Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong điều kiện mở cửa và hội Abstract: Khái quát về ngân hàng thương mại và vai trò của nguồn vốn huy động đối với hoạt động
Trang 1Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong điều kiện mở cửa và hội
Abstract: Khái quát về ngân hàng thương mại và vai trò của nguồn vốn huy động đối với
hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM), chất lượng huy động vốn và tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến hoạt động huy động vốn của NHTM Phân tích thực trạng hoạt động huy động vốn tại Sở Giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giai đoạn
từ 2002 đến nay, cụ thể về quy mô và cơ cấu của nguồn vốn huy động, độ đa dạng của các hình thức huy động vốn, tính thanh khoản và sự phù hợp giữa huy động vốn và sử dụng vốn, chi phí huy động vốn và khả năng tiết kiệm chi phí Đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân tồn tại của hoạt động này Đề xuất định hướng và một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng huy động vốn: nhóm giải pháp đối với sản phẩm, giải pháp về dịch vụ và công nghệ; điều hành chính sách lãi suất linh hoạt, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn, nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường, cải thiện cơ cấu nguồn vốn, xây dựng hệ thống thu thập và xử lý thông tin hiệu quả
Keywords: Huy động vốn; Hội nhập kinh tế quốc tế; Ngân hàng thương mại; Tiền tệ
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế Vì vậy, trong giai đoạn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, việc đẩy mạnh huy động vốn qua hệ thống ngân hàng là một tất yếu
Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra cho các ngân hàng không chỉ là việc tăng khối lượng vốn huy động để phục vụ cho nhu cầu mở rộng cho vay và đầu tư mà quan trọng hơn là việc đảm bảo tính
Trang 2hiệu quả và sự an toàn trong kinh doanh, đồng thời góp phần thực hiện chính sách tiền tệ của NHNN, ổn định tình hình tiền tệ trong nước
Cùng với việc gia nhập WTO, ngành tài chính – ngân hàng của Việt Nam đứng trước một vận mệnh mới, đó là sự tự do hoá thương mại trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng Mức độ cạnh tranh ngày một cao sẽ khiến cho các ngân hàng phải tìm cách phát huy lợi thế so sánh của mình
để tồn tại và phát triển Để đối mặt với những ngân hàng nước ngoài với tiềm lực kinh tế cùng với các kinh nghiệm quản lý và khả năng cung cấp dịch vụ tốt hơn và chuyên nghiệp hơn, hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam không còn con đường nào khác là phải xây dựng được cho mình một mô hình ngân hàng hoạt động theo chuẩn mực quốc tế nhưng vẫn phát huy được bản sắc của mình
Là một trong số các ngân hàng thương mại lớn, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế và đang phấn đấu trở thành một ngân hàng tầm cỡ trong khu vực, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đang nỗ lực để khẳng định vị thế của mình Để đạt được mục tiêu này, trước tiên, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phải chuẩn bị cho mình một nền tảng vốn vững mạnh, từ đó làm điểm tựa để Ngân hàng triển khai các hoạt động nhằm tăng sức cạnh tranh của mình Nền tảng vốn vững mạnh không chỉ được xem xét dưới góc độ quy mô mà cần phải quan tâm hơn nữa đến mặt chất lượng của nguồn vốn huy động
Trên cơ sở lý luận về huy động vốn và chất lượng huy động vốn của hệ thống ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường và trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với việc phân tích thực trạng hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong
quá trình hội nhập, luận văn này xin được đề cập đến “Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”
2 Tình hình nghiên cứu
Từ trước đến nay, liên quan đến vấn đề huy động vốn cho hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu song chủ yếu mới tập trung vào việc đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút vốn cho các ngân hàng nói chung mà chưa đề cập cụ thể đến một ngân hàng thương mại nào Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã tiến hành nghiên cứu tập trung chủ yếu vào thực trạng huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giai đoạn từ 2003 – 2007 Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị đối với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước nhằm nâng cao hoạt động huy động vốn, đặc biệt là về chất lượng huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nói riêng và hệ thống ngân hàng thương mại nói chung
