Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ngoài của Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí PVEP : Abstract: Khái quát một số lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.. Trong những năm qua, ngành
Trang 1Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ngoài của Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí ( PVEP ) :
Abstract: Khái quát một số lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Phân tích
đánh giá thực trạng đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí của PVEP Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài của PVEP
Keywords: Đầu tư trực tiếp nước ngoài; Kinh tế đối ngoại; Đầu tư; Dầu khí
Content
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Đầu tư ra nước ngoài là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu thế của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nhằm mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiếp cận gần khách hàng hơn, tận dụng nguồn tài nguyên, nguyên liệu tại chỗ, tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hoá, tránh được chế độ giấy phép xuất khẩu trong nước
và tận dụng được quota xuất khẩu của nước sở tại để mở rộng thị trường Đồng thời, tăng cường khoa học kỹ thuật, nâng cao năng lực quản lý và trình độ tiếp thị với các nước trong khu vực và trên thế giới
Đối với Việt Nam, song song với mục tiêu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp trong nước đã mở hướng làm ăn ra bên ngoài lãnh thổ, với số lượng dự án cùng vốn đầu tư tăng dần từng năm Xu hướng đầu tư ra nước ngoài đang trở nên khá sôi động, ngày càng có thêm nhiều doanh nghiệp Việt Nam
có khả năng tài chính và quan tâm mở rộng địa bàn hoạt động sản xuất kinh doanh Hơn nữa đầu tư ra nước ngoài đã và đang chuyển từ những dự án có quy mô nhỏ, đầu tư vào các ngành nghề đơn giản sang các dự án có quy mô lớn với các ngành nghề đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ cao hơn.Việc đầu tư ra nước ngoài đã trở thành một xu hướng phát triển
Trang 2mới của các doanh nghiệp Việt Nam, đã có những doanh nghiệp xem đây như một chiến lược phát triển trọng tâm của mình
Trong những năm qua, ngành dầu khí Việt Nam đã có những bước tiến bộ vượt bậc với tổng sản lượng khai thác đạt trên 100 triệu tấn (đứng thứ ba ở khu vực Đông Nam
Á về khai thác dầu thô) và đã triển khai hoạt động một cách toàn diện từ khâu thăm dò khai thác đến tàng trữ, xử lý, vận chuyển, phân phối sản phẩm, lọc hoá dầu và dịch vụ
Từ chỗ hoạt động bằng vốn ngân sách, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã tạo được nguồn tích luỹ đầu tư phát triển, có đóng góp đáng kể cho ngân sách Nhà nước và là nhân tố quan trọng góp phần đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi khủng hoảng trong đầu thập kỷ 90 Tuy nhiên, kết quả thăm dò khai thác dầu khí trong nước những năm qua cho thấy trữ lượng dầu khí của Việt Nam không nhiều, điều kiện khai thác dầu khí ngày càng khó khăn, do vậy trong tương lai nước ta cần có thêm nguồn cung cấp bổ sung từ nước ngoài
Thực hiện đầu tư vào lĩnh vực thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài là triển khai chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng Petrovietnam thành một tập đoàn kinh tế mạnh có hoạt động thăm dò khai thác cả ở trong và ngoài nước, gia tăng trữ lượng dầu khí làm cơ sở cho sự tăng trưởng của ngành, đồng thời góp phần đảm bảo nhu cầu năng lượng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Để triển khai chủ trương chiến lược trên, Petrovietnam đã thống nhất chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận trong Tập đoàn, giao toàn bộ công tác tìm kiếm thăm dò cả trong và ngoài nước cho Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP)
Ngành dầu khí Việt Nam tiềm lực còn yếu so với những “đại gia” trên thị trường thế giới Khi mở cửa, chấp nhận cạnh tranh với những đối thủ lớn này, nếu không có hướng đi phù hợp sẽ rất dễ rơi vào trạng thái bị động, phụ thuộc vào những nguồn tài trợ hay đầu tư từ nước ngoài mà không thể đững vững được trên đôi chân của mình
Công nghệ dầu khí của Việt Nam còn quá lạc hậu, hiện nay các dự án trong nước chỉ là thăm dò khai thác và xuất khẩu dầu thô mà chưa thực hiện được công đoạn chế biến các sản phẩm từ dầu mỏ để thu lợi lớn hơn Điểm yếu này dễ bị các đối tác lợi dụng
