Vấn đề quan trọng đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là phải tìm kiếm những giải pháp thích hợp để đẩy mạnh hơn nữa sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt
Trang 1Năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang Liên minh Châu Âu (EU)
trong bối cảnh hội nhập WTO
Nguyễn Bằng Việt
Trường Đại học Kinh tế Luận văn ThS ngành: Kinh tế thế giới & Quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 07 Người hướng dẫn: TS Phạm Hùng Tiến
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
hàng dệt may xuất khẩu Đánh giá năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu sang
EU trong thời gian qua Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang EU trong bối cảnh hội nhập WTO
Keywords Kinh tế đối ngoại; Dệt may; Xuất khẩu; Năng lực cạnh tranh
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành dệt may Việt Nam có lịch sử phát triển từ lâu đời và hiện nay là một trong những ngành sản xuất mũi nh ọn, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội đất nước Với tốc độ tăng trưởng khá cao và tương đối ổn định qua các năm, trung bình trong giai đoạn 2002-2010 khoảng 22%/năm, dệt may hiện đang là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Liên minh châu Âu (EU) đã đóng góp đáng kể vào gia tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hàng vạn lao động, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách quốc gia
Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU sẽ bước sang thời kỳ mới với những thời cơ mới Doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ được đối xử bình đẳng hơn khi thâm nhập vào thì trường rộng lớn, đầy tiềm năng này Tuy vậy, hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu hiện đang đứng trước thách thức rất lớn, áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn Với cam kết xóa bỏ các hình thức trợ cấp không được phép , ngành dệt may không còn được hưởng một số loại hỗ trợ như trước đây Bên ca ̣nh đó là nguy cơ bị kiện chống bán phá giá , sử du ̣ng các biê ̣n pháp tự
vệ ở thị trường xuất khẩu này
Trên thực tế, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Viê ̣t Nam vào EU tăng đ ều qua các năm nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của hai bên , xuất khẩu hàng dê ̣t may Viê ̣t Nam sang EU chỉ chiếm khoảng 18% tổng kim nga ̣ch xuất khẩu hàng dê ̣t may, trong khi xuất khẩu mặt hàng này sang Mỹ luôn chi ếm 50% giá trị xuất khẩu của toàn ngành dệt may Một trong những nguyên nhân quan trọng là do năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang EU còn thấp kém Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chủ yếu thực hiện
Trang 2hợp đồng gia công xuất khẩu, chưa có sự chủ động về nguyên liệu đầu vào cũng như việc thiết kế và phát triển sản phẩm mới Do vậy, mặc dù có lợi thế nhân công rẻ, nguồn lao động dồi dào, song hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam khó có thể cạnh tranh với sản phẩm dệt may
từ Trung Quốc, Ấn Độ…trên thị trường EU
Vấn đề quan trọng đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là phải tìm kiếm những giải pháp thích hợp để đẩy mạnh hơn nữa sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới nói chung và EU nói riêng
Xuất phát từ đó, tác giả đã ch ọn đề tài: “Năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất
khẩu của Việt Nam sang Liên minh Châu Âu (EU) trong bối ca ̉ nh hội nhập WTO” cho
luâ ̣n văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Năng lực ca ̣nh tranh xuất khẩu của sản phẩm dê ̣t may Viê ̣t Nam là mô ̣t vấn đề được các nhà hoạch định chính sách , các cơ quan và nhiều nhà kinh tế trong nước và quốc tế quan tâm Liên quan đến đề tài này đã có những công trình nghiên cứu đư ợc công bố Một số công trình đáng lưu ý, bao gồm:
- Hiệp hô ̣i dê ̣t may Viê ̣t Nam (2000), Chiến lược tăng tốc phát triển ngành dê ̣t may Viê ̣t
Nam đến năm 2010
Chiến lược phát triển công nghiệp dệt may Việt Nam bao gồm những giải pháp lớn: đổi mới công nghệ, ổn định chất lượng sản phẩm, giảm giá thành sản xuất để tăng sức cạnh tranh trên thị trường nội địa và xuất khẩu Đầu tư mở rộng quy mô sản xuất từ khâu may đến khâu sản xuất vải và phụ liệu may, bông xơ sợi cho sản xuất vải; trong đó, đầu tư cho các nhà máy may hiện đại may hàng Fob (xuất khẩu trực tiếp) ở trung tâm hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; mở rộng mạng lưới may gia công ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước Cùng với việc quy tụ các nhà máy mới vào 10 cụm công nghiệp dệt là phát triển mạnh vùng bông ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ, ngành sẽ đẩy mạnh các hoạt động tiếp thị, xây dựng mạng lưới bán buôn, bán lẻ trong nước và các đại diện thương mại quốc tế; áp dụng ngay phương thức kinh doanh mới như thương mại điện tử và cuối cùng là đào tạo nguồn nhân lực
