngành bảo hiểm Do vậy, để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm, luận văn lựa chọn một số tiêu chí theo
hệ thống CARAMELS như sau:
Trang 7trường kinh doanh tiềm ẩn nhiều biến động khôn lường Tổng tài sản còn ảnh hưởng đến mức đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Do vậy, tổng tài sản nhỏ
sẽ là một bất lợi lớn trong lĩnh vực bảo hiểm
1.2.2.2 Năng lực công nghệ
Trong lĩnh vực bảo hiểm, công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng như một nguồn lực giúp hoạt động của các doanh nghiệp và toàn ngành trở nên hiệu quả hơn Công nghệ không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như hệ thống cấp đơn bảo hiểm, bán hàng qua Internet… Công nghệ trong lĩnh vực bảo hiểm còn bao gồm
hệ thống quản lý thông tin khách hàng, cảnh báo rủi ro từ các sự việc có dấu hiệu trục lợi bảo hiểm trong nội bộ các DNBH Như vậy, công nghệ thông tin kết nối trực tiếp đến hầu hết các nhân tố tác động tới hoạt động của DNBH, bao gồm bảo hiểm tự động, quản lý dữ liệu, phản ứng và giải quyết thảm họa; kiểm soát doanh nghiệp tự động; tích hợp và thay thế các hệ thống cũ; an ninh, bảo mật Và trong môi trường cạnh tranh ngày nay, việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng là một trong những đòi hỏi cấp bách nhằm hoàn thiện các sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm, mà trong đó, ứng dụng công nghệ thông tin là yếu
tố quan trọng
1.2.2.3 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực không thể thiếu của bất kỳ doanh nghiệp Đặc biệt, đối với ngành bảo hiểm, nhân sự luôn là then chốt bởi chính con người tạo nên sự kết nối giữa khách hàng với các sản phẩm bảo hiểm Bên cạnh đó, nhân sự của một DNBH kết nối các nguồn lực của DNBH và đây gốc của mọi cải tiến hay đổi mới Tiêu chí này được thể hiện ở những yếu tố như: trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn đấu, mức độ cam kết gắn bó với doanh nghiệp
1.2.2.4 Hệ thống kênh phân phối và mức độ đa dạng hóa của dịch vụ cung cấp
Hệ thống kênh phân phối là một yếu tố quan trọng trong hoạt động của các DNBH Hệ thống phân phối của DNBH thể hiện ở số lượng các chi nhánh và các đại lý Việc triển khai các công nghệ hiện đại đang làm rút ngắn khoảng cách về không gian và làm giảm tác động của một mạng lưới chi nhánh rộng khắp đối với năng lực cạnh tranh của một DNBH Tuy nhiên, vai trò của mạng lưới đại lý rộng khắp vẫn rất có ý nghĩa, đặc biệt là trong điều kiện hình thức phân phối truyền thống vẫn còn phát triển Hiệu quả của mạng lưới đại lý cũng là một chỉ tiêu quan trọng
Trang 8Một doanh nghiệp có nhiều loại hình dịch vụ cung cấp phù hợp với nhu cầu của thị trường và năng lực quản lý của doanh nghiệp sẽ là có lợi thế cạnh tranh Sự đa dạng hóa dịch vụ một mặt tạo cho doanh nghiệp phát triển ổn định hơn, mặt khác cho phép doanh nghiệp phát huy được lợi thế quy mô
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm
Luận văn lựa chọn mô hình Kim cương của Michael Porter để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bởi từ mô hình này có thể phân tích được sâu những yếu tố chính tác động đến năng lực cạnh tranh quốc gia của ngành/lĩnh vực và hoàn toàn phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận văn Để rút gọn, từ phần này cụm từ
“năng lực cạnh tranh ngành” được hiểu là năng lực cạnh tranh quốc gia đối với một ngành
Theo mô hình này, đối với mỗi ngành, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh là:
Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh của doanh nghiệp: Các điều kiện của doanh nghiệp ảnh hưởng tới việc các doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và quản lý như thế nào cũng như mức độ cạnh tranh giữa các nhà cung cấp
Điều kiện cầu: Nhu cầu đối với sản phẩm hoặc dịch vụ của ngành
Các ngành liên quan hoặc phụ trợ: hỗ trợ sự phát triển của ngành
Các nhân tố điều kiện: Các nhân tố sản xuất như lao động lành nghề, cơ sở hạ tầng là hết sức cần thiết để tạo sự cạnh tranh của một ngành
