Đứng trước những vấn đề đó, các ngân hàng đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của mình.. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 1Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt
Abstract: Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết cơ bản về rủi ro thanh khoản và hoạt động
quản trị rủi ro thanh khoản Phân tích thực trạng công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng (thương mại cổ phần) TMCP Bưu điện Liên Việt, ảnh hưởng của nó đến trạng thái thanh khoản hiện tại của ngân hàng Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của Ngân hàng TMCP Bưu điện
Liên Việt
Keywords: Tài chính ngân hàng; Thanh khoản; Ngân hàng thương mại; Quản trị rủi ro
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà các nhà quản trị ngân hàng phải thực hiện là đảm bảo khả năng thanh khoản hợp lý cho ngân hàng Ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt khi nó luôn có được nguồn vốn khả dụng với chi phí hợp lý vào đúng thời điểm mà ngân hàng cần Không có đủ nguồn vốn khả dụng để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thị trường có thể khiến ngân hàng mất khả năng thanh toán, mất uy tín và dẫn đến sự sụp đổ của toàn hệ thống Tuy nhiên, lượng vốn dự trữ quá lớn sẽ tác động trực tiếp làm giảm khả năng đầu tư, sinh lời của bản thân ngân hàng
Trong thời gian vừa qua, trước những tác động tiêu cực của sự bất ổn định nền kinh tế vĩ
mô (lạm phát leo thang) và các chính sách của Nhà nước (kiềm chế lạm phát), thanh khoản của
hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng, cá biệt có một số ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản Điều này không chỉ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến
Trang 2hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng mà còn tác động đến thị trường tiền tệ và toàn bộ nền kinh tế nói chung Đứng trước những vấn đề đó, các ngân hàng đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của mình
Xuất phát từ thực tế nêu trên, việc tìm hiểu cách tiếp cận hiện đại trong quản trị rủi ro thanh khoản, ứng dụng nó để phân tích hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản trong hệ thống NHTM Việt Nam nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Bưu điện Liên Việt nói riêng là cần thiết, góp phần hoàn thiện một bước quy trình và nâng cao chất lượng quản trị rủi ro thanh
khoản trong ngân hàng Đề tài “Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Bưu điện Liên Việt – Thực trạng và giải pháp” được lựa chọn nhằm đáp ứng nhu
cầu trên
2 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến công tác quản trị rủi ro thanh khoản trong hệ thống NHTM đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, các đề tài, đề án có giá trị cao Tuy nhiên, trên thực tế các NHTM thường không thực sự chú trọng đến hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản và thực hiện nó một cách khoa học, hiệu quả (hầu như chỉ thực hiện xử lý sau khi đã xuất hiện rủi ro hoặc quản trị rủi ro trong ngắn hạn) Do đó, khi tiến hành nghiên cứu vấn đề này, học viên gặp khó khăn trong việc tiếp cận, khai thác thông tin, số liệu liên quan đến công tác quản trị rủi ro thanh khoản của hệ thống NHTM Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
o Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết cơ bản về rủi ro thanh khoản và hoạt động quản trị rủi
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
o Luận văn tập trung phân tích công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại một NHTM cụ thể (Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt), những mặt đạt được và những vấn đề còn hạn chế, đặt trong mối tương quan so sánh với các NHTM khác tại Việt Nam (không chú trọng phân tích sâu vào thực trạng thanh khoản)
