1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu vực tỉnh hà tây cũ (nay thuộc hà nội)

20 581 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)
Tác giả Hồng Thị Minh Trường
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Danh Tốn
Trường học Đại học Kinh tế
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 357,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích, đánh giá thực trạng về tiềm năng phát triển du lịch, tình hình phát triển du lịch theo hướng bền vững, giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường sinh thái trong quá trình phát

Trang 1

Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)

Hồng Thị Minh

Trường Đại học Kinh tế Luận văn Thạc sĩ ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60.31.01

Người hướng dẫn: PGS.TS Lê Danh Tốn

Năm bảo vệ: 2008

Abstract: Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững Phân

tích, đánh giá thực trạng về tiềm năng phát triển du lịch, tình hình phát triển du lịch theo hướng bền vững, giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường sinh thái trong quá trình phát triển du lịch bền vững Đánh giá, làm rõ những thành tựu cũng như những hạn chế trong phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ Đưa

ra một số quan điểm định hướng và giải pháp như: hoàn thiện quy hoạch phát triển du lịch; đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển; phát triển nguồn nhân lực; mở rộng thị trường; đẩy mạnh sự tham gia cộng đồng dân cư; tăng cường bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường sinh thái; thành lập và củng cố các hiệp hội ngành nghề trong du lịch nhằm phát triển du lịch của khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)

theo hướng bền vững

Keywords: Du lịch; Du lịch bền vững; Hà Nội; Phát triển Du lịch

Content

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Toàn cầu hoá kinh tế đang là xu thế khách quan, Đảng ta nhất quán đường lối hội nhập kinh tế quốc tế gắn liền với công cuộc đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Điều đó đặt ra cho ngành du lịch nói chung và mỗi doanh nghiệp kinh doanh

du lịch nói riêng phải ra sức nâng cao sức cạnh tranh, mở rộng hợp tác quốc tế về du lịch cả chiều rộng lẫn chiều sâu, từng bước tích luỹ kinh nghiệm hội nhập Việt Nam trong tiến trình hội nhập cùng phát triển đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là điểm đến an toàn, được ưa chuộng nhất Châu Á Du lịch được khẳng định là một trong những ngành kinh tế quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế liên quan, thúc đẩy giao lưu, tăng cường hiểu biết giữa các quốc gia, giữa các dân tộc Thời gian qua, nhờ các chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, trong đó chính sách mở cửa chủ động và tích cực hội nhập kinh

tế quốc tế đã giúp cho ngành du lịch Việt Nam có những tiến bộ đáng kể Năm 2006, Việt Nam đón 3,5 triệu lượt khách quốc tế tăng 3% so với năm 2005, năm 2007 là hơn 4,1 triệu lượt khách, tăng 16% so với năm 2006 và mục tiêu năm 2010 Việt Nam sẽ là điểm đến của 6 triệu lượt khách quốc tế

Trang 2

Nằm trong xu thế chung đó, Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) - một khu vực có nhiều danh lam thắng cảnh - cũng đã và đang có những chính sách, chiến lược riêng nhằm thu hút khách du lịch đến với tỉnh mình, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho dân

cư Lợi thế của khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) là có tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho Hà Tây (cũ) phát triển một nền kinh tế tổng hợp đa ngành, trong đó du lịch được coi là một trong những ngành có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần thúc đẩy tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh

Tuy nhiên, sự phát triển sự phát triển của ngành du lịch Hà Tây (cũ) vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của ngành như: các kế hoạch phát triển thiếu quy hoạch, tự phát, chưa đồng bộ nên hiệu quả chưa cao, vấn đề khai thác và bảo tồn các danh thắng, cảnh quan còn nhiều bất cập, môi trường ô nhiễm, nhiều khu di tích đang xuống cấp, thậm chí có nguy cơ bị

hư hỏng nặng Do đó, vấn đề phát triển du lịch theo hướng bền vững được đặt ra một cách bức thiết hơn bao giờ hết Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở

Hà Tây” để thực hiện luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu

Phát triển du lịch ở Việt Nam là một vấn đề được nhiều nhà hoạch định chính sách và

các nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu Điển hình như một số công trình sau: “Một số vấn đề về

du lịch Việt Nam”, Đinh Trung Kiên, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004; “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam 1995 - 2010”, Tổng Cục du lịch Việt Nam, nhà

xuất bản Thống kê, 1994; “Quản trị kinh doanh khách sạn”, Nguyễn Văn Mạnh, Hoàng Thị Lan Hương, nhà xuất bản Lao động - xã hội, 2004;“Hoàn thiện hoạch định chiến lược xúc

tiến điểm đến của ngành du lịch Việt Nam”, luận án tiến sỹ của Nguyễn Văn Đảng, 2007; …

Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu về phát triển du lịch từng vùng hoặc từng

địa phương cụ thể, Tiêu biểu là: “Hà Tây đẩy mạnh phát triển du lịch làng nghề”, bài viết của Lại Hồng Khánh, 2005, Tạp chí Du lịch Việt Nam; “Phát triển kinh tế du lịch ở vùng du lịch

Bắc Bộ và tác động của nó đối với quốc phòng - an ninh”, luận văn thạc sĩ kinh tế của

Nguyễn Đình Sản, 2007; Tuy nhiên, vấn đề phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam mới chỉ được đề cập ở những khía cạnh riêng biệt của nó trong một số công trình Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt và hệ thống về phát triển du lịch theo hướng bền vững ở Việt Nam nói chung, ở các địa phương nói riêng

Việc nghiên cứu thực trạng và đề ra các giải pháp nhằm đưa ngành du lịch ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) đi lên góp phần tích cực giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho dân cư và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý đã được các cấp, các ngành và đặc biệt là Sở Du lịch Hà Tây quan tâm tiến hành từ rất sớm Mặc dù vậy, vấn đề phát triển bền vững du lịch ở khu vực tỉnh Hà Tây (cũ) vẫn còn nhiều khía cạnh phải tiếp tục nghiên cứu, nhìn nhận, đánh giá cho phù hợp với tình hình thực tế của nền kinh tế đang có nhiều biến động Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này vẫn còn rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 3

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch của khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội), trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm phát triển du lịch của khu vực này theo hướng bền vững

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch của khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội), từ đó thấy được những thành tựu và hạn chế trong phát triển du lịch theo hướng bền vững của khu vực này

- Đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy du lịch khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) phát triển theo hướng bền vững

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển du lịch theo hướng bền vững

Phạm vi nghiên cứu: luận văn giới hạn nghiên cứu lĩnh vực du lịch của khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) trong những năm gần đây

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp luận chung Bên cạnh đó, luận văn sử dụng các phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, thống kê kinh tế, so sánh và dự báo…

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống hoá và góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận chung về phát triển du lịch theo hướng bền vững

- Phân tích, đánh giá, làm rõ những thành tựu cũng như những hạn chế trong phát triển

du lịch theo hướng bền vững ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ

- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch của khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) theo hướng bền vững

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được cấu thành 3 chương:

Chương1: Những vấn đề chung phát triển du lịch bền vững

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay

thuộc Hà Nội)

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu vực tỉnh

Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)

CHƯƠNG 1:

Trang 4

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.1 DU LỊCH VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI

CỦA VIỆT NAM

1.1.1 Khái niệm du lịch

Khái niệm du lịch với nghĩa đầu tiên là sự khởi hành và lưu trú tạm thời của con người ngoài nới cư trú thưởng xuyên của họ Mầm mống đầu tiên của hoạt động kinh doanh du lịch bắt đầu xuất hiện từ cuộc phân chia lao động xã hội lần thứ hai (ngành thủ công xuất hiện và tách ra khỏi ngành nông nghiệp) Du lịch là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp và trong quá trình phát triển, nội dung của nó không ngừng được mở rộng Do đó, để đưa ra một định nghĩa của hiện tượng đó vừa mang tính chất bao quát, vừa mang tính chất lý luận và thực tiễn là một vấn đề hết sức khó khăn Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, các tác giả đưa ra những định nghĩa khác nhau về du lịch Chẳng hạn như:

Năm 1811 lần đầu tiên ở Anh có định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là sự phối hợp

nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của (các) cuộc hành trình với mục đích giải trí”

Định nghĩa về du lịch trong Từ điển bách khoa quốc tế về du lịch - Le Ditionnaire

international du tourisme - do Viện Hàn lâm khoa học quốc tế về du lịch xuất bản: “Du lịch là

tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp để liên kết nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch… Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ làm thoả mãn các nhu cầu của họ.”

Định nghĩa của Hội nghị Quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada (tháng 6/1991):

“Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”

Khái niệm du lịch được nêu tại điều 10 trong Pháp lệnh Du lịch Việt Nam: “Du lịch là

hoạt động của con người ngoài nới cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu thăm quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Như vậy, nên tách thuật ngữ du lịch thành hai phần để định nghĩa nó Thứ nhất, du lịch

là sự di chuyển là lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tư nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng Thứ hai, du lịch là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh

1.1.2 Những điều kiện để phát triển du lịch

1.1.2.1 Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội:

Môi trường chính trị hoà bình, ổn định sẽ đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hoá… giữa các quốc gia Bầu không khí hoà bình trên thế

Trang 5

giới ngày càng được cải thiện, các quốc gia đã chuyển từ xu thế đối đầu sang đối thoại Điều này làm cho du lịch tăng trưởng một cách mạnh mẽ trong những năm gần đây Ngoài ra, thiên tai cũng có những tác động không tốt đến sự phát triển của du lịch Nó làm giảm nhu cầu đi

du lịch của dân cư và cũng làm cho khả năng cung ứng của dịch vụ du lịch bị hạn chế

1.1.2.2 Điều kiện kinh tế:

Một trong những yếu tố quan trọng gây ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của

du lịch là điều kiện phát triển kinh tế nói chung Vì sự phát triển của du lịch lệ thuộc vào hiệu quả của các ngành kinh tế khác Trong các ngành kinh tế, sự phát triển của ngành nông nghiệp

và công nghiệp chế biến thực phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch Do ngành du lịch tiêu thụ một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm

1.2.2.3 Chính sách phát triển du lịch:

Chính sách phát triển của chính quyền ở tại sẽ giữ vai trò quyết định đến hoạt động du lịch ở địa phương đó Một đất nước, một khu vực có tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, mức sống của người dân không thấp nhưng chính quyền địa phương không hỗ trỡ cho hoạt động du lịch thì các hoạt động này cũng khó có thể phát triển được

1.2.2.4 Nhu cầu du lịch

Thực tế cho thấy, ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu đại chúng và các yếu tố tự thân chính làm gia tăng nhu cầu du lịch là thời gian nhàn rỗi, thu nhập và trình độ giải trí

Thời gian nhàn rỗi là điều kiện để con người thực hiện các chuyến đi du lịch

Thu nhập hay khả năng tài chính của dân cư cũng là yếu tố làm gia tăng nhu cầu du

lịch

Trình độ dân trí: sự tăng trưởng của du lịch còn phụ thuộc vào trình độ văn hoá Trình

độ văn hoá của cộng đồng được nâng cao thì nhu cầu đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt

1.2.2.5 Tiềm năng du lịch

Một là điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch thiên nhiên Điều kiện tự nhiên bao gồm

các bộ phận hợp thành như: vị trí địa lý (khoảng cách từ nơi du lịch đến các nguồn khách) ; Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên cảnh quan du lịch Địa hình càng đa dạng, độc đáo càng có sức hấp dẫn đối với du khách; Những khu du lịch có khí hậu ôn hoà cũng thường được du khách lựa chọn; Ngày nay nguồn nước không chỉ có tác dụng tạo ra một bầu không khí trong lành mà ở một số nơi nước còn có tác dụng chữa bệnh (nước khoáng, nước nóng…)