Chính phủ và cơ hội: Đây là nhân tố xúc tác, tác động đến bốn yếu tố nói trên Theo đó, đi sâu vào đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm sẽ được thực hiện như sau:
1.3.1 Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, khi kinh tế phát triển, cạnh tranh sẽ diễn
ra trên quy mô rộng hơn với mức độ gay gắt hơn trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong ngành dịch vụ như bảo hiểm Doanh nghiệp sẽ có những định hướng phát triển riêng, cách thức mà doanh nghiệp sẽ tiến hành trong hoạt động kinh doanh như thế nào trong điều kiện như vậy sẽ tác động rất lớn tới sự cạnh tranh nội bộ ngành và năng lực cạnh tranh ngành Cách thức các doanh nghiệp cạnh tranh làm ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của một ngành Nếu có sự cạnh tranh lành mạnh và hợp tác hiệu quả giữa các
Trang 9doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) trong nước là nền tảng để tạo ra sức mạnh của cả ngành
Do vậy, các tiêu chí để xem xét việc ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của cả ngành là: Chiến lược dài hạn của doanh nghiệp và đặc điểm cạnh tranh của ngành
1.3.2 Điều kiện cầu về bảo hiểm
Khách hàng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, quyền lực của khách hàng thậm chí có thể tác động tới sự tồn vong của cả một ngành Chính vì vậy, duy trì và giữ chân khách hàng luôn là bài toán thường trực đối với mỗi doanh nghiệp trong quá trình điều hành kinh doanh Cùng với sự phát triển của bảo hiểm, hàng hóa dịch vụ ngày càng đa dạng, khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn, cuộc chiến cạnh tranh giành khách hàng cũng ngày càng gay gắt hơn Do vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm cần phải chú trọng nhiều đến yếu tố này Từ góc
độ người tiêu dùng và các doanh nghiệp trong đó hiểu biết về bảo hiểm là quan trọng nhất đối với tiềm năng phát triển của ngành bảo hiểm Theo đó, tiêu chí để xem xét xem điều kiện cầu đã ảnh hưởng như thế nào đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm thì cần tìm hiểu các vấn đề: nhận thức của khách hàng về mức độ quan trọng của dịch vụ bảo hiểm và khách hàng hiểu về các DNBH hiện đang hoạt động trên thị trường đến đâu? Họ
đã có nhiều kinh nghiệm sử dụng dịch vụ chưa? Và thực trạng khai thác và tiềm năng khai thác bảo hiểm trong tương lai như thế nào?
1.3.3 Các nhân tố điều kiện
Bảo hiểm là một ngành dịch vụ phức tạp do vậy nó đòi hỏi những điều kiện rất cao
về nguồn nhân lực, hoạt động đào tạo bảo hiểm và nguồn lực công nghệ thông tin Và đây cũng là những nhân tố quan trọng trong môi trường quốc gia có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh của các DNBH với các chỉ tiêu:
Yếu tố về nguồn lực trong lĩnh vực bảo hiểm thể hiện qua các chỉ tiêu: số lượng các nhân viên và các nhà quản lý bảo hiểm giàu kinh nghiệm, có trình độ cao;
Yếu tố nguồn trí lực trong bảo hiểm thể hiện ở quy mô đào tạo hàng năm, trình độ,
kỹ năng của đội ngũ sinh viên đuợc đào tạo trong lĩnh vực bảo hiểm khi ra trường; số lượng các trường đại học, các viện đào tạo và nghiên cứu về hoạt động bảo hiểm
Yếu tố về thống kê và công nghệ thông tin của cả ngành Cụ thể là công tác thống
kê được áp dụng như thế nào trong nội bộ? Dữ liệu báo cáo của các doanh nghiệp có được tập hợp và lưu trữ hệ thông hay không? Thông tin các DNBH có thông báo kịp thời
Trang 10hay không? Đối với công nghệ thông tin được phản ánh thông qua mức độ tin học hoá trong các doanh nghiệp cũng như các cơ quan quản lý Đây là những điều kiện mang tính
cơ sở cho việc triển khai các dịch vụ bảo hiểm trong thời gian tới
1.3.4 Các ngành liên quan và bổ trợ