- Dự án JICA -NEU, (2001), Công nghiê ̣p dê ̣t may Viê ̣t Nam : Chính s ách phát triển
trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Dự án đánh giá sự tác đô ̣ng của mô ̣t số chính sách vĩ mô của Chính phủ tới sự phát triển công nghiê ̣p dê ̣t may , đồng thời đề xuất khuyến nghi ̣ về đổi mới các chính sách nhằ m phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
- Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương và UNDP (2003), Nâng cao năng lực
cạnh tranh quốc gia, Dự án VIE 01/025, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội
Cuốn sách đi sâu phân tích về hiện trạng năng lực cạnh tranh quốc gia trong đó tập trung vào 8 yếu tố cấu thành là: Thể chế nhà nước; Vai trò của Chính phủ; Độ mở của nền kinh tế; Hệ thống tài chính, tiền tệ; Kết cấu hạ tầng; Khoa học công nghệ; Lao động và Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Từ đó kiến nghị các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo hướng Hoàn thiện thể chế và phương thức điều hành kinh tế của Chính phủ; Hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh tế vĩ mô và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Giảm chi phí
kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ
- TS Đoàn Thị Hồng Vân (2004), Thâm nhập thị trường EU (Những điều cần biết), Nxb
Thống kê, Hà Nội
Cuốn sách giới thiê ̣u về Liên minh Châu Âu ; Cộng hòa Liên bang Đức - cánh cửa chính để thâm nhập thị trường EU và các nư ớc thành viên khác của EU Qua đó có thể thấy đươ ̣c các đi ều kiện thâm nhập thị trường EU như: Rào cản thương mại phi thuế quan; Thuế quan và hạn ngạch; Hệ thống giá tham chiếu và Thuế giá trị gia tăng
- Bộ công thương (2008), Quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp Dệt May Việt Nam
đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, Hà Nội
Trang 3Phát triển ngành Dệt May trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới Quy hoạch nêu rõ trước mắt ngành dệt may tập trung phát triển và nâng cao năng lực về nguồn nhân lực; nguồn nguyên, phụ liệu để có nguồn nhân lực chuyên môn cao, tạo nên sản
phẩm chất lượng cao gắn với thương hiệu uy tín; bảo vệ môi trường
- PGS.TS Nguyễn Quang Thuấn (2009), Quan hê ̣ kinh tế Viê ̣t Nam - Liên minh Châu Âu: Thực trạng và triển vọng, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Cuốn sách đã phân tích th ực trạng quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Liên minh Châu
Âu từ năm 1995 đến nay với ba nội dung chính là: Thương mại, đầu tư và hỗ trợ phát triển chính thức Trên cơ sở đó đưa ra những định hướng và giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – EU cho giai đoạn đến năm 2020…
Ngoài ra còn có các bài viết đăng tải trên các ta ̣p chí khoa ho ̣c chuyên ngành, như:
- ThS Nguyễn Thị Vũ Hà , Tranh chấp về hàng dê ̣t may t rong WTO và một số gợi ý
cho Viê ̣t Nam, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 25 (2009)
Bài viết tổng kết về các tranh chấp xảy ra trong WTO về hàng dệt may và trên cơ sở
đó đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam như: chủ động khởi kiện nếu thấy hàng dệt may bị bán phá giá trên thị trường nội địa, tích cực theo kiện, giải quyết tranh chấp không thông qua Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm; nghiêm chỉnh thực hiện các phán quyết của Cơ quan Giải quyết tranh chấp của WTO
- Nguyễn Thị Bích Thu, Nguyễn Thanh Liêm, Trương Hồng Trình, Tiếp câ ̣n chuỗi giá trị cho việc nâng cấp ngành dệt may Việt Nam , Tạp chí Khoa học và Công nghệ , Đa ̣i ho ̣c Đà
Nẵng, số 2/ 2010
Bài viết tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu nhằm giải thích sự chuyển đổi trong hệ thống sản xuất và thương mại của ngành dệt may trên thế giới từ đó phân tích và xác định chiến lược nâng cấp ngành - Được hiểu như là việc dịch chuyển các hoạt động nhằm mang lại giá trị cao hơn Giá trị cao hơn có thể đạt được hoặc bằng cách dịch chuyển sang các sản phẩm có giá trị cao hoặc bằng cách tăng cường thêm các chức năng mới trong chuỗi giá trị như tham gia vào khâu thiết kế và marketing…
Các công trình, bài viết trên đã đề cập một cách khái quát về hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trên thị trường thế giới nói chung, thị trường Liên minh Châu Âu nói riêng Song, đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống, cả
về lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang Liên minh Châu Âu trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích nghiên cứu
Phân tích làm rõ thực trạng năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng này trong thời gian tới
+ Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu
- Đánh giá năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu sang EU trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang EU trong bối cảnh hội nhập WTO
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam + Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng xuất khẩu hàng dệt
may và năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU trong những năm gần đây, đặc biệt từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO đến nay
Trang 45 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp duy v ật biện chứng, duy vật lịch sử; Phương pháp phân tích - tổng hợp trong nghiên cứu về ngành dê ̣t may Viê ̣t Nam và kinh nghi ệm quốc tế về nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu sang EU;
Phương pháp phân tích SWOT trong đánh giá chung năng lực ca ̣nh tranh hàng dê ̣t may Viê ̣t Nam xuất khẩu sang EU đồng thời chỉ ra những cơ hô ̣i và thách thức trong phân tích triển vo ̣ng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU;
Mô hình kim cương của M Porter trong phân tích thực tra ̣ng năng l ực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU;
Phương pháp phân tích chuỗi giá tri ̣ ; Nghiên cứu so sánh; Thống kê học để xử lý số liệu, kết hợp phương pháp phân tích dự báo triển vọng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU trong thời gian tới
6 Như ̃ng đóng góp mới của luận văn
- Khái quát hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu
- Phân tích kinh nghiệm của mô ̣t số quốc gia trong viê ̣c nâng cao năng lực ca ̣nh tranh xuất khẩu của sản phẩm dê ̣t may và bài ho ̣c kinh nghiê ̣m cho Viê ̣t Nam
- Phân tích, đánh giá thực tra ̣ng phát triể n và năng lực ca ̣nh tranh xuất khẩu của sản phẩm dê ̣t may Viê ̣t Nam từ khi Viê ̣t Nam gia nhâ ̣p WTO đến nay, từ đó thấy được những mă ̣t tồn ta ̣i và ha ̣n chế trong thời gian qua và mô ̣t số vấn đề đă ̣t ra trong thời gian tới
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực ca ̣nh tranh của hàng dê ̣t may xuất khẩu của Viê ̣t Nam sang thi ̣ trường EU trong thời gian tới
7 Bố cu ̣c của luâ ̣n văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về năng lực cạnh tranh của hàng hóa và kinh nghi ệm quốc
tế về nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu sang EU
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang EU trong bối cảnh hô ̣i nhâ ̣p WTO
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang EU trong bối cảnh hô ̣i nhâ ̣p WTO
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA
VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG
DỆT MAY XUẤT KHẨU SANG EU
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA
1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của hàng hóa
1.1.1.1 Các quan niệm về cạnh tranh
Khái niệm cạnh tranh có thể hiểu là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hóa cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hóa và thu được lợi nhuận
cao, đồng thời tạo ra điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển
1.1.1.2 Các quan niệm về năng lực canh tranh của hàng hóa
- Theo quan điểm của Michael E Porter đưa ra năm 1993, sức cạnh tranh của hàng hóa của một quốc gia là khả năng đạt được năng suất lao động cao và tạo cho năng suất này tăng không ngừng
- Theo giáo sư Keinosuke Ono, Đại học Keio - Nhật Bản và giáo sư Tatsuyuki Negoro, Đại học Waseda - Nhật bản cho rằng sản phẩm cạnh tranh tốt là sản phẩm hội tụ đủ các yếu
Trang 5tố chất lượng, giá cả, thời gian giao hàng, dịch vụ trong đó yếu tố cơ bản nhất là chất lượng sản phẩm
- Theo giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm, Đại học Quốc gia Hà Nội sản phẩm cạnh tranh
là sản phẩm đem lại một giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải lựa chọn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
1.1.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của hàng hóa
1.1.2.1 Doanh thu hay kim ngạch xuất khẩu
1.1.2.2 Thị phần hàng dệt may xuất khẩu
1.1.2.3 Chi phí sản xuất và giá hàng dệt may xuất khẩu
1.1.2.4 Chất lượng hàng dệt may xuất khẩu
1.1.2.5 Thương hiệu và uy tín hàng dệt may xuất khẩu
1.1.2.6 Phương thức xuất khẩu hàng dệt may