Hai là bên cạnh tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn cũng có một vai trò khá

quan trọng trong du lịch Tài nguyên nhân văn là những giá trị lịch sử, văn hoá, các thành tựu

về kinh tế, chính trị có ý nghĩa đặc trưng cho từng vùng Tương tự như giá trị lịch sử, giá trị văn hoá thu hút khách du lịch với mục đích nghiên cứu, tham quan

Ba là các điều kiện về sẵn sàng đón tiếp du khách Nó bao gồm các điều kiện về tổ

chức, các điều kiện về cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch như khách sạn, nhà hàng, công viên, hệ thống giao thông,… Ngoài ra, các điều kiện về kinh tế cũng có ảnh hưởng đến sự sẵn sàng phục vụ du khách

Trang 6

1.1.3 Vai trò của phát triển du lịch đối với đời sống kinh tế - xã hội

- Du lịch góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là kinh tế nông thôn

- Góp phần xoá đói giảm nghèo

- Du lịch còn có vai trò quan trọng trong việc tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước

- Hoạt động du lịch tác động mạnh đến dòng chảy của tiền tệ

- Hoạt động du lịch góp phần kích thích cơ sở hạ tầng phát triển

- Du lịch thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các nguồn đầu tư từ nước ngoài

- Du lịch cũng thu hút một bộ phận lớn dân cư tham gia vào các dịch vụ, xây dựng, bán sản phẩm du lịch… nên có khả năng giảm tình trạng thất nghiệp ở các địa phương

- Khôi phục và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống lâu đời thông qua việc phát triển các loại hình du lịch văn hoá: du lịch làng nghề, các lễ hội, các di tích lịch sử…

1.2 PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.2.1 Khái niệm phát triển du lịch bền vững

“Phát triển bền vững” là một khái niệm rất mới, nó phản ánh xu thế của thời đại và định hướng tương lai của nhân loại Các tổ chức nghiên cứu kinh tế, môi trường khác nhau cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về phát triển bền vững Năm 1987, Uỷ ban thế giới về Môi

trường và Phát triển đã công bố báo cáo: Tương lai chung của chúng ta Báo cáo này đã đề

cập và phân tích mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển Trong đó “phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương đến khả năng của những thế hệ tương lai”

Như vậy, phát triển bền vững là quá trình có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa

ba mặt: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Tiêu chí căn bản để đánh giá sự phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Quan điểm này được tiếp tục khẳng định và cụ thể hoá tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng: “Phát triển nhanh đi đôi với nâng cao tính bền vững, hai mặt tác động lẫn nhau, được thể hiện ở cả tầm vĩ mô và vi mô, ở cả tầm ngắn hạn và dài hạn Tăng trưởng về

số lượng phải đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế … Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người Thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội… Phải rất coi trọng, bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển”,

1.2.2 Nội dung phát triển du lịch bền vững

Hiện tại có ba trụ cột của phát triển bền vững đã được thừa nhận và bất kỳ một ngành kinh tế nào cũng phải hướng tới đạt được cả ba mục tiêu căn bản đó:

- Sự bền vững về kinh tế, nghĩa là tạo sự tăng trưởng, hiệu quả và ổn định cho tất cả các tầng lớp trong xã hội và đạt được hiệu quả giá trị cho tất cả mọi hoạt động kinh tế

Trang 7

- Sự bền vững xã hội, đó là tôn trọng nhân quyền và sự bình đẳng cho tất cả mọi người trong xã hội Nó đòi hỏi phải phân chia lợi ích một cách công bằng, với trọng tâm là giảm đói nghèo

- Sự bền vững về môi trường, có nghĩa là bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn tài nguyên không thể thay mới, không thể tái sinh và quý hiếm đối với cuộc sống con người

Đối với phát triển bền vững về kinh tế, du lịch tăng trưởng sẽ đóng góp một phần lợi nhuận không nhỏ vào ngân sách Nhà nước, thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch ngày càng hợp lý hơn