Trong một nền kinh tế có thể nói không có một ngành nào lại độc lập hoàn toàn với ngành khác Bảo hiểm là ngành liên quan đến nhiều ngành trong nền kinh tế quốc dân Những ngành có mối quan hệ hỗ trợ và liên quan mật thiết có thể kể đến là hệ thống các tổ chức tín dụng và chứng khoán bởi trình độ phát triển của các ngành này có tác động trực tiếp đến sự phát triển của bảo hiểm Thị trường chứng khoán, hệ thống các tổ chức tín dụng phát triển vừa tạo áp lực buộc bảo hiểm phát triển, mặt khác lại tạo ra cơ hội hợp tác nghiên cứu, triển khai những ứng dụng công nghệ mới trong lĩnh vực tài chính tiền tệ nói chung, nhờ đó các bên cùng có lợi và cùng nhau phát triển Đặc biệt, đối với ngành bảo hiểm, thị trường chứng khoán vừa đóng vai trò là kênh huy động vốn vừa đóng vai trò cung cấp các cơ hội đầu tư
1.3.5 Nhận thức, tư duy của các cơ quan quản lý nhà nước
Vai trò chính phủ trong mô hình kim cương của Porter hoạt động như một chất xúc tác
và thách thức, nó khuyến khích hoặc thậm chí đẩy các doanh nghiệp nâng cao mục tiêu của họ
và chuyển sang cấp độ cao hơn về hiệu suất cạnh tranh
Đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm, vai trò của chính phủ thông qua nhận thức, tư duy của các cơ quan quản lý nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của bảo hiểm Yếu tố này thể hiện trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế và tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp không phải là vấn đề của riêng ngành bảo hiểm, mà là vấn đề của toàn nền kinh tế
1.3.6 Cơ hội
Cơ hội là những sự kiện vượt ra khỏi tầm kiểm soát của một quốc gia mà có tác động đến sự phát triển một ngành của quốc gia đó Cơ hội này có thể là sự phát triển và suy thoái của nền kinh tế thế giới; những dấu hiệu thay đổi của tỷ giá hối đoái; tình trạng thiên tai lũ lụt toàn cầu; sự phát triển ngành này ở các khu vực trên thế giới hoặc có thể là các quyết định của chính phủ các quốc gia khác Đây là một yếu tố rất quan trọng bởi mỗi cơ hội sẽ có những tác động tới bốn yếu tố chính trong mô hình Kim cương từ đó gián tiếp
Trang 11ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và sự phát triển của ngành, đặc biệt, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sự tác động của các cơ hội càng trở nên mạnh mẽ hơn
1.4 Các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm
Các mốc quan trọng trong việc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế của ngành bảo hiểm Việt Nam là:
Tháng 12 năm 1995, Việt Nam đã cùng các nước thành viên ASEAN ký hiệp định khung về dịch vụ (AFAS)
Ngày 13/7/2000, hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ đã được
ký kết và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 10/12/2001 Việt Nam đã ký thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực quản lý nhà nước bảo hiểm với Hiệp hội quốc gia các nhà quản lý bảo hiểm Hoa Kỳ (NAIC) vào tháng 11/2003, với phương thức hợp tác chủ yếu là chương trình đào tạo cho cán bộ và trao đổi thông tin
Tháng 1/2007, Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO Trong đó, bảo hiểm là dịch vụ mà các thành viên WTO quan tâm và yêu cầu cao về mức độ mở cửa thị trường cho các công ty bảo hiểm nuớc ngoài
Tháng 10/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội các nhà quản lý bảo hiểm quốc tế
Việc hội nhập ngày càng sâu và rộng vào nền kinh tế, cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm trong nước thời gian tới sẽ sôi động hơn và sẽ có tác dụng thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển
Trong đó, Việt Nam có tham gia các Cam kết theo hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS), Cam kết theo hiệp định khung hiệp định thương mại song Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) và những cam kết của Việt Nam đối với WTO trong lĩnh vực bảo hiểm
1.5 Kinh nghiệm ở một số nước
Mục này trình bày kinh nghiệm của Trung Quốc, Ấn Độ trong việc cải thiện các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm để phát triển thị trường Việc lựa chọn những nước này để phân tích là do Ấn Độ là nước đang phát triển, có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam và đã đạt được những thành công nhất định trong phát triển ngành bảo hiểm Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng, có thể chế kinh tế
và chính trị gần giống nhau, cùng đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang kinh