1.1.3 Các nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh của hàng hóa
1.1.3.1 Nguồn cung ứng đầu vào
1.1.3.2 Nguồn nhân lực và hoạt động nghiên cứu và triển khai (R &D)
1.1.3.3 Năng lực marketing và chất lượng dịch vụ, phục vụ của doanh nghiệp
1.1.3.4 Trình độ thiết bị, công nghệ
1.1.3.5 Các chính sách hỗ trợ của nhà nước
1.1.3.6 Môi trường quốc tế
1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
1.2.1 Vai trò của xuất khẩu hàng dệt may đối với Việt Nam
1.2.2 Yêu cầu của thị trường EU
1.2.3 Những cơ hội, thách thức của hội nhập WTO đối với ngành dệt may
1.2.3.1 Những cơ hội, thuận lợi
1.2.3.2 Những khó khăn, thách thức
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU SANG EU
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
1.3.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.3.3.1 Ưu tiên phát triển ngành dệt may như là ngành công nghiệp trọng điểm
1.3.3.2 Phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may
1.3.3.3 Đầu tư trang thiết bị máy móc và công nghệ
1.3.3.4 Đầu tư mạnh cho nghiên cứu và thiết kế sản phẩm
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG EU TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP WTO
2.1 TỔNG QUAN VỀ HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
2.1.1 Một vài nét về ngành dệt may Việt Nam
2.1.1.1 Giai đoạn trước năm 1990
Trong giai đoạn này, ngành công nghiệp dệt may trên phạm vi cả nước chủ yếu vẫn dựa vào các thiết bị cũ đã được đầu tư trước đây và hướng vào nhu cầu tiêu dùng nội địa là chính Thị trường xuất khẩu dệt may của Việt Nam chủ yếu là Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu với giá trị xuất khẩu khoảng 100 triệu USD/năm
Năm 1986, Việt Nam tiến hành đổi mới nền kinh tế, xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, mở cửa nền kinh tế Do vậy, ngành dệt may Việt Nam đã có điều kiện để mở rộng năng lực sản xuất một cách nhanh chóng
2.1.1.2 Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2002
Trong giai đoạn này, công cuộc đổi mới đất nước đã mở ra thời kỳ phát triển mạnh mẽ cho ngành công nghiệp, đặc biệt là với công nghiệp may Sự phát triển này được ghi nhận
Trang 6trên nhiều phương diện, trước hết là sự đổi mới về thiết bị công nghệ với công suất kéo sợi đạt 177000 tấn; 500 triệu mét vải và 250 triệu sản phẩm may các loại Tiếp đến là sự phát triển về quy mô các doanh nghiệp nhà nước cùng sự tham gia nhanh chóng của khu vực kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế tư nhân Cuối cùng là sự thâm nhập, phát triển thị trường xuất khẩu các sản phẩm dệt may của Việt Nam
Có thể nói giai đoạn 1992-2002 đã đánh dấu những biến đổi quan trọng về chất của ngành dệt may Việt Nam Từ chỗ chỉ sản xuất phục vụ nhu cầu nội địa là chính nay đã sản xuất xuất khẩu sang một số thị trường các quốc gia phát triển như EU, Mỹ, Nhật Bản
2.1.1.3 Giai đoạn từ 2002 đến nay
Dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam đó là việc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập Tập đoàn dệt may Việt Nam (VINATEX), (Quyết định
số 314/2005/QĐ-TTg ngày 02/12/2005)
Quyết định thành lập tập đoàn dệt may Việt Nam của Thủ tướng Chính phủ đã mở đường cho ngành dệt may Việt Nam khắc phục được những hạn chế cơ bản về tổ chức, quản
lý, về tài chính, về kế hoạch thị trường, về đầu tư…và trong tương lai không xa sẽ phát triển hơn nữa theo kịp nhịp độ hội nhập và phát triển của thế giới
2.1.2 Tình hình xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
2.1.2.1 Kim ngạch xuất khẩu
Trong những năm qua kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam không ngừng tăng Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam ra thị trường thế giới đã có bước tiến nhảy vọt với kim ngạch xuất khẩu tăng từ 2,75 tỷ USD năm 2002 lên gần 6 tỷ USD năm 2006 và hơn 11 tỷ USD năm 2010 Năm 2006 được coi là năm rất thành công của ngành dệt may Việt Nam, đánh dấu sự tăng trưởng và phát triển của ngành dệt may tại thị trường EU Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang hầu hết các nước thành viên, từ các nước thành viên cũ như Đức, Anh, Pháp đến thành viên mới là Cộng hòa Séc, Áo, Ba Lan, Hungary… đều có sự tăng trưởng mạnh