Đối với phát triển bền vững về xã hội, du lịch cần phải đảm bảo đem lại lợi ích lâu dài cho xã hội như tạo công ăn, việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống của dân cư và ổn định về xã hội, đồng thời bảo tồn các giá trị về văn hoá, xã hội (giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống)

Đối với phát triển bền vững về môi trường thì đòi hỏi trong khi phát triển du lịch, việc khai thác, sử dụng tài nguyên để đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại phải đảm bảo không phương hại đến nhu cầu của thế hệ tương lai

1.2.3 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững

1.2.3.1 Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống của cộng đồng

1.2.3.2 Cải thiện chất lượng cuộc sống con người

1.2.3.3 Phát triển du lịch gắn liền với việc bảo vệ sự sống và bảo tồn tính đa dạng

1.2.3.4 Phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế -XH

1.2.3.5 Thay đổi thái độ và thói quen sống của dân cư

1.2.3.6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương

1.2.3.7 Thường xuyên trao dồi, tham khảo ý kiến cộng đồng địa phương và các đôi tác liên quan

1.2.3.8 Cho phép địa phương tự quản lý lấy môi trường của mình

1.2.3.9 Tăng cường tiếp thị một cách có trách nhiệm

1.2.4 Lợi ích của việc phát triển du lịch bền vững

Ngoài những lợi ích mang tỉnh tổng thể đối với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước trong dài hạn và qua nhiều thế hệ thì phát triển du lịch bền vững cũng mang lại lợi ích cho các bên tham gia Cụ thể:

- Lợi ích cho nhà cung cấp: nếu tạo được nhiều sản phẩm du lịch đáp ứng được ngày càng lớn nhu cầu của du khách thì doanh nghiệp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn

- Lợi ích cho khách du lịch: do các điểm du lịch đã được chú ý đầu tư, quy hoạch, khai thác có kế hoạch, đặc biệt là công tác bảo tồn, giữ gìn môi trường được triển khai sâu rộng, nên du khách sẽ được tiếp cận, nghiên cứu và khám phá các nền văn hoá, các phong tục tập quán lâu đời trường tồn qua thời gian

Trang 8

- Lợi ích cho điểm du lịch: Ban quản lý các khu du lịch bằng việc cung cấp các sản phẩm du lịch cho các đơn vị kinh doanh và khách du lịch thu được một khoản lợi nhuận đáng

kể sẽ giúp cho họ tiếp tục đầu tư cải tạo, nâng cấp, bảo tồn các tài nguyên du lịch

1.3 KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở

VIỆT NAM

1.3.1 Tiềm năng du lịch của Việt Nam

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một dải đất hình chữ S năm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương Phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, Cămpuchia, phía đông nam trông ra biển Thái Bình Dương và biển Đông Việt Nam

có diện tích 331.211,6 km2, tổng số dân là 85.154 nghìn người (năm 2007), đường bờ biển dài 3.260 km, biên giới đất liền dài 4.510 km Lãnh thổ Việt Nam có ba phần tư là đồi núi, nhưng chủ yếu là đồi núi thấp, hai đồng bằng lớn, nhiều sông, ngòi

Việt Nam có một nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú Rừng Việt Nam có nhiều loài cây gỗ quý như đinh, lim, sến, táu, pơ mu… Đây là những tiền đề để chúng ta phát triển du lịch với các khu du lịch tự nhiên, du lịch sinh thái, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên như Cúc Phương, Cát Bà, Ba Vì… Việt Nam có nhiều bãi biển đẹp: Trà Cổ, Lăng Cô, Non Nước, Nha Trang, Mũi Né… Có nơi núi ăn lan ra biển tạo nên những vẻ đẹp kỳ vĩ (Vịnh

Hạ Long)

Với hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam có trên 7000 di tích lịch sử, văn hoá mang dấu