Trang 33 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận cho việc xác lập các hình thức huy động vốn của hệ thống ngân hàng thương mại trong điều kiện nền kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập
- Phân tích thực trạng hoạt động của việc huy động vốn tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn 2003 – 2007, từ đó đưa ra những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân
- Đưa ra những kiến nghị và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng huy động và sử dụng vốn tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các hình thức huy động vốn và chất lượng huy động vốn của hệ thống ngân hàng thương mại nói chung và của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nói riêng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
5 Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học: phép biện chứng duy vật, phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh, kết hợp lý luận và thực tiễn, kết hợp sử dụng các bảng số liệu, đồ thị minh họa
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Thông qua phân tích tình hình, thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, luận văn sẽ chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân, từ đó đưa ra giải pháp giúp Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đa dạng hoá các phương thức huy động vốn và nâng cao chất lượng huy động vốn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, lựa chọn cách thức phù hợp
để không ngừng nâng cao vị thế và sức cạnh tranh của mình trong điều kiện kinh tế thị trường,
mở cửa và hội nhập
Trang 47 Bố cục của luận văn
Bố cục của luận văn gồm ba chương
Chương 1: Ngân hàng thương mại và vai trò của nguồn vốn huy động đối với hoạt động
của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp giải pháp nâng cao chất lượng huy động vốn tại Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam
CHƯƠNG 1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Chương 1 luận văn tập trung nêu rõ khái niệm, vai trò và các hoạt động ngân hàng hàng thương mại; các chỉ tiêu biểu hiện chất lượng huy động vốn và tác động của hội nhập quốc tế đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.1 Vai trò của nguồn vốn huy động đối với hoạt động của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm, vai trò và các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại trong nền kinh
tế
1.1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng thương mại là một loại doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, thực hiện hai nghiệp vụ cơ bản:
- Nhận tiền gửi của khách hàng (cá nhân, tổ chức) với trách nhiệm hoàn trả lại
- Sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và thực hiện các nghiệp vụ khác Ngân hàng thương mại cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong lĩnh vực kinh tế
1.1.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
- Thông qua hoạt động huy động vốn và cho vay, ngân hàng thương mại đã đảm bảo được nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp có điều kiện sản xuất, kinh doanh
- Các ngân hàng thương mại góp phần tăng cường hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
- Thứ ba, ngân hàng thương mại bằng hoạt động của mình đã thực hiện việc phân bổ vốn giữa các vùng, qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng trong một quốc gia
Trang 5- Thứ tư, tích luỹ vốn từ các ngân hàng tạo tiềm lực tài chính cho những bước đột phá về công nghệ và đời sống xã hội
- Thứ năm, hệ thống ngân hàng hoạt động có hiệu quả góp phần thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia như ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế
1.1.1.3 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
- Hoạt động huy động vốn (nhận tiền gửi): là hoạt động đầu tiên và quan trọng của ngân hàng vì nhờ nó mà ngân hàng tạo ra nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của mình