Sau khi gia nhập WTO, ngành dệt may Việt Nam đã phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu Năm 2008, mặc dù kinh tế thế giới suy thoái, xuất khẩu các nước đều bị ảnh hưởng nặng nề bởi nhu cầu ở các nước nhập khẩu giảm, song xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vẫn tăng trưởng khá, đạt 9,12 tỷ USD Kim ngạch xuất khẩu dệt may vẫn đứng đầu trong khối các nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam Năm 2009, xuất khẩu hàng dệt may may của Việt Nam gặp nhiều khó khăn hơn bởi kinh tế thế giới vẫn chưa thoát khỏi suy thoái; Hàng dệt may của Trung Quốc xuất khẩu vào thị trường Mỹ không còn hạn ngạch; Mức độ cạnh tranh với các thị trường khác sẽ gay gắt hơn Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vẫn đạt gần 9,07 tỷ USD (giảm nhẹ 0,6% so năm 2008) Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tăng mạnh 23,7% so với năm 2009, vượt 6,8% kế hoạch năm và dệt may trở thành ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất, đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước, duy trì được vị trí top 10 nước xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 13,5 tỷ USD, tăng 20,5% so với năm 2010
2.1.2.2 Cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu
Sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam ngày càng phong phú và đa dạng Hiện nay, sản phẩm ngành may của Việt Nam có nhiều chủng loại khác nhau từ quần áo bảo hộ, đồng phục học sinh (những sản phẩm có hàm lượng trí tuệ thấp, không đòi hỏi nhiều sự sáng tạo) đến áo jacket, áo sơ mi nữ, quần áo thể thao, comple và các sản phẩm dệt kim Trong số đó
đã xuất hiện các chủng loại hàng hóa có mẫu mã mới, chất lượng cao (áo sơ mi nữ cao cấp, quần jean,…) và đã khẳng định vị trí và tên tuổi tại các thị trường lớn như Mỹ, Đức, Pháp, Nhật Bản Trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, có bốn chủng loại hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn
là áo thun, áo jacket, áo sơ mi các loại và quần may sẵn
2.1.2.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu
Trang 7Cùng với kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, thị trường xuất khẩu các sản phẩm dệt may Việt Nam cũng được mở rộng nhanh chóng, đặc biệt từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO đến nay Hàng dệt may đã có mặt tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Trong đó, năm 2010 xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ đạt 6,118 tỷ USD, tăng 22,5% so với năm
2009 và chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước; kim ngạch xuất khẩu sang EU đạt 1,920 tỷ USD, tăng 17,5% và chiếm 16,8%; sang Nhật đạt 1,154 tỷ USD, tăng 21% và chiếm 10,3%
Hiện nay, thị trường xuất khẩu truyền thống của hàng dệt may Việt Nam vẫn tập trung vào ba thị trường chính là Mỹ (chiếm 57% thị phần); EU (18%) và Nhật Bản (9%), còn lại là các thị trường khác như Nga, Hàn Quốc, Canada Một số thị trường mới mở như Châu Phi mặc dù có nhu cầu lớn, nhưng hàng dệt may Việt Nam chưa thâm nhập được nhiều do rủi ro
về thanh khoản, hệ thống thanh toán qua ngân hàng chưa đủ độ tin cậy, chi phí vận chuyển tốn kém
2.2 PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG EU
2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU
Hàng dệt may Việt Nam chỉ thật sự có chỗ đứng trên thị trường EU khi Hiệp định hàng dệt may Việt Nam - EU có hiệu lực năm 1993 Kể từ đó, EU trở thành một thị trường lớn truyền thống của hàng may mặc xuất khẩu Việt Nam Từ sau năm 2003, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU luôn tăng, năm sau cao hơn năm trước khá lớn Năm 2007 là năm tăng trưởng “nóng” của ngành dệt may với giá trị xuất khẩu đạt 1,49 tỷ USD, tăng tới 18% so với
2006 Năm 2008, mặc dù suy thoái kinh tế thế giới, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vẫn tăng mạnh, đạt 1,7 tỷ USD, tăng 14% so với năm 2007 Năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,6 tỷ USD, giảm nhẹ so với năm 2008 Năm 2010 đạt 1,9 tỷ USD, tăng 14% so với năm
2009
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang EU tăng đều qua các năm Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, đến năm 2010 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang
EU tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2005 Có được điều này là do hàng dệt may Việt Nam đang nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường EU, dần thỏa mãn được đông đảo thị hiếu và yêu cầu khắt khe của thị trường này
2.2.2 Thị phần hàng dệt may xuất khẩu tại EU
Việc tìm hiểu thị trường và nắm bắt nhu cầu của thị trường là điều cần thiết, là yếu tố quyết định đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dệt may nói riêng Từ năm 1995 đến nay, với lợi thế so sánh về nguồn lao động, hàng dệt may của Việt Nam đã từng bước chiếm lĩnh được thị trường quốc tế, trong đó có thị trường EU, với tốc độ tăng trưởng cao Thị phần hàng dệt may của Việt Nam tại EU đã tăng mạnh từ 0,8% năm 1995 lên 1,6% năm 2007; 1,75% năm 2008; và 2,11% năm 2010