để khai thác nguồn tài nguyên của chúng ta dẫn đến nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, để lại hậu quả cho các thế hệ sau Đây là điều mà chúng ta cần tính toán kĩ lưỡng khi tiếp nhận hay trao đổi các dự án dầu khí
Trang 3Sự cạnh tranh từ các công ty dầu khí quốc tế đối với các hoạt động thăm dò ở nước ngoài của PVEP là rất lớn, đặt PVEP vào tình thế khó khăn ngay từ trong giai đoạn tìm dự án đầu tư Để có được những dự án hấp dẫn sẽ rất khó khăn và không có nhiều lựa chọn tốt cho PVEP khi tìm kiếm cơ hội đầu tư ra nước ngoài
Chi phí cho hoạt động dầu khí ngày càng tăng Đơn giá cho 1 tấn dầu để phát hiện
ra, phát triển và khai thác ngày càng cao, dẫn đến nhu cầu vốn cho PVEP sẽ rất lớn, đặt ra nhiều thách thức về thu xếp vốn đầu tư
Vậy để hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí được thuận lợi thì PVEP phải làm gì ? Do đó việc nghiên cứu vấn đề đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của PVEP là rất cần thiết
Trên cơ sở thực tế đã được tìm hiểu tại Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí,
em đã lựa chọn đề tài luận văn : Đầu tư trực tiêp ra nước ngoài của Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí ( PVEP ) : Thực trạng và giải pháp
2 Tình hình nghiên cứu:
* Về sách chuyên khảo, tham khảo có các công trình nghiên cứu tiêu biểu :
- Lý thuyết thương mại và đầu tư quốc tế, Bài giảng cho cao học Nguyễn Anh
Minh (2001)
- Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế, Lê Bộ Lĩnh (2005) nhà xuất bản
chính tri quốc gia
- Quan hệ kinh tế quốc tế, Nguyễn Tuấn Anh (2006) nhà xuất bản chính tri quốc
- Đầu tu trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh tế của Võ Đại Lược và Lê Bộ
Lĩnh (2006) đề cập đến đầu tư trực tiếp trong khu công nghiệp
- Thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia vào Viêt Nam của
Hoàng Thị Bích Loan chủ biên (2008) nhà xuất bản chính trị quốc gia Tác giả đưa ra toàn cảnh bức tranh của TNCs trong dòng lưu chuyển vốn FDI toàn cầu, chiến lược đầu
tư trực tiếp của TNCs, Thực trang đầu tư trực tiếp của TNCs
vào Việt Nam
Trang 4- Thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Đinh Trọng
Thịnh (2006) nhà xuất bản Tài chính Tác giả nêu ra thực trạng và phương hướng hoạt động để thúc đẩy các doanh nghiệp Viêt Nam đầu tư ra nước ngoài
* Về giáo trình :
- Giáo trình quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Trường
ĐHKTQD, Bộ môn KDQTcủa Nguyễn Thị Hường (2004) nhà xuất bản thống kê.Tác giả khái luận chung về quản trị dự án FDI Đại cương về quản trị doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI Quản trị rủi ro trong hoạt động FDI Quản trị thẩm định dự án và triển khai dự án FDI
- Giáo trình đầu tư quốc tế của Phùng Xuân Nhạ (2001) Trình bày những vấn đề
cơ bản về đầu tư trực tiếp
* Các bài báo, bài viết, luận án :
- Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (2002), Chiến lược đầu tư của Petrovietnam trong thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài Nghiên cứu về thực trạng và chiến lược
đầu tư của Petrovietnam trong thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài, tuy nhiên chỉ
dừng lại ở năm 2002
- Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (2002), Bàn về định hướng chiến lược cho sự khởi đầu công cuộc đầu tư thăm dò khai thác dầu khí ra nước ngoài của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
- Luận án tiến sĩ Đỗ Hoàng Long Tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Nghiên cứu tác động của toàn cầu
hoá kinh tế đối với dòng FDI trên thế giới và Việt Nam Xu hướng vận động của dòng FDI toàn cầu và một số giải pháp dối với thu hút FDI vào Việt Nam
- Luận án tiến sĩ Nguyễn Huy Thám Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài
ở các nước Asean và vận dụng vào Việt Nam Tác giả nghiên cứu về thu hút vốn đầu tư
nước ngoài ở các nước Asean và vận dụng vào Việt Nam
- Ảnh hưởng của FDI và chuyển giao công nghệ đến phát triển công nghiệp và xuất khẩu của các nước khu vực Đông Á và Đông Nam Á, Nguyễn Quang (2005) Số 9-
Tr.64-72, Tạp chí nghiên cứu kinh tế
- Những loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại khu vực Đông Á- Đông Nam Á
và kinh nghiệm thu hút vốn FDI của một số quốc gia Trà Ngọc Phong 2004 Số 85
Tr.53-56, Tạp chí Kinh tế và phát triển
Trang 5- Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế xã hội của Việt Nam
Lê Công Toàn (2005) số 6, Tạp chí Tài chính- Tr.19-2