tế thị trường Nhiều vấn đề nảy sinh trong việc phát triển ngành bảo hiểm là những vấn
Trang 12đề đặt ra đối với Việt Nam hiện nay như: việc cải thiện các yếu tố ảnh hưởng để nâng cao năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy, Việt Nam có thể học tập ở kinh nghiệm của Trung Quốc và Ấn Độ trong việc xây dựng
và phát triển năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm như:
Một là, quá trình hôi nhập thị trường dịch vụ tài chính trong đó bảo hiểm phải phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước Mỗi nước, dựa trên cơ sở các thong lệ quốc tế mỗi nước dựa tren cở sở thong lệ chung mà tìm ra lộ trình và cách thức hội nhập có hiệu quả đối với lĩnh vực bảo hiểm với nguyên tắc vừa đáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi của hội nhập, đồng thời bảo vệ hợp pháp các lợi ích của nền kinh tế, nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của cả ngành đối với các nước đang phát triển, quá trình mở cửa và
hộ nhập của bảo hiểm thường được diễn ra từng bước với một lộ trình phù hợp
Hai là, các chính sách và công cụ tài chính mà mỗi quốc gia sử dụng trong quá trình mở cửa và hộ nhập thị trường bảo hiểm quốc tế cũng rất phong phú và đa dạng, tuỳ thuộc vào chính sách mở cửa kinh tế của từng nước tuy nhiên, những chính sách và công
cụ phổ biến thường đuợc các quốc gia sử dụng là: những rang buộc pháp lý về vốn điều lệ; năng lực thanh toán; tỷ lệ trích lập dự phòng bắt buộc; các quy định về đầu tư… những chính sách và công cụ này ngoài mục đích bảo hộ hợp pháp còn tạo điều kiện thuận lợi để các DNBH trong nước thích nghi dần với môi trường cạnh tranh trong quá trình hội nhập
CHƯƠNG 2
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC
CẠNH TRANH NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1 Tổng quan ngành bảo hiểm Việt Nam trong quá trình hội nhập
Doanh thu phí bảo hiểm tăng trưởng cao và ổn định Từ năm 2003-2010, doanh thu phí bảo hiểm đã tăng 195% (tương đương với số tuyệt đối là 20.218 tỷ đồng) Đến năm 2010, số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tăng lên 11 doanh nghiệp BHPNT và 10 doanh nghiệp BHNT làm cho tỷ lệ số DNBH nước ngoài trong ngành bảo hiểm chiếm 53,7% (tăng gần 10% so với năm 2003) Thị trường bảo hiểm Việt Nam, tuy
có sự phát triển vượt bậc trong những năm qua, nhưng đã thể hiện rõ sự phát triển bất cân xứng và mức độ tập trung thị trường cao
Trang 13Vai trò của ngành bảo hiểm Việt Nam trong nền kinh tế:
Ngành bảo hiểm ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thể hiện ở tỷ
lệ đóng góp của bảo hiểm vào sự tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ này đã tăng từ 1,86% năm
2003 đến 1,94% năm 2010;
Bảo hiểm là một kênh huy động vốn đầu tư mạnh trong nền kinh tế Năm 2003, con số này là 14.602 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng rất nhanh, số lượng vốn đầu tư cho nền kinh tế năm 2010 đạt 80.244 tỷ đồng Sự tăng trưởng này có sự đóng góp quan trọng của các công ty bảo hiểm nước ngoài
Với chức năng ổn định kinh tế - xã hội, ngành bảo hiểm đã có những bước tiến ấn tượng Mức tăng trưởng này đặc biệt nhanh kể từ năm 1999 nhờ vào hiệu quả của những chính sách mở cửa Trị giá bồi thường và bổ sung dự phòng nghiệp vụ tăng rất nhanh trong giai đoạn Trong giai đoạn này, trong khi mức phí bảo hiểm thay đổi không đáng
kể, trị giá bồi thường tăng 1.676 tỷ đồng với mức tăng bình quân hàng năm đạt 62,48% cho thấy các chủ thể trong xã hội được bảo vệ tốt hơn trước rủi ro
Mức bổ sung dự phòng nghiệp vụ cũng tăng đặc biệt nhanh trong thời gian trên nhờ vào sự tham gia ngành của các công ty bảo hiểm mới, đặc biệt là các công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài
Tạo công ăn việc làm: lượng lao động ngành bảo hiểm đã tăng nhanh chóng Tính đến cuối 2010, số lượng lao động ngành bảo hiểm đã tăng 81.8% so với năm 2003
2.2 Năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm Việt Nam
Về năng lực tài chính:
Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản toàn ngành đạt 25% Trong đó, lĩnh vực phi nhân thọ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn nhân thọ và tái bảo hiểm Tốc độ tăng trưởng tài sản cao của ngành bảo hiểm sẽ là một trong những yếu tố làm gia tăng vốn chủ sở hữu của các DNBH tạo cho doanh nghiệp có cơ hội phát triển hơn nữa năng lực kinh doanh của mình, qua đó dần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm Việt Nam Tuy nhiên, tổng tài sản của ngành bảo hiểm Việt Nam còn rất nhỏ bé so với các ngành bảo hiểm của các quốc gia Đông Nam Á khác Điều này, gây bất lợi rất lớn cho các DNBH Việt Nam khi muốn cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Về công nghệ thông tin:
Trang 14Hiện nay, đa số các công ty nước ngoài đều có hệ thống công nghệ thông tin tiên tiến Họ không chỉ có khả năng tài chính để đầu tư hàng triệu đô la vào một phần mềm, mà
họ còn được thừa hưởng sự hỗ trợ kỹ thuật từ công ty mẹ trong việc chọn lựa các phần mềm chuẩn và hoạt động có hiệu quả Một số DNBH trong nước đã triển khai ứng dụng thành công hệ thống thử nghiệm cơ sở dữ liệu quản lý hợp đồng bảo hiểm, hệ thống phần mềm kế toán Phần lớn các doanh nghiệp đã công bố và đưa vào sử dụng Website, kịp thời quảng bá các loại hình dịch vụ, xây dựng hệ thống bảo hiểm điện tử Internet kết nối qua mạng phục vụ rộng rãi mọi đối tượng khách hàng Tuy nhiên, hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý điều hành của các DNBH trong nước (đặc biệt là các DNBH phi nhân thọ) còn lạc hậu, thủ công, gây tốn kém về thời gian và chi phí, đồng thời khó kiểm soát các hành vi trục lợi bảo hiểm; công tác thống kê định phí bảo hiểm còn yếu kém và chưa sát thực tế Do vậy, mặc dù rất khó khăn, các công ty trong nước cũng phải tìm cách
để có trang bị cho mình một hệ thống công nghệ thông tin phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình
Về trình độ nhân lực:
Trình độ đội ngũ cán bộ quản trị điều hành đã đáp ứng tiêu chuẩn của pháp luật, góp phần từng bước chuẩn hoá chất lượng đội ngũ cán bộ KDBH Tuy nhiên, tình trạng thiếu chuyên môn quản lý bảo hiểm tại các các công ty bảo hiểm trong nước vẫn đang tồn tại
Sự hạn chế về trình độ, tri thức, tác phong của đội ngũ nhân lực hiện tại và những bất cập trong chính sách nhân lực đang làm giảm sút khả năng thu hút và giữ chân các nhân tài của ngành bảo hiểm
Hệ thống kênh phân phối và mức độ đa dạng hóa của dịch vụ cung cấp: Kênh phân phối sản phẩm phát triển, ngày càng đa dạng hóa và dịch vụ cung cấp ngày càng được đa dạng hóa.Các kênh phân phối sản phẩm phát triển, ngày càng đa dạng hóa Số lượng sản phẩm bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm phát triển nhanh chóng từ 300 sản phẩm năm 2003 lên 800 sản phẩm năm 2010, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tham gia bảo hiểm Chất lượng sản phẩm được nâng cao: quyền lợi bảo hiểm được tăng thêm, nhiều sản phẩm bảo hiểm trọn gói với mức phí bảo hiểm hợp lý được triển khai, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chất lượng phục vụ có bước cải tiến đáng kể: Các DNBH, nhất là các DNBH nhân thọ đã thành lập bộ phận phục vụ khách hàng độc lập; xây dựng website riêng để quảng bá sản phẩm, hỗ trợ công tác bồi thường cũng như thu nhận và xử lý các
Trang 15thông tin phản hồi từ khách hàng
Tóm lại, năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm Việt Nam hiện nay còn yếu và hầu như ở tất cả các mặt cơ bản về năng lực cạnh tranh như năng lực tài chính, nguồn nhân lực, công nghệ Sự yếu kém gần như toàn diện trên các mặt đã đề cập khiến cho khả năng cạnh tranh trong tương lai của ngành bảo hiểm Việt Nam sẽ rất thấp Đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh đang trở thành một vấn đề quan trọng để DNBH có thể hội nhập, cạnh tranh thành công trên thị trường trong nước và từng bước vươn ra thị trường khu vực và quốc tế
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam
2.3.1 Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh của doanh nghiệp