ấn của quá trình dựng nước và giữ nước (trong đó có 2.500 di tích được nhà nước xếp hạng bảo vệ) như đền Hùng, Cổ Loa, Văn Miếu… Đặc biệt là quần thể di tích Cố đô Huế, phố cổ Hội An và khu đền tháp Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới Hàng nghìn đền, chùa, nhà thờ, các công trình xây dựng, các tác phẩm nghệ thuật - văn hoá khác nằm rải rác ở khắp các địa phương trong cả nước là những điểm tham quan du lịch hấp dẫn

1.3.2 Quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch bền vững

1.3.2.1 Quan điểm

Việt Nam có nhiều ưu thế để phát triển du lịch bền vững Để có thể khai thác hiệu quả các ưu thế đó, hạn chế sự lãng phí các nguồn tài nguyên du lịch, góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững, Đảng ta đã đề ra quan điểm về phát triển du lịch: “phát triển du lịch thật sự là một ngành kinh tế mũi nhọn; nâng cao chất lượng và hiệu quả trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch trọng điểm, đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các nước…” (tr.178, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX), và “nâng cao chất lượng, quy mô và hiệu quả hoạt động du lịch Liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến du lịch để đầu tư phát triển một số khu du lịch tổng hợp và trọng điểm; đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Phát triển và đa dạng hoá các loại hình và điểm du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, lịch sử, thể thao hấp dẫn du khách trong và ngoài nước Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất và đẩy mạnh liên kết với các nước trong hoạt động du lịch …”

Trang 9

(tr.287, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX) Quan điểm này được nhấn mạnh tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: “khuyến khích đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động du lịch, đa dạng hoá sản phẩm và các loại hình du lịch …” (tr.202, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X)

Có thể nói, các quan điểm chỉ đạo của Đảng có mối quan hệ mật thiết với nhau, hợp thành một hệ thống quan điểm lý luận có tác dụng chỉ đạo, hướng dẫn đưa du lịch nước ta phát triển đúng với ưu thế của nó

1.3.2.2 Mục tiêu

Trong Nghị quyết Đại hội Đảng X đã đưa ra mục tiêu phát triển du lịch Việt Nam trong thời gian tới Mục tiêu tổng quát: phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ

sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, truyền thống văn hoá lịch sử, huy động tối đa nguồn lực trong nước và tranh thủ hợp tác, hỗ trợ quốc tế, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch tầm khu vực, phấn đấu đến năm 2010 du lịch Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia có ngành

du lịch phát triển trong khu vực

Để thực hiện mục tiêu tổng quát Đảng ta cũng đề ra những mục tiêu cụ thể như:

Mục tiêu về kinh tế: ngành du lịch tạo ra sự tối ưu hoá về đóng góp của ngành vào thu

nhập quốc dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và tăng cán cân thanh toán

Mục tiêu về văn hoá - xã hội: phát triển du lịch tạo ra nhiều việc làm mới cho lao động,

giảm tỷ lệ thất nghiệp, làm cho thu nhập của dân cư tăng lên và chất lượng cuộc sống của người dân được cải thiện Mặt khác, phát triển du lịch sẽ góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống

Mục tiêu về môi trường: các dự án đầu tư, quy hoạch du lịch cần phải gắn liền với bảo

vệ cảnh quan và môi trường tự nhiên, tôn trọng các quy luật, các giá trị tự nhiên nhằm khai thác, phát triển du lịch một cách hiệu quả và bền vững

Mục tiêu về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội: an ninh quốc gia, trật tự, an toàn

xã hội ổn định là một trong những yếu tố thu hút khách du lịch

Mục tiêu về hỗ trợ phát triển: các ngành khác có nhiệm vụ hỗ trợ cho du lịch phát triển

như cung cấp thông tin, công nghệ, phương tiện, những định hướng chiến lược cơ bản phát triển kinh tế - xã hội…

Mục tiêu cụ thể: phấn đấu tốc độ tăng GDP của ngành du lịch bình quân thời kỳ 2001 -

2010 đạt 11 - 11,5%năm với các chỉ tiêu cụ thể sau:

Năm 2010 khách quốc tế vào Việt Nam du lịch từ 5,5 đến 6 triệu lượt người, khách nội địa từ 25 đến 26 triệu lượt người, thu nhập du lịch đạt 4 đến 4,5 tỷ USD Tỷ trọng ngành du lịch đóng góp trong GDP cả nước năm 2010 là 27% Đến năm 2020 Du lịch tạo 1,4 triệu việc làm cho xã hội, trong đó có khoảng 350.000 việc làm trực tiếp Phấn đấu đến năm 2020 đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có ngành du lịch phát triển hàng đầu trong khu vực

1.3.3 Những thành tựu trong phát triển du lịch theo hướng bền vững

Trang 10

Thứ nhất, công tác xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp luật đã đạt được

những thành công đáng ghi nhận

Thứ hai, số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam ngày càng tăng lên Năm 2006

du lịch Việt Nam đón 3.583.486 lượt người, tăng 3,0% so với năm 2005 Trong năm 2007 lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 4.171.564 lượt người, tăng 16,0% so với năm 2006 Tháng 1/2008 được đánh giá là tháng có tốc độ tăng cao nhất về số lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong những năm vừa qua (đạt 420.000 lượt người, tăng 13,8% so với cùng kỳ 2007) Trong 11 tháng của năm 2008 tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 3.877.745

lượt người, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước

Thứ ba, doanh thu của ngành du lịch Việt Nam cũng có những bước tăng trưởng đáng

kể Năm 2006 thu nhập xã hội của ngành đạt 51.000 tỷ đồng tăng 8,5% so với năm 2005, năm

2007 đạt 56.000 tỷ đồng tăng 9,8% so với năm 2006 Mục tiêu hết năm 2008 doanh thu xã hội của du lịch đạt từ 60.000 đến 62.000 tỷ đồng tăng từ 10,7% đến 13,4% so với năm 2007

Thứ tư, trong năm 2004, mặc dù có nhiều ưu đãi nhưng Nhà nước mới chỉ hỗ trợ 500 tỷ

đồng cho đầu tư hạ tầng du lịch, đến năm 2005 thì con số này được Nhà nước tăng thêm 50 tỷ nữa (550 tỷ đồng) Trong năm 2007, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch đạt được thành tựu với 750 tỷ đồng đầu tư nâng cấp, xây mới cơ sở hạ tầng du lịch ở 59 tỉnh thành trong cả nước Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào du lịch Việt Nam tiếp tục tăng nhanh Năm 2007 có 47 dự

án đầu tư vào du lịch được cấp phép với tổng số vốn lên đến 1,863 tỷ USD tăng 19,57% so với cùng kỳ năm 2006

Thứ năm, công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch

được quan tâm, đẩy mạnh theo hướng đổi mới phương thức đào tạo

Thứ sáu, tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc ngành du lịch

diễn ra theo dúng lộ trình và đạt những thành tựu đáng kể

Thứ bảy, công tác xúc tiến quảng bá Du lịch ngày càng được chú trọng đầu tư nhiều

hơn

Thứ tám, ngành du lịch đóng góp tích cực tới bảo vệ môi trường, bảo tồn và bảo vệ đa

dạng sinh học và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên

Thứ chín, ngành du lịch đẩy mạnh mở rộng mối quan hệ hợp tác song phương, đa

phương tạo điều kiện cho du lịch phát triển bền vững, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã chính thức là thành viên của tổ chức WTO

1.3.4 Những hạn chế trong phát triển du lịch theo hướng bền vững

Các Nghị định, văn bản pháp luật chưa được triển khai sâu rộng Luật Du lịch chưa thực sự hoàn thiện và phát huy hết tác dụng trước thực tế sinh động, phúc tạp nên đã gây ra những hạn chế không nhỏ cho sự phát triển của ngành Du lịch

Số lượng khách Du lịch quốc tế đến nước ta ở một số thị trường đang có xu hướng giảm Tỷ lệ du khách quốc tế đến nước ta tham quan rồi không quay trở lại nữa ngày càng lớn, đây cũng là một dấu hiệu đáng quan tâm Vì nó sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngành

Ngày đăng: 06/02/2014, 21:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w