- Tổng công ty Dầu khí Việt Nam với mục tiêu xây dựng thành tập đoàn kinh tế mạnh Nguyễn Bá (2005) số 4, Kinh tế và dự báo
Các công trình nghiên cứu trên đều nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các góc độ và mục đích khác nhau Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu trực tiếp cụ thể về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của PVEP
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, Luận văn tập trung vào nghiên cứu những vấn
đề sau:
- Khái quát một số lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
- Phân tích đánh giá thực trạng đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí của PVEP
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài của PVEP
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của PVEP
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khi của PVEP
- Thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2011
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng kết hợp phương pháp thống kê, phân tích hệ thống và các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp so sánh, tổng hợp Để phân tích minh chứng, so sánh, tổng hợp số liệu giải quyết các nội dung nghiên cứu của luận văn Các phương pháp đó được kết hợp chặt chẽ với nhau dựa trên cơ sở các quan điểm, chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách đầu tư ra nước ngoài của Đảng và Nhà nước
Trang 66 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Cơ sở lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Phân tích cơ sở khoa học, đánh giá các yếu tố tác động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của PVEP chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
- Đóng góp một số giải pháp đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí của PVEP
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư ra nước ngoài của PVEP
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí của PVEP
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm, phân loại, vai trò đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI-Foreign Direct Investment
)
Theo quỹ tiền tệ Quốc tế đưa ra năm 1977: “FDI là vốn đầu tư được thực hiện nhằm thu về những lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế thuộc đất nước của nhà đầu tư Mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng nói
có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó”
Theo tổ chức thương mại thế giới: FDI là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
Theo nghị định số 78/2006/NĐ-CP của chính phủ: “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư
và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài.”
1.1.2 Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1 Phân loại theo hình thức đầu tư
Trang 7- Đầu tư theo hình thức liên doanh
- Đầu tư theo hình thức chi nhánh sở hữu toàn bộ hay doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
- Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Đầu tư theo một số hình thức khác
- Đầu tư dự án mới
- Đầu tư thông qua hoạt động mua lại và sáp nhập (M&A)
1.2 Các nhân tố thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài
1.2.1 Đối với nước đi đầu tư
1.2.1.1 Tích cực
- Ép buộc nước tiếp nhận đầu tư chấp nhận những điều kiện có lợi cho nước đầu
tư Một số trường hợp đầu tư nhằm mục đích nhân đạo, cũng cố hình ảnh và niềm tin của mình trên thế giới
- Tận dụng lợi thế chi phí thấp bằng cách sử dụng nguồn lao động rẻ, tận dụng công nghệ cũ nhằm kéo dài chu kỳ sống cho sản phẩm và công nghệ, giảm giá thành, tạo thêm lợi nhuận
- Giúp nước chủ nhà tạo dựng thị trường cung cấp nguyên liệu rẻ thường có các nước đang phát triên
- Khai thác chuyên gia và công nghệ ở nước nhận đầu tư
- Bành chướng sức mạnh kinh tế, tăng sức ảnh hưởng trên thị trường quốc tế
- Giải quyết những vấn đề khó khăn mà bản thân nước đó không tự giải quyết
- Nguy cơ chảy máu chất xám, mất vị thế độc quyền về công nghệ Thường thấy rằng các nước phát triển đầu tư sang nước đang phát triển đa phần là công nghệ lạc hậu,
sử dụng ít chất xám
Trang 8- Thị trường tiêu thụ được mở rộng do chính sách khuyến khích xuất khẩu của nước tiếp nhận sẽ là một kênh tiêu thụ cạnh tranh với sản xuất kinh doanh nội địa của nước chủ đầu tư
1.2.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư
1.2.2.1 Tích cực
- Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài sẽ làm tăng lượng tiền, tài sản trong nền kinh