o Các số liệu, thông tin chỉ tập trung nghiên cứu cho giai đoạn 2009 - 2011
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 3Ngoài phương pháp triết học biện chứng và lịch sử thường được dùng trong nghiên cứu khoa học, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như hệ thống, diễn dịch, phân tích tổng hợp, so sánh và các công cụ như bảng biểu, đồ thị để chứng minh làm sáng tỏ các luận cứ được nêu ra
6 Những đóng góp mới của luận văn
o Làm rõ thực trạng công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt dựa trên cách tiếp cận hiện đại, chỉ ra những thành công hay khiếm khuyết của hoạt động này, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp
o Đóng góp cho quy trình cơ bản của hoạt động quản trị tài sản Nợ - tài sản Có (ALM) của các NHTM, trong đó một nội dung quan trọng là quản trị thanh khoản
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của NHTM
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị cải thiện hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Rủi ro thanh khoản
1.1.1 Khái niệm tính thanh khoản và rủi ro thanh khoản
Có nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau liên quan đến tính thanh khoản (dưới góc
độ tài sản và dưới góc độ ngân hàng) Tuy nhiên có thể hiểu rằng tính thanh khoản của ngân
hàng là trạng thái luôn có trong tay một lượng vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời
điểm ngân hàng có nhu cầu hoặc khả năng nhanh chóng huy động được vốn thông qua con đường vay nợ hay bán tài sản
Tính thanh khoản của NHTM luôn phải được nhìn ở trạng thái động, tức là xem xét trong tương quan cung - cầu thanh khoản của ngân hàng trong giai đoạn nhất định Tương quan cung -
Trang 4cầu về vốn thanh khoản này quyết định trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng tại bất cứ thời điểm nào Những nhân tố tác động đến cung và cầu thanh khoản sẽ tác động đến trạng thái thanh khoản của NHTM Cụ thể như sau:
a) Nhân tố tác động đến cầu thanh khoản:
Các điều kiện kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát
Lãi suất huy động và lãi suất cho vay
Sự khác biệt đáng kể về lợi tức giữa các khoản tiền gửi và các cơ hội đầu tư khác
b) Nhân tố tác động đến nguồn cung thanh khoản:
Quy định và chính sách tiền tệ của NHNN
Các điều kiện kinh tế vĩ mô
Sự phát triển và tính dễ dàng tiếp cận của thị trường tiền tệ
Hoạt động của các thị trường khác như thị trường chứng khoán phái sinh
Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro phát sinh khi ngân hàng không đủ khả năng đáp ứng dòng tiền rút ra khỏi ngân hàng tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động vốn với chi phí cao
để đáp ứng các nhu cầu về vốn khả dụng
1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản
a) Nguyên nhân khách quan:
Thay đổi trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN thông qua các công cụ như tỷ
lệ dự trữ bắt buộc, các loại lãi suất như lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất thị trường mở…
Thay đổi lựa chọn kênh đầu tư của các nhà đầu tư
Hiệu ứng dây chuyền trong tâm l ý khách hàng
b) Nguyên nhân chủ quan:
Sự mất cân đối về kỳ hạn giữa tài sản Nợ và tài sản Có
Chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả
1.1.3 Tác động của rủi ro thanh khoản đến hoạt động của NHTM
a) Tác động của rủi ro thanh khoản đến mỗi NHTM riêng lẻ:
Làm sụt giảm lợi nhuận và uy tín của ngân hàng (do chi phí huy động tăng đồng thời phải cắt giảm nguồn cung tín dụng)
Trong một số trường hợp có thể dẫn đến sự phá sản và sụp đổ của ngân hàng
b) Tác động của rủi ro thanh khoản đến hệ thống ngân hàng và nền kinh tế:
Trang 5 Việc phá sản của một ngân hàng sẽ dẫn đến sự hoảng loạn của người gửi tiền, kéo theo sự rút tiền hàng loạt ở các ngân hàng khác và lúc này kéo theo sự sụp đổ của toàn hệ thống chứ không chỉ của một ngân hàng riêng lẻ