- Hoạt động sử dụng vốn: bao gồm cho vay (tín dụng), đầu tư, cho thuê tài chính
- Hoạt động thanh toán: ngân hàng thực hện các dịch vụ thanh toán để đáp ứng nhu cầu thanh toán của nền kinh tế
- Các hoạt động khác: quản lý ngân quỹ, dịch vụ bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, chứng khoán,
1.1.2 Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
- Huy động từ dân cư: bao gồm tiền gửi tiết kiệm, tài khoản tiền gửi cá nhân, phát hành chứng từ có giá ra công chúng
- Huy động từ doanh nghiệp: gồm hai hình thức: tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn từ các doanh nghiệp
- Huy động từ các tổ chức tín dụng: vay từ ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính tín dụng khác; vay Ngân hàng Nhà nước; nguồn vốn tài trợ, uỷ thác
1.1.2.2 Vai trò của nguồn vốn huy động đối với hoạt động của ngân hàng thương mại
- Thứ nhất, vốn huy động là cơ sở để ngân hàng chủ động trong kinh doanh Các ngân
hàng có lượng vốn dồi dào sẽ có ưu thế trong việc tài trợ cho các hợp đồng lớn và dài hạn không chỉ trong lĩnh vực cho vay và đầu tư mà còn trong các lĩnh vực khác như bảo lãnh, đồng tài trợ, thuê mua tài chính, kinh doanh ngoại tệ,… Tương tự như vậy, trong hoạt động thanh toán các ngân hàng có nhiều vốn sẽ dễ dàng thực hiện việc thanh toán, chi trả của mình
- Thứ hai, vốn huy động đảm bảo uy tín, tăng năng lực cạnh tranh của ngân hàng Một
ngân hàng có nguồn vốn lớn, linh hoạt sẽ đảm bảo cho ngân hàng khả năng thanh toán, chi trả cho khách hàng, sẵn sàng cung ứng các dịch vụ khách hàng yêu cầu
- Thứ ba, vốn huy động ảnh hưởng đến quy mô, chất lượng tín dụng Vốn của ngân hàng
quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng Các ngân hàng nhỏ có khoản mục
Trang 6đầu tư và cho vay kém đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng cho vay nhỏ hơn Trong khi đó, các ngân hàng lớn sẽ có thuận lợi hơn trong việc tài trợ cho hoạt động tín dụng, đầu tư và có nhiều
cơ hội mở rộng hoạt động Hơn nữa, các khách hàng lớn thường có xu hướng tìm đến các ngân hàng có nguồn vốn lớn với nhiều dịch vụ
- Thứ tư, vốn huy động ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vốn
huy động ổn định, cơ cấu vốn hợp lý phù hợp với cơ cấu sử dụng vốn và đảm bảo việc sử dụng vốn hiệu quả sẽ góp phần tối đa hoá lợi nhuận của ngân hàng
1.2 Chất lượng huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.2.1 Quan niệm về chất lượng huy động vốn của ngân hàng thương mại
Hoạt động của ngân hàng thương mại cũng như mọi hoạt động kinh tế khác đều bao hàm hai mặt chất lượng và số lượng
Số lượng được biểu hiện bằng doanh số, khối lượng và nhiều chỉ tiêu định lượng khác Nếu coi “chất lượng là sự phù hợp với mục đích và sự sử dụng” ta có thể hiểu “Chất lượng huy động vốn và sự phù hợp giữa khả năng huy động vốn và nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng”
1.2.2 Các chỉ tiêu biểu hiện chất lượng huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Tính ổn định của quy mô và cơ cấu của nguồn vốn huy động
Tính ổn định của nguồn vốn được thể hiện qua khối lượng, cơ cấu nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng và xu hướng biến đổi của nguồn vốn đó
Khối lượng và cơ cấu nguồn vốn được xem là căn cứ quan trọng để hoạch định chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Cơ cấu vốn hợp lý sẽ đáp ứng được các hoạt động nghiệp vụ mang tính đặc thù của ngân hàng
Mức độ tăng trưởng vốn hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng quản lý được chi phí và tính thanh khoản, giúp ngân hàng tránh được nguy cơ ứ đọng hoặc thiếu hụt về vốn
1.2.2.2 Sự đa dạng của các hình thức huy động vốn
- Sự đa dạng của các công cụ huy động vốn
- Sự đa dạng về kỳ hạn và lãi suất
- Sự đa dạng về các loại tiền tệ
1.2.2.3 Tính thanh khoản của nguồn vốn huy động
Tính thanh khoản là khả năng chuyển đổi nhanh chóng một tài sản nào đó thành tiền mặt
có giá trị tương được với giá trị thị trường hiện tại của tài sản để chủ sở hữu thực hiện các nghĩa
Trang 7vụ nợ của mình Một ngân hàng có tính thanh khoản cao là một ngân hàng có thể đáp ứng một cách dễ dàng các nhu cầu tiền mặt hoặc chuyển đổi một tài sản ra tiền mặt một cách nhanh chóng