Mặc dù vậy, hàng dệt may Việt Nam hiện đang phải cạnh tranh với các quốc gia hàng đầu thế giới về xuất khẩu hàng dệt may như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan tại thị trường EU Năm 2001, sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, thị phần của hàng dệt may Trung Quốc tại
EU tăng 3,1% lên 19,2% Từ năm 2004 đến năm 2010, Trung Quốc vẫn luôn là quốc gia Châu Á có thị phần hàng dệt may lớn nhất tại EU với 31% năm 2006 và 45,24% năm 2010 Tiếp theo là Ấn Độ với thị phần tăng lên đáng kể, từ mức 8% năm 2004 lên 9,46% năm 2010
Vị trí của Việt Nam hiện vẫn rất khiêm tốn trong mười hai nước Châu Á xuất khẩu hàng dệt may vào EU, nhưng đã có sự cải thiện (đứng thứ 4/12 nước năm 2010, tăng 2 bậc so với năm 2009)
2.2.3 Chi phí sản xuất và giá hàng dệt may xuất khẩu sang EU
Trên thực tế chi phí cho một đơn vị sản phẩm dệt may ở Việt Nam đều cao hơn các nước khác từ 15%-20% Nguyên nhân là do:
Trang 8 Giá lao động rẻ nhưng chất lượng lao động không cao, đặc biệt lao động có trình độ chuyên
môn thấp chiếm đến 60% trên tổng số lao động trong ngành nên năng suất lao động thấp Năng suất lao động của ngành dệt may Việt Nam nói chung chỉ bằng 2/3 so với mức bình quân của các nước ASEAN
Nhập khẩu nguyên liê ̣u : Vận chuyển, hải quan, thiết bị, chi phí vận chuyển liên quan đến
nhập khẩu nguyên liệu vào Việt Nam làm cho chi phí nguyên vật liệu ở Việt Nam cao hơn so với Trung Quốc và Ấn Độ Chi phí đầu vào của nguyên liệu ở Việt Nam cao hơn khoảng 25-30% ở Trung Quốc Vì chi phí nguyên liệu chiếm một phần lớn, 45% tổng chi phí, nên đây là một bất lợi lớn cho ngành dệt may Việt Nam
Các chi phí trung gian khác như phí cảng biển, bưu chính viễn thông của Việt Nam cao
gấp 2 lần so với mức giá trung bình trong khu vực Giá nước sạch tại Việt Nam hiện nay là 25-30 cent/m3, trong khi giá của Trung Quốc là 13 cent/m3 Đối với chi phí điện, tiền điện hiện nay của Việt Nam là 7 cent/KWh, cao hơn phí điện năng của Trung Quốc (4,8-6/KWh) Chi phí cơ sở hạ tầng cũng ở mức cao, của Trung Quốc là 10-12 USD/m2/50 năm, thấp hơn nhiều so với mức chi phí hiện tại của Việt Nam là 20-60 USD/m2/50 năm
Chi phí trung gian cao nên giá thành cao đã làm giảm đi khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam Giá các sản phẩm dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang EU thường cao hơn giá của sản phẩm cùng loại của các nước ASEAN từ 10%-15%, cao hơn Trung Quốc 20% Hàng dệt may Việt Nam sẽ còn gặp phải nhiều khó khăn trong cạnh tranh trên thị trường quốc tế nói chung tại thị trường EU nói riêng
2.2.4 Chất lượng và cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu sang EU
Năm 2008, Tập đoàn dệt may Việt Nam đã triển khai thực hiện phương án cải tiến tổ chức sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất của ngành may từ khâu đầu đến khâu cuối tại một số các nhà máy may trong tập đoàn Kết quả bước đầu đã nâng cao chất lượng sản phẩm và năng suất lao động ở các đơn vị may tăng lên từ 10 - 20 %, góp phần thực hiện có hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng, năng suất lao động, thực hành tiết kiệm, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh trên thị trường
Tuy nhiên do điều kiện kỹ thật, công nghệ còn hạn chế nên đa số sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam vẫn thuộc nhóm trung bình, hàm lượng công nghệ thấp, chất lượng còn khiêm tốn Trong tương lai khi nhu cầu của khách hàng khắt khe hơn, khi sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh (như Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh) cải tiến hơn về chất lượng thì sản phẩm dệt may cần phải có một bước tiến lớn về chất lượng mới có thể giữ được thị trường
Hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang EU đã có sự đa dạng về chủng loại, thêm các mặt hàng mới có tiềm năng như áo len, áo nỉ, bít tất bên cạnh các mặt hàng xuất khấu có tính truyền thống như áo jacket, áo sơmi, quần các loại Mẫu mã, hình thức và màu sắc cũng phong phú hơn Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã có sự đầu tư hơn về chất xám và sự sáng tạo trong sản phẩm
Trong 8 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các chủng loại mặt hàng dệt may sang thị trường EU đều tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2010 Đứng đầu là áo jackets đạt 570 triệu USD, tăng 62,3% tiếp theo là quần đạt 267,2 triệu USD, tăng 33,9%, áo sơ mi đạt 160,4 triệu USD, áo thun đạt 97,9 triệu USD Xuất khẩu 4 mặt hàng này sang EU chiếm 59,6% tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU trong 8 tháng đầu năm 2011