Tăng trưởng của nền kinh tế bị giảm sút
1.2 Nội dung quản trị rủi ro thanh khoản của NHTM
1.2.1 Các phương pháp đo lường trạng thái thanh khoản của ngân hàng
a) Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn
Cách đo lường này bắt đầu với thực tế là: khả năng thanh khoản tăng khi tiền gửi tăng và cho vay giảm; và khả năng thanh khoản giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng Bất cứ khi nào nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản không bằng nhau, ngân hàng phải đối mặt với khe
hở tài trợ (financing gap) Khe hở này được đo bằng độ chênh lệch giữa tổng nguồn vốn huy động trung bình và tổng dư nợ trung bình
Khe hở tài trợ = Tổng dư nợ trung bình - Tổng nguồn vốn huy động trung bình
Nếu khe hở này là dương thì ngân hàng buộc phải bù đắp bằng các khoản tiền mặt và các tài sản có tính thanh khoản hoặc vay nợ trên thị trường tiền tệ
b) Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn:
Với phương pháp này, bước đầu tiên là tiền gửi và các nguồn vốn khác nhau của ngân hàng được chia thành nhiều nhóm dựa trên khả năng vốn bị rút ra khỏi ngân hàng, ví dụ như:
Sau đó nhà quản trị ngân hàng dự tính con số vốn vay tối đa tiềm năng và cần có lượng
dự trữ thanh khoản hay năng lực vay vốn hợp lý, tương đương với 100% phần chênh lệch giữa tổng dư nợ thực tế và tổng cho vay tối đa tiềm năng Do đó:
Tổng yêu cầu thanh khoản của ngân hàng = ∑ Ttỷ lệ dự trữ thanh khoản xác định của nhóm x (nhóm vốn tiền gửi và phi tiền gửi – dự trữ bắt buộc) + 100 x (quy mô cho vay tối đa tiềm năng – tổng dư nợ hiện tại)
c) Phương pháp tiếp cận chỉ số thanh khoản:
Trang 6Nhu cầu thanh khoản được ước tính dựa trên chỉ số thanh khoản và các chỉ báo khác của trạng thái thanh khoản, cụ thể như sau:
Chỉ số thanh khoản: đo lường tổn thất mà một ngân hàng gánh chịu khi phải bán tháo (bán ngay lập tức) tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản so với mức giá của tài sản
đó trên thị trường (ở điều kiện bình thường) Công thức đo lường chỉ số thanh khoản được xác định như sau:
I = ∑[wi×(Pi/P*i)]
Trong đó: wi: tỷ trọng của tài sản thứ i trong danh mục tài sản
Pi: Giá bán tháo tài sản của tài sản thứ i
P*i: Giá thị trường của tài sản thứ i
Các chỉ báo trạng thái thanh khoản khác:
o Chỉ số dự trữ thanh toán/tổng tài sản Có
o Tổng dư nợ/tổng tiền gửi
o Tỷ lệ khả năng chi trả
o Tiền đi vay/ tổng tài sản
o Chỉ tiêu cơ cấu tiền gửi
o Chỉ tiêu chứng khoán thanh khoản
o Cam kết tín dụng/tổng tài sản
o Chỉ số nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn
o Chỉ tiêu tiền gửi thường xuyên
1.2.2 Các chiến lược quản trị thanh khoản
a) Quản trị rủi ro thanh khoản tài sản - chiến lược dự trữ:
Trong chiến lược này, ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao, chủ yếu là tiền mặt và các chứng khoán dễ bán Khi nhu cầu thanh khoản xuất hiện, ngân hàng sẽ sử dụng phần dự trữ tiền mặt vượt quá và tiến hành bán một số tài sản cho tới khi toàn bộ nhu cầu được đáp ứng
Để quản trị rủi ro thanh khoản theo chiến lược này, ngân hàng có thể lựa chọn những tài sản:
Các khoản dự trữ ngân quỹ, bao gồm:
o Dự trữ bắt buộc
o Dự trữ thanh toán (dự trữ sơ cấp)
Trang 7 Dự trữ ngoài ngân quỹ (dự trữ thứ cấp): các khoản dự trữ này chủ yếu tập trung vào việc đầu tư chứng khoán có tính lỏng cao, dễ chuyển đổi thành tiền để đáp ứng nhu cầu thanh khoản khi cần thiết như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, thương phiếu chấp nhận thanh toán, giấy nợ ngắn hạn,…
b) Quản trị rủi ro thanh khoản nợ - chiến lược huy động:
Trong phương pháp này, đại bộ phận các thiếu hụt thanh khoản của ngân hàng được đáp ứng bằng cách đi vay mượn dưới các hình thức Do đó, chiến lược này còn được gọi là chiến lược “vay thanh khoản” Một số hình thức được sử dụng trong chiến lược này là:
Tạo thanh khoản từ việc đi vay: các khoản vay từ các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng và/hoặc vay từ cửa sổ chiết khấu của NHNN
Tạo thanh khoản qua tiền gửi: đó là việc ngân hàng nhận tiền gửi của các cá nhân nhân và tổ chức kinh tế dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác
Tạo thanh khoản qua thị trường tiền tệ/thị trường vốn: các ngân hàng phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước
c) Quản trị rủi ro thanh khoản kết hợp:
Theo chiến lược quản lý thanh khoản phối hợp, một phần nhu cầu thanh khoản dự tính sẽ được đáp ứng bằng việc dự trữ tài sản thanh khoản trong khi phần còn lại của nhu cầu thanh khoản sẽ được giải quyết bằng việc vay thanh khoản
Các nhu cầu thanh khoản của NHTM được chia thành 3 bộ phận: nhu cầu thanh khoản thường xuyên, nhu cầu thanh khoản thời vụ và nhu cầu thanh khoản đột xuất
Các nhu cầu thanh khoản thường xuyên phát sinh khá thường xuyên, đều đặn hàng ngày, tương đối ổn định nên ngân hàng có thể dự đoán và kế hoạch hóa được, các nhu cầu này được đáp ứng bằng các tài sản có dự trữ dưới dạng tiền mặt, tiền gửi, các giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao
Các nhu cầu thanh khoản thời vụ tuy không phát sinh thường xuyên nhưng NHTM
có thể dự đoán và kế hoạch hóa được, do đó NHTM thường chủ động kí các cam kết, các hợp đồng vay vốn trước với các tổ chức tín dụng khác, xác định trước khối lượng, thời hạn, lãi suất phải trả Do chủ động kí kết hợp đồng vay mượn trước nên phương án này khắc phục được nhược điểm của 2 phương án trên
Trang 8 Các nhu cầu thanh khoản phát sinh đột xuất, bất ngờ không thể dự đoán trước được, buộc NHTM phải vay mượn trên thị trường tiền tệ để đáp ứng
1.3 Vai trò của quản trị rủi ro thanh khoản đối với hoạt động của NHTM
Thứ nhất, do có sự đánh đổi giữa khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng nên quản trị thanh khoản tốt sẽ giúp giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh đồng thời vẫn đảm bảo được khả năng sinh lời cần thiết
Thứ hai, nếu rủi ro thanh khoản xảy ra sẽ để lại những hậu quả to lớn:
Làm tăng chi phí do ngân hàng phải huy động với lãi suất cao hơn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản (mua thanh khoản trên thị trường); giảm thu nhập do ngân hàng phải bán các chứng khoán hoặc các tài sản khác với giá thấp Hậu quả dẫn đến giảm giá trị thị trường vốn chủ sở hữu của NHTM
Nếu thiếu vốn khả dụng kéo dài, chậm được khắc phục có thể làm mất uy tín của ngân hàng trên thị trường, gây sức ép và trở ngại cho quá trình huy động vốn và cho vay, giảm thấp khả năng sinh lời Mức độ nghiêm trọng hơn là xảy ra hiệu ứng dây chuyền bằng hiện tượng rút tiền ồ ạt của người gửi tiền, có thể đẩy NHTM đến bờ vực phá sản và dẫn đến sụp đổ hệ thống ngân hàng
Thứ ba, trong các trường hợp đặc biệt, rủi ro thanh khoản đẩy ngân hàng vào tình trạng mất khả năng thanh toán và đưa ngân hàng đối mặt với khả năng bị phá sản, bị bán hoặc bị sáp nhập Hơn nữa, rủi ro thanh khoản mang tính hệ thống, có thể đe dọa đến sự ổn định của cả hệ thống tài chính
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT
2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) tiền thân là Ngân hàng Liên Việt (LienVietBank) được thành lập theo Giấy phép thành lập và hoạt động số 91/GP-NHNN ngày 28/03/2008 của Thống đốc NHNN Việt Nam với vốn chủ sở hữu ở mức 3.447 tỷ đồng
Năm 2011, với việc VNPost góp vốn vào LienVietBank bằng giá trị Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện và bằng tiền mặt, Ngân hàng Liên Việt đã được Thủ tướng Chính phủ và Thống
Trang 9đốc NHNN Việt Nam cho phép đổi tên thành Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt Cùng với việc đổi tên này, VNPost chính thức trở thành cổ đông lớn nhất của LienVietPostBank