để thực hiện việc chi trả của mình với khách hàng hoặc các nhu cầu về tiền mặt khác
1.2.2.4 Chi phí huy động vốn
Chi phí huy động vốn của ngân hàng bao gồm chi phí trả lãi và các khoản chi phí khác trong đó chi phí trả lãi là khoản chi lớn nhất Từ việc tính chi phí cụ thể cho từng nguồn, ngân hàng sẽ xác định được nguồn vốn nào rẻ hơn hoặc có nên thay đổi lãi suất hay không, từ đó sẽ có quyết định lựa chọn nguồn vốn nào phù hợp Nếu có một chính sách lãi suất đúng đắn, ngân hàng sẽ tối thiểu hoá được chi phí trong khi vẫn hoàn thành kế hoạch về vốn
1.3 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
Các nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng
- Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
- Lãi suất ngân hàng
- Cơ sở vật chất và đội ngũ nhân viên
- Các dịch vụ do ngân hàng cung ứng
- Uy tín của ngân hàng
Các nhân tố thuộc về khách hàng
- Thu nhập của dân cư
- Tâm lý của người gửi tiền
- Đặc điểm của doanh nghiệp (đối với khách hàng là doanh nghiệp)
Các nhân tố thuộc về nền kinh tế
- Pháp luật chính sách của Nhà nước
- Tình trạng của nền kinh tế
- Điều kiện thị trường và cạnh tranh
1.3.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
Hội nhập quốc tế trong hoạt động ngân hàng tạo động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và cải cách ngành ngân hàng của Việt Nam Cải cách thành công sẽ giúp cho hoạt động ngân hàng của Việt Nam phù hợp hơn với các chuẩn mực quốc tế, nâng cao uy tín và hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng đồng nghĩa với chấp nhận những
Trang 8thách thức và rủi ro Những thách thức đó có tác động trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại
- Tác động đến quy mô vốn của hệ thống ngân hàng thương mại: để tham gia được vào quá trình hội nhập các ngân hàng thương mại cần phải tiến hàng cơ cấu lại nguồn vốn do hiện nay năng lực tài chính của nhiều ngân hàng còn yếu dẫn đến mức cạnh tranh kém
- Tác động đến các sản phẩm, dịch vụ và công nghệ ngân hàng Đây là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng Hiện nay, các dịch vụ ngân hàng của Việt Nam còn kém đa dạng, chưa tiện lợi, chưa hấp dẫn, chủ yếu vẫn là các nghiệp vụ, sản phẩm truyền thống Do đó, trước bối cảnh hội nhập quốc tế, các ngân hàng cần có sự đầu tư lớn
về công nghệ, đưa ra các sản phẩm dịch vụ mới đáp ứng yêu cầu đa dạng của khách hàng, từ đó
sẽ nâng cao được số lượng cũng như chất lượng vốn huy động
- Tác động đến chất lượng nguồn nhân lực của hệ thống ngân hàng Chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định đến số lượng, chất lượng sản phẩm dịch vụ của một ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng vốn của ngân hàng Một ngân hàng muốn phát triển, mở rộng hoạt động của mình cần phải có nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, đáp ứng được yêu cầu của hội nhập quốc tế
- Tác động đến chiến lược kinh doanh của các ngân hàng
- Tác động đến yếu tố tâm lý khách hàng Khi hội nhập, dân cư sẽ có nhiều lựa chọn hơn trong việc gửi tiền vào các ngân hàng thương mại trong nước hay ngân hàng thương mại nước ngoài Do đó, để thu hút nhiều vốn cho hoạt động của mình, các ngân hàng thương mại cần có chính sách khách hàng hợp lý với mức lãi suất hấp dẫn, các sản phẩm đa dạng đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của khách hàng
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Chương 2 khái quát tình hình hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, tập trung vào thực trạng hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương trong giai đoạn 2003 – 2007 từ đó đưa ra đánh giá về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương
2.1 Khái quát tình hình hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Trang 9- Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thành lập ngày 01/04/1963 trên cơ sở Cục Ngoại hối trực thuộc NHNN Việt Nam theo Nghị định số 115/cp ngày 31/10/1962 của Hội đồng Chính
phủ
- Qua 45 năm hình thành và phát triển, đến nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phát triển thành một hệ thống vững mạnh với 59 chi nhánh; thành lập 3 công ty và 1 trung tập
đào tạo trong nước; 1 công ty tài chính ở Hồng Kông và 3 văn phòng đại diện ở nước ngoài; góp