Chiến lược cạnh tranh dài hạn: Các DNBH nước ngoài thường có chiến lược đặt tiêu chí sự hài lòng của khách hàng được đặt lên cao hơn Các công ty trong nước cũng hiểu rằng điều này rất quan trọng nhưng họ lại không đưa ra được chiến lược cũng như chưa xây dựng được quy trình thực hiện phù hợp như giảm giá phí bảo hiểm,
mở rộng điều khoản bảo hiểm
Đặc điểm cạnh tranh của các DNBH: Trong lĩnh vực bảo hiểm, để phân tán rủi ro, các doanh nghiệp thường duy trì hoạt động tái bảo hiểm cho nhau, vì vậy các sản phẩm bảo hiểm có tính tương đồng và tính quốc tế rất cao Khi một doanh nghiệp mới vào thị trường hoặc muốn giành khách hàng từ các doanh nghiệp khác để tăng thị phần, thì biện pháp cạnh tranh phổ biến nhất là hạ phí, tăng tỷ lệ hoa hồng trong khai thác hay áp dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh khác Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp này về lâu dài vừa gây ra rủi ro cho chính doanh nghiệp bảo hiểm vừa làm thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển không lành mạnh
Tóm lại, nhóm yếu tố Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh của doanh nghiệp đang có những tác động tiêu cực đến ngành bảo hiểm Việt Nam Dường như các chiến lược của DNBH vẫn chưa hiệu quả để khai thác hết tiềm năng nhu cầu bảo hiểm của ngành bảo hiểm Việt Nam Bên cạnh đó, những hành động phi cạnh tranh là một trong những nguyên nhân của việc bảo hiểm Việt Nam không thể phát triển lành mạnh gắn liền với sự vận động của các quy luật giá trị, quy luật cung – cầu trong nền kinh tế thị trường Nguyên nhân là do các DNBH còn thiếu định hướng dài hạn cho hoạt động kinh doanh, đồng thời, việc xử lý các vi phạm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các DNBH
Trang 16với mức tiền xử phạt còn thấp, thiếu các biện pháp mạnh cũng như các hình thức xử phạt
bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả Do chưa đủ khả năng răn đe nên tình trạng vi phạm của các doanh nghiệp diễn ra khá phổ biến
2.3.2 Điều kiện cầu
Điều kiện cầu được đánh giá dựa trên các tiêu thức: Nhận thức của khách hàng về mức độ quan trọng của dịch vụ bảo hiểm, về các DNBH hiện đang hoạt động trên thị trường, kinh nghiệm sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng, thực trạng khai thác bảo hiểm và tiềm năng khai thác bảo hiểm trong tương lai
2.3.2.1 Hiểu biết của người tiêu dùng
a) Hiểu biết của người tiêu dùng về tầm quan trọng của bảo hiểm và các loại hình bảo hiểm
Qua điều tra khảo sát, có đến 90% các cá nhân thấy rằng bảo hiểm rất quan trọng trong việc đảm bảo cuộc sống cho mình và người thân khi gặp rủi Các cá nhân có xu hướng coi trọng sự đảm bảo an toàn cho cuộc sống bản thân và gia đình hơn nhu cầu đảm bảo đối với các tài sản Đây chính là lý do quan trọng giải thích mức độ BHNT của cá nhân cao hơn nhiều so với BHPNT của cá nhân
b) Hiểu biết của người tiêu dùng về các nhóm doanh nghiệp trong thị trường bảo hiểm
Hiện nay, do các yếu tố như: (i) có thời gian hoạt động lâu dài gần như độc quyền trên thị trường, hoặc do (ii) đầu tư nhiều cho công tác quảng bá hình ảnh thì các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được biết đến nhiều nhất
Kinh tế phát triển, thu nhập của người dân ngày càng tăng cao do vậy đời sống ngày càng được cải thiện Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các DNBH nước ngoài làm cho
sự cạnh tranh của thị trường ngày càng cao, sản phẩm bảo hiểm ngay càng phong phú là nguyên nhân góp phần nào trong sự chuyển biến nhận thức đó Tuy nhiên, việc thay đổi nhận thức của người dân có vẻ chia thành hai thái cực rõ ràng về các sản phẩm bảo hiểm Bảo hiểm nhân thọ được các đối tượng phỏng vấn biết đến và hiểu đúng nhiều nhất trong khi bảo hiểm phi nhân thọ lại ít được họ chú trọng đến Thực tế cho thấy thị trường bảo hiểm nhân thọ hiện đang hết sức sôi động với sự tham gia của nhiều nhà cung cấp và các chiến dịch quảng bá công chúng rộng rãi, dồn dập Trong khi đó, các nhà cung cấp bảo hiểm phi nhân thọ chủ yếu tập trung vào các khách hàng tổ chức