Cổ đông sáng lập của LienVietPostBank là Công ty Cổ phần Him Lam, Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (SATRA) và Công ty dịch vụ Hàng không sân bay Tân Sơn Nhất (SASCO) Hiện nay, với số vốn điều lệ 6.594 tỷ đồng, LienVietPostBank hiện là một trong mười Ngân hàng TMCP lớn nhất tại Việt Nam
Các cổ đông và đối tác chiến lược của LienVietPostBank là các tổ chức tài chính - ngân hàng lớn đang hoạt động tại Việt Nam và nước ngoài như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Wells Fargo (Mỹ), Ngân hàng Credit Suisse (Thụy Sỹ), Công ty Oracle Financial Services Software Limited…
LienVietPostBank định hướng xây dựng thương hiệu mạnh trên cơ sở phát huy nội lực, hoạt động minh bạch, gắn xã hội trong kinh doanh Mục tiêu trở thành “Ngân hàng bán lẻ hàng đầu của Việt Nam - Ngân hàng của mọi người”
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh trong thời gian gần đây
a) Kết quả hoạt động kinh doanh:
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh
Đơn vị: %
B- Các chỉ tiêu tài chính cơ bản 2008 2009 2010 2011
Tỷ lệ LNST/TTS bình quân (ROAA) 5,96 4,35 2,61 2,14
Tỷ lệ LNST/VCSH bình quân (ROAE) 12,88 14,85 17,22 18,26
Trang 10đa năng trên phạm vi toàn quốc Ngoài ra, ngân hàng cũng đang trong giai đoạn triển khai một loạt dự án công nghệ quan trọng, gồm dự án Thẻ, dự án Trung tâm dữ liệu, và dự án Ngân hàng Điện tử…
Về sản phẩm, dịch vụ: thực hiện thành công việc phát hành thẻ Liên kết phát triển (thẻ ghi nợ nội địa) - đây là sản phẩm thẻ đầu tiên của LienVietPostBank, tiến hành kết nối với 3 liên minh thẻ để thực hiện giao dịch được tại hơn 16.600 máy ATM trên toàn quốc Các dịch vụ tiện ích như SMS Banking, Internet Banking cũng đã được cải tiến, nâng cấp để cung cấp được nhiều tính năng hơn, đáp ứng yêu cầu sử dụng các dịch vụ hiện đại ngày càng cao của khách hàng
c) Hoạt động quản trị rủi ro:
Nhiệm vụ quản trị rủi ro tại ngân hàng được thực hiện chủ yếu bởi Khối PC, QLRR và PCRT với yêu cầu đảm bảo đánh giá và kiểm soát được các rủi ro trọng yếu của hoạt động ngân hàng, bao gồm (nhưng không giới hạn): rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi
ro hoạt động và công tác phòng chống rửa tiền
Tuy nhiên do ngân hàng còn mới thành lập nên hệ thống quy trình, quy chế làm cơ sở pháp lý cho hoạt động quản trị rủi ro còn chưa đầy đủ và bài bản Hệ thống công nghệ chưa thể
hỗ trợ toàn diện cho công tác quản trị rủi ro Vì vậy, trong năm 2012, LienVietPostBank đang tích cực hoàn thiện, chỉnh sửa khung chính sách và chiến lược quản trị rủi ro phù hợp để hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như hướng tới mục tiêu phù hợp với các chuẩn mực quốc tế
d) Phát triển mạng lưới
Trong năm 2011, ngân hàng mở thêm 16 điểm giao dịch trên phạm vi toàn quốc, đưa tổng số điểm giao dịch của ngân hàng lên 60 và hiện tại, LienVietPostBank đã có mặt tài 21 Tỉnh/Thành phố
Trang 11Bằng việc hợp tác với VNPost và triển khai cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua hệ thống mạng lưới bưu chính trên toàn quốc (hiện tại trên 10.000 điểm), LienVietPostBank
đã trở thành một trong những TCTD có mạng lưới rộng nhất cả nước
2.2 Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt
2.2.1 Khuôn khổ pháp l ý của hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản
a) Quy định của NHNN Việt Nam:
Thông tư 13/2012/TT/NHNN “Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Tổ chức tín dụng” (Thông tư 13): Thông tư 13 được NHNN ban hành vào ngày 20/05/2010, có hiệu lực từ ngày 01/10/2010, gồm 22 điều, đề cập đến nhiều vấn
đề liên quan đến mức độ an toàn của các TCTD, trong đó có một số điểm mấu chốt như sau: (i) Tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR); (ii) hạn chế việc tham gia của các TCTD vào các hoạt động liên quan đến chứng khoán và kinh doanh bất động sản; (iii) tăng cường quy định về đảm bảo khả năng thanh khoản của các TCTD