vốn vào 5 liên doanh, 7 tổ chức tín dụng và 10 tổ chức kinh tế
2.1.2 Thực trang hoạt động kinh doanh của NHNTVN
2.1.2.1 Nguồn vốn
Nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương trong thời gian qua tăng trưởng liên tục Năm
2002 tốc độ tăng là 5,8%; năm 2003 là 19%; năm 2004 là 22,8%; năm 2005 là 19,8%; năm 2006
là 23,3% và năm 2007 là 14,1% Tính đến 31/12/2007, tổng nguồn vốn của NHNT là 196.117 tỷ
Vốn tín dụng của NHNt đã đến với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Tổng
dư nợ tín dụng cuối năm 2007 đạt 95.908 tỷ đồng, tăng gấp 6 lần so với năm 2000 (15.634 tỷ
Trang 10đồng) Chất lượng tín dụng được cải thiện rõ rệt, nợ quá hạn mới phát sinh nằm trong vòng khống chế của ngân hàng Tính đến cuối năm 2007, tỷ lệ nợ quá hạn chỉ còn 1,3% so với tổng dư
nợ (thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu 3%)
b Đầu tư
NHNT đã tiến hành đầu tư có hiệu quả vào các liên doanh, tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế với mức đầu tư đạt 923 tỷ VNĐ Ngoài ra, NHNT còn đầu tư vào các dự án lớn trọng điểm của Nhà nước như dự án Nam Côn Sơn, khí điện đạm Phú Mỹ,
2.1.2.3 Các hoạt động khác
a Thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế được coi là thế mạnh của Ngân hàng Ngoại thương Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu năm 2007 đạt 26.323 triệu USD, tăng 3.523 triệu USD - tức tăng 15,5% (cao hơn mức tăng 9% của năm 2006), chiếm 24,1% thị phần cả nước
Thanh toán xuất khẩu: Doanh số thanh toán xuất khẩu trong năm 2007 đạt 14.163
triệu USD tăng 1.463 triệu USD, tăng 11,5% so với năm 2006
Thanh toán nhập khẩu: Doanh số thanh toán nhập khẩu năm 2007 đạt 12.160 triệu
USD, tăng 2.060 triệu USD, tương ứng 20,4% so với năm 2006
b Kinh doanh ngoại tệ
Tổng doanh số mua bán ngoại tệ của NHNT trong năm 2007 đạt 26,1 tỷ USD tăng 4,5 tỷ USD tương đương 20,9% so với năm 2006, trong đó: tổng doanh số mua bán ngoại tệ - VND đạt
20 tỷ USD tăng 16,7% so với năm 2006, tổng doanh số mua bán ngoại tệ - ngoại tệ đạt 6,1 tỷ USD tăng 37,4% so với năm 2006 Lợi nhuận từ kinh doanh ngoại tệ năm 2007 của NHNT đạt khoảng 360 tỷ đồng, tăng 44% so với năm 2006
c Dịch vụ thẻ và các dịch vụ khác
Năm 2007, NHNT đã phát hành 20.842 thẻ tín dụng quốc tế và 892.145 thẻ ghi nợ, tăng tương ứng 118% và 50,8% so với năm 2006, đưa tổng số thẻ do NHNT phát hành lưu hành trên thị trường là 93.290 thẻ tín dụng (chiếm 19,3% thị phần) và 2.403.698 thẻ ghi nợ (chiếm 27,5% thị phần cả nước)
Doanh số sử dụng thẻ do NHNT phát hành năm 2007 đạt 49.547 tỷ đồng, tăng 61,5% so với năm 2006 Doanh số sử dụng thẻ tín dụng quốc tế do NHNT phát hành đạt 1.358 tỷ đồng, tăng 34,1% và chiếm 26% thị phần của cả nước Doanh số sử dụng thẻ ghi nợ đạt 48.189 tỷ đồng, tăng 57,6% so với năm 2006
2.2 Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong thời
Trang 11gian qua
2.2.1 Quy mô và cơ cấu của nguồn vốn huy động
- Vốn của Ngân hàng Ngoại thương bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn huy động và nguồn vốn khác Trong những năm gần đây, tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương đã có sự
tăng trưởng liên tục Năm 2002 tốc độ tăng là 5,8%; năm 2003 là 19%; năm 2004 là 22,8%; năm
2005 là 19,8%; năm 2006 là 23,3% và năm 2007 là 14,1% Từ năm 2002 đến 2007, bình quân
nguồn vốn tăng trưởng với tốc độ hơn 17% đạt trên 196 nghìn tỷ quy VNĐ tính đến 31/12/2007
thấy được tính tự chủ về vốn ngày càng cao của Ngân hàng Ngoại thương Nhờ vào nguồn vốn
huy động được, Ngân hàng Ngoại thương có thể chủ động trong các kế hoạch cho vay, đầu tư,
kinh doanh ngoại tệ và là một nhà cung cấp vốn lớn cho nền kinh tế Bên cạnh đó, nguồn vốn
chủ sở hữu của NHNT cũng tăng qua các năm do Nhà nước và bản thân ngân hàng nhận thấy
được vai trò quan trọng của vốn chủ sở hữu và sự cần thiết phải gia tăng nguồn vốn này trong
quá trình tái cơ cấu cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Nguồn vốn khác của Ngân hàng
Ngoại thương chủ yếu là vốn vay của Ngân hàng Nhà nước Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ
trong tổng nguồn vốn của ngân hàng cũng cho thấy khả năng tự chủ trong kinh doanh của Ngân
hàng Ngoại thương