2.2.5 Thương hiệu hàng dệt may xuất khẩu
Hầu hết các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đều chưa có sự đầu tư tương xứng cho hoạt động xây dựng thương hiê ̣u , thể hiện qua ngân sách chi cho hoạt động còn quá thấp và đặc biệt là chưa có một chiến lược dài hạn trong xây dựng thương hiệu Qua khảo sát của Bộ Công Thương trên 40 doanh nghiệp đã có tiếng tại Việt Nam, nhóm khảo sát nhận thấy chỉ có
Trang 93 đơn vị đã hình thành chiến lược xây dựng thương hiệu dài hạn, còn lại đa số các doanh nghiệp chỉ có những hoạt động quảng bá trước mắt Đơn vị sử dụng nguồn lực xây dựng thương hiệu cao nhất chiếm tỉ trọng 4% trên doanh thu, còn lại hầu hết chỉ dành nguồn lực từ 0,1% đến 1% trên doanh thu hàng năm Theo kinh nghiệm đối với ngành hàng thời trang trên thế giới thì thông thường nguồn lực quảng bá xây dựng và phát triển thương hiệu phải chiếm
ít nhất 10% doanh thu
Đối với thị trường xuất khẩu, chỉ có thương hiệu doanh nghiệp là đang có một số tác động nhất định đến khả năng cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp Khoảng 30% số lượng doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may tại Việt Nam đã được nhiều nhà nhập khẩu biết đến tên doanh nghiệp với nhiều mức độ khác nhau thông qua quan hệ xuất nhập khẩu và đặt hàng thường xuyên, trong đó chỉ có một số rất ít doanh nghiệp Việt Nam được biết rộng rãi trong cộng đồng các nhà nhập khẩu lớn Bên cạnh đó, tên nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng chỉ được các nhà nhập khẩu biết đến thông qua mối quan hệ với công ty mẹ của họ tại nước ngoài
Với sản phẩm xuất khẩu, ngoại trừ một vài doanh nghiệp có sản phẩm xuất khẩu dưới thương hiệu riêng của mình (như Công ty Scavi đang xuất khẩu sản phẩm dưới tên Corene Scavi và Mailfix Scavi, Công ty May Phương Đông xuất khẩu sản phẩm dưới tên F House ) còn lại hầu hết đều xuất khẩu sản phẩm dưới nhãn hiệu của nhà nhập khẩu nước ngoài, giá trị gia tăng rất thấp
Trên thực tế, hoạt động quảng bá thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam ra thị trường nước ngoài gần như chưa có Nguyên nhân chính của tình trạng này là do các doanh nghiệp Việt Nam không đủ năng lực tài chính để quảng bá thương hiệu sản phẩm ra nước ngoài, trong khi các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì không quan tâm xây dựng thương hiệu ở Việt Nam mà chủ yếu là sử dụng thương hiệu của công ty mẹ tại nước ngoài Trong số gần 2000 doanh nghiệp dệt may, đã có khoảng 100 doanh nghiệp có thương hiệu được người tiêu dùng trong cả nước biết đến với những mức độ khác nhau Các thương hiệu như sơ mi Việt Tiến, sơ mi May 10, veston Nhà Bè, áo thun Thành Công, áo thu đông Đông Xuân, vải KT Việt Thắng, vải gấm Thái Tuấn, Phước Thịnh, đồ lót Vera, áo thun Hoàng Tấn, Ninomax, PT2000, tơ tằm Khaisilk đã được biết rộng rãi trong cả nước và liên tục được người tiêu dùng bình chọn danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao Các thương hiệu này đã thực sự trở thành tài sản vô hình đáng kể của doanh nghiệp và đã góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp tại thị trường trong nước cũng như các thị trường lớn nước ngoài như Mỹ, EU và Nhật Bản
Mặc dù đã có bước tiến trong việc phát triển thương hiệu trong những năm gần đây, nhưng tại thời điểm này, khi Việt Nam đã gia nhập WTO, để có thể cạnh tranh được với sản phẩm của các đối thủ lớn như Trung Quốc, Ấn Độ…trên thị trường quốc tế, trong đó có thị trường EU, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải coi trọng việc xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu cho sản phẩm cũng như uy tín và tên tuổi của doanh nghiệp
2.2.6 Phương thức xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU
Trong ngành dệt may toàn cầu, khâu thiết kế kiểu dáng được làm ở các trung tâm thời trang thế giới tại Paris, London, New York…, vải được sản xuất tại Trung Quốc, phụ liệu khác được làm tại Ấn Đô ̣ Khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng được thực hiện ở các nước có chi phí nhân công thấp như Việt Nam, Trung Quốc, Campuchia… Sau cùng, sản phẩm được đưa trở lại thị trường do các công ty thương mại danh tiếng đảm nhận bán ra Trong chuỗi giá trị toàn cầu hàng dệt may đó, khâu có lợi nhuận cao nhất là thiết kế mẫu, cung cấp nguyên phụ liệu và thương mại Việt Nam chỉ tham gia vào khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng với lượng giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị Một phần lớn các nhà sản xuất sản phẩm dệt may của Việt Nam đang thực hiện các hợp đồng ủy thác xuất khẩu CMT cho các đại lý mua hàng và cơ sở thu mua Tỉ lệ của CMT và FOB tương ứng là 70% và 30% Chính vì thế,