Thông tư 15/2009/TT-NHNN “Quy định về tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn đối với Tổ chức tín dụng” (Thông tư 15): Thông tư 15 được NHNN ban hành ngày 10/08/2009, trong đó quy định các NHTM chỉ được sử dụng tối đa 30% vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn (so với quy định cũ tại QĐ 457 là 40%) Quy định này ra đời buộc các NHTM phải cơ cấu lại danh mục tài sản Nợ - tài sản Có cho phù hợp, đảm bảo an toàn thanh khoản
b) Quy định của LienVietPostBank:
Quy chế về Chính sách quản l ý rủi ro: quy chế này được Hội đồng quản trị ban hành vào ngày 05/07/2010 nhằm xây dựng một khuôn khổ thống nhất về quan niệm, cơ chế hoạt động quản lý, công cụ đo lường và các giới hạn kiểm soát rủi ro cơ bản trong hoạt động quản lý rủi ro
Dự thảo Quy định về Quản l ý rủi ro thanh khoản: dựa trên Quy chế về Chính sách quản lý rủi ro, ngân hàng đã xây dựng dự thảo Quy định về quản lý rủi ro thanh khoản Theo đó, quy định đề cập rõ quy trình, công cụ quản trị rủi ro thanh khoản cũng như trách nhiệm, quyền hạn của các bộ phận có liên quan trong hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản Tuy nhiên, sau một thời gian tương đối dài dự thảo quy định này vẫn chưa được ban hành chính thức trên toàn hệ thống
2.2.2 Chiến lược quản trị thanh khoản
Trang 12Theo xu hướng chung hiện nay, ngân hàng cũng sử dụng chiến lược quản trị thanh khoản hỗn hợp để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của mình
Trên thực tế các ngân hàng ở Việt Nam, trong đó có LienVietPostBank chủ yếu đáp ứng các nhu cầu thanh khoản phát sinh thông qua các hình thức chủ yếu sau:
a) Dự trữ tiền mặt, tiền gửi tại tại NHNN và các TCTD khác (quản trị thanh khoản dự trữ):
nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn vốn thường xuyên, đều đặn hàng ngày của toàn hệ thống như chuyển tiền thanh toán, các món giải ngân có quy mô nhỏ…
b) Vay ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng và/hoặc vay ngắn hạn NHNN (dưới các hình thức đấu thầu thị trường mở (OMO), vay tái cấp vốn trong trường hợp cấp thiết (quản trị thanh khoản nợ): các phương án này được sử dụng khi ngân hàng phát sinh các nhu cầu nguồn
vốn đột xuất với khối lượng lớn và lượng tài sản dự trữ vẫn không đủ đáp ứng Tuy nhiên hình thức vay vốn NHNN chỉ được sử dụng khi thị trường liên ngân hàng gặp khó khăn, khó có thể
tiếp cận
c) Tăng cường huy động vốn từ khách hàng: nguồn vốn huy động từ khách hàng tăng nhiều
hay ít phụ thuộc phần lớn vào gói sản phẩm của ngân hàng có linh hoạt, đa dạng và đem lại
nhiều tiện ích cho khách hàng hay không
d) Ngoài ra trong trường hợp đặc biệt, ngân hàng còn có thể bán tài sản của mình để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, ví dụ như bán ngoại tệ (hiếm khi sử dụng vì nó ảnh hưởng đến trạng
thái ngoại tệ của TCTD) Đối với các tài sản khác như chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán (trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp…) hầu hết có kỳ hạn tương đối dài, giao dịch trên thị trường sẽ mất nhiều thời gian hơn nên cũng ít khi được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản cấp bách Và trên thực tế, cũng ít khi ngân hàng sử dụng phương án bán tài sản mà chỉ cầm cố chúng làm tài sản bảo đảm để vay vốn mà thôi Nguyên nhân của việc các ngân hàng ít sử dụng phương án bán tài sản nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản một phần xuất phát từ yêu tố chủ quan
là các tài sản ngân hàng nắm giữ thường là các chứng khoán đầu tư (kỳ hạn dài, nắm giữ đến lúc đáo hạn) Tuy nhiên nguyên nhân phần lớn do yếu tố khách quan là thị trường chứng khoán thứ cấp ở Việt Nam chưa phát triển, các giao dịch mua/bán diễn ra không sôi động và nhanh chóng, trong khi nhu cầu thanh khoản của Ngân hàng là khẩn cấp