Trang 10tuy sản phẩm dệt may của Việt Nam được xuất đi nhiều nơi, trong đó có EU, Việt Nam có tên trong top các nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới nhưng giá trị thu về rất thấp
Các nhà sản xuất sản phẩm dệt may của Việt Nam chủ yếu đang thực hiện kinh doanh theo hình thức CMT cho các hàng dệt may cấp thấp (low-end) Ở thị trường EU, giá CIF cho các sản phẩm dệt may nhập khẩu từ Việt Nam là ở mức thấp Một số nguyên nhân lý giải cho việc này là do kỹ năng về thiết kế và thời gian sản xuất ở Việt Nam kéo dài Chỉ có những sản phẩm dệt may cơ bản, không nhạy cảm về mặt thời trang thì mới được mua từ Việt Nam với mức giá thấp
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG EU
2.3.1 Những điểm mạnh trong năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam
2.3.1.1 Mở rộng khả năng thâm nhập thị trường, tăng uy tín của doanh nghiệp
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang các nước EU ngày càng càng gia tăng và tương đối ổn định trong những năm qua Hiện nay, xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường này chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may hàng năm của Việt Nam Điều này cho thấy uy tín của doanh nghiệp cũng như chất lượng và thương hiệu sản phẩm dệt may Việt Nam đã và đang có chỗ đứng nhất định trên thị trường khó tính này Nhiều doanh nghiệp trong ngành may được tổ chức tốt, đáp ứng được các tiêu chuẩn xã hội, xây dựng được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với các nhà nhập khẩu, bán lẻ tại nhiều quốc gia thành viên của EU Đây sẽ là tiền đề quan trọng để các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
có thể mở rộng thị trường xuất khẩu, khẳng định hơn nữa uy tín và vị thế của mình trên thị trường thông qua việc ký kết hợp đồng, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực thương mại, đầu tư với từng nước thành viên EU, từ đó thúc đẩy hơn nữa hoạt động sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may trong nước
2.3.1.2 Hệ thống máy móc thiết bị từng bước được cải tiến
Hiện nay, ngành dệt may Việt Nam đã đổi mới được khoảng 95% máy móc, thiết bị sản xuất, có khả năng sản xuất được các loại sản phẩm phức tạp, chất lượng cao, được phần lớn khách hàng khó tính chấp nhận, điều này góp phần không nhỏ trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế về giá cả và chất lượng sản phẩm Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng đầu tư khá lớn cho các dây truyền sản xuất mới theo hướng chuyên môn hoá, hoặc mua lại các thiết bị đã qua sử dụng của các doanh nghiệp bị phá sản trong khu vực (trị giá khoảng 3,5 triệu USD) Mặc dù đã qua sử dụng nhưng chất lượng của những thiết bị này còn khoảng 80% và giá chỉ bằng 35% giá trị máy mới Điều này vừa giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí đầu vào vừa đảm bảo hiện đại hoá sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động
2.3.2 Những vấn đề đặt ra trong năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam
2.3.2.1 Quy mô xuất khẩu nhỏ, công tác thiết kế, phát triển sản phẩm mới cũng như chất lượng sản phẩm còn chưa được quan tâm đúng mức
Quy mô xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường EU còn quá nhỏ bé (chiếm khoảng 2% tổng giá trị hàng dệt may nhập khẩu của EU) so với tiềm năng kinh tế của Việt Nam và nhu cầu nhập khẩu của thị trường này EU là một thị trường giàu tiềm năng với
27 nước thành viên, nhưng hiện nay chỉ nhập khẩu khoảng 18% hàng dệt may từ Việt Nam trong khi đó giá trị xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang Mỹ chiếm tới 57% trên tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam Hình 2.4 đã phân tích và so sánh sự phát triển
về tiềm năng của những thị trường này Mô hình này được xây dựng dựa trên Ma trận tỉ lệ tăng trưởng của Tập đoàn tư vấn Boston và Những chiến lược Porfolio thu hút thị trường của General Electric Mô hình này là một công cụ được sử dụng để xác định những tiềm năng của thị trường mục tiêu Dựa trên mức độ về tiềm năng, mỗi thị trường cần phải có sự đầu tư và quan tâm thích hợp Theo mô hình này, một thị trường được coi là có sức cuốn hút khi thị trường có tỉ lệ tăng trưởng nhiều hơn hoặc bằng 10% và một thị trường bị cho là không có