Như vậy, hiện tại LienVietPostBank đang sử dụng hài hòa chiến lược quản trị thanh khoản
dự trữ và thanh khoản nợ để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của toàn hệ thống Chiến lược quản trị thanh khoản hỗn hợp này được sử dụng tương đối hiệu quả
Trang 13Trường hợp thanh khoản của ngân hàng cực kỳ khó khăn, việc tiếp cận vốn vay trên thị trường liên ngân hàng cũng không hề dễ dàng (dịp cuối năm), ngân hàng còn sử dụng phương án hạn chế giải ngân mới Tuy nhiên phương pháp này chỉ được dung trong trường hợp bất khả kháng vì nó sẽ ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng và lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng
2.2.3 Nội dung hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản
a) Nhân sự và tổ chức:
Các Đơn vị/bộ phận tham gia vào hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản bao gồm:
Hội đồng quản trị
Ủy ban ALCO, Pháp chế, QLRR & PCRT (thuộc Hội đồng quản trị)
Hội đồng ALCO (trực thuộc Ủy ban ALCO, Pháp chế, QLRR & PCRT)
Tổng Giám đốc
Phòng ALM – Khối Tài chính
Các Khối/Phòng/Ban tại Hội sở
b) Quy trình:
Bước 1: Nhận diện rủi ro thanh khoản: để hoạt động quản trị rủi ro đạt được hiệu quả cao nhất, ngân hàng phải nhận diện được rủi ro thanh khoản có thể phát sinh và rủi ro tiềm ẩn để chủ động đối phó và có phương án xử lý phù hợp, hiệu quả
Bước 2: Đo lường rủi ro thanh khoản: sau khi nhận diện rủi ro thanh khoản ngân hàng sẽ gặp phải, nhà quản trị rủi ro thanh khoản tiến hành đo lường rủi ro thanh khoản để xem xét mức độ nghiêm trọng mà rủi ro thanh khoản có thể tác động đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đo lường rủi ro thanh khoản phải đảm bảo cả
đo lường định tính và đo lường định lượng tác động của nó đến hoạt động của ngân hàng Việc đo lường rủi ro được thực hiện qua các công cụ đo lường rủi ro thanh khoản
Bước 3: Xử l ý rủi ro thanh khoản: rủi ro thanh khoản được nhận diện và đo lường ở bước 1 và bước 2 Sau đó các nhà quản trị rủi ro thanh khoản phải tìm biện pháp xử lý rủi ro thanh khoản Yêu cầu của bước này là phải nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhằm hạn chế tối đa tổn thất phát sinh cho ngân hàng
Bước 4: Giám sát rủi ro: việc giám sát rủi ro thanh khoản được cụ thể hóa như sau:
o Các hạn mức rủi ro thanh khoản được thiết lập và đảm bảo sự tuân thủ hạn mức
do Ủy ban ALCO, Pháp chế, QLRR và PCRT phê duyệt;
Trang 14o Khi các hạn mức bị vi phạm và/hoặc có xu hướng diễn biến xấu đi cần báo cáo cho Ban Tổng Giám đốc, Ủy ban ALCO, Pháp chế, QLRR và PCRT để xử lý kịp thời, đảm bảo an toàn cho ngân hàng;
o Khi các hạn mức liên tục bị vi phạm và ngân hàng gặp phải khủng hoảng khả năng thanh toán thì Hội đồng quản trị trực tiếp chỉ đạo các biện pháp xử lý
Công cụ:
o Báo cáo MCO
o Báo cáo ALCO định kỳ
o Hạn mức và các tỷ lệ thanh khoản:
Các tỷ lệ theo quy định của NHNN:
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR)
Tỷ lệ giữa Tổng tài sản Có thanh toán ngay và Tổng nợ phải trả
Tỷ lệ giữa Tổng tài sản Có đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ hôm sau và Tổng tài sản Nợ đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo
Tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động
Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn
Các tỷ lệ về cơ cấu tài sản:
Tỷ lệ vốn khả dụng/Tổng tài sản
Tỷ lệ tài sản lỏng/Tổng tài sản
Tỷ lệ chứng khoán đầu tư/Tổng tài sản
Tỷ lệ Giấy tờ có giá có thể chiết khấu, tham gia thị trường mở/Tổng tài sản
Tỷ lệ cho vay/ Tổng tài sản
Các tỷ lệ về cơ cấu nguồn:
Tỷ lệ nguồn vốn huy động từ thị trường 2/Tổng nguồn vốn
Tỷ lệ nguồn vốn huy động từ khách hàng/Tổng nguồn vốn huy động