tế sẽ tạo sự tăng trưởng khả quan và giúp khai thác các nguồn lực một cách hiệu quả
- Cơ cấu kinh tế sẽ được điều chỉnh theo hướng tích cực, những ngành có lợi thế
so sánh, có lợi nhuận cao, khả năng cạnh tranh mạnh sẽ được tập trung phát triển
- Giúp giải quyết việc làm cho một lượng người dân đang thất nghiệp hay bán thất nghiệp Đồng thời khoản thuế, lệ phí mà các đơn vị này nộp cho Nhà nước cũng giúp tăng thu ngân sách bù đắp thiếu hụt
- Được tiếp nhận vốn và công nghệ cao,hiện đại thương hiệu nổi tiếng, mạng lưới quan hệ rộng
- Tăng tiền tài sản trong nền kinh tê, cải thiện cán cân thanh toán
- Đội ngũ cán bộ và người lao động sẽ được đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng điều hành, quản lý…
- Mở rộng quan hệ quốc tế trên nhiều lĩnh vực: thương mại, đầu tư, văn hoá…
- Các doanh nghiệp trong nước sẽ có xu hướng di chuyển lao động, sao chép học hỏi, liên kết sản xuất và cạnh tranh… để nâng cao tiềm lực
1.2.2.2 Tiêu cực
- Nguồn tài nguyên bị khai thác và sử dụng quá mức dẫn đến cạn kiệt, phá huỷ môi trường, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng: lũ lụt, hạn hán, ô nhiễm môi trường, phá
vỡ cân bằng sinh thái…
- Các công nghệ được chuyển giao thường không phải công nghệ nguồn mà nhiều khi là công nghệ lạc hậu đã qua sử dụng
- Dễ xảy ra những xung đột về mặt xã hội
- Sẽ cản trở sử dụng hiệu quả những hỗ trợ từ Chính phủ
- Giảm tính tự chủ của Chính phủ trong xây dựng cơ chế chính sách
1.2.3 Đối với Việt Nam
Thứ nhất, đối với quốc gia
Thứ hai, đối với doanh nghiệp
Trang 91.3 Kinh nghiệm đầu tư ra nước ngoài của một số công ty dầu khí quốc gia thành công trên thế giới
1.3.1 Petronas
Petronas được thành lập vào năm 1974 (cùng thời gian với Tổng Công ty dầu khí Việt Nam-Petrovietnam), thuộc sở hữu toàn phần của chính phủ Ma-lai-xia để kiểm soát nguồn tài nguyên dầu khí của Ma-lai-xia Petronas tham gia tất cả các hoạt động dầu khí
ở Ma-lai-xia bao gồm thăm dò khai thác, lọc dầu, buôn bán dầu thô và phân phối các sản phẩm dầu, vận chuyển và phân phối khí thiên nhiên, khí hoá lỏng và tiếp thị các sản phẩm khí, sản xuất và tiếp thị các sản phẩm hoá dầu, đóng tàu…
Các bước triển khai của Petronas trong 10 năm qua được tóm lược như sau:
- Thăm dò
- Khai thác
- Mua công ty
- Dầu /khí
- Đầu tư theo khu vực ưu tiên
Petronas được coi là một công ty dầu khí quốc gia thành công trong việc quốc tế hoá hoạt động thăm dò khai thác Tiềm lực tài chính to lớn, tổ chức hợp lý, sự hậu thuẫn rất hiệu quả của Chính phủ Ma-lai-xia và mối quan hệ hợp tác với các công ty dầu khí nước ngoài là những điều kiện quan trọng dẫn đến sự thành công của Petronas
1.3.2 Chinese National Offshore Oil Company (CNOOC)
CNOOC được thành lập năm 1982 như một công ty dầu quốc gia của Trung Quốc để tiến hành các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí tại các lô ngoài khơi Trung Quốc CNOOC đã thực hiện các bước:
- Cổ phần hoá công ty mẹ CNOO
Trang 10- Thông qua việc tham gia vào các hợp đồng chia sản phẩm
- PTTEP đã hoạt động như một doanh nghiệp thương mại
- Công ty có một tiềm lực tài chính vững
- PTTEP tham gia hội nhập quốc tế thông qua nhiều phương thức bao gồm: tham gia đấu thầu, nhận hợp đồng nhượng lại, mua cổ phần trong các giếng đang khai thác…
- Lựa chọn đối tác là các nước trong khu vực
1.3.4 Một số điểm rút ra từ các công ty dầu khí trên
- Xác định mục tiêu cho đầu tư ra nước ngoài
- Xác định khu vực ưu tiên đầu tư là các nước/khu vực lân cận và/hoặc giàu tiềm năng dầu khí và tập trung nỗ lực để thâm nhập, mở rộng
- Mua tài sản là hình thức được áp dụng để sớm có chỗ đứng trên thị trường (và sản lượng, doanh thu)
- Tranh thủ các mối quan hệ hợp tác liên minh (cấp chính phủ, cấp công ty) để
có dự án
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA PVEP
2.1 Tổng quan của PVEP
2.2 Thực trạng công tác tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài
2.2.1 Các hình thức triển khai thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài
2.2.1.1 Mua tài sản dầu khí
Mua tài sản dầu khí là mua mỏ dầu khí đang/chuẩn bị khai thác (trữ lượng dầu khí được xác minh) Mua tài sản dầu khí có thể gồm mua cổ phần hợp đồng hoặc mua công ty sở hữu tài sản
Phương thức đầu tư này có một số lợi ích nổi bật:
- Giúp Tổng Công ty nhanh chóng thâm nhập một thị trường mới, mở rộng hoạt động trong phạm vi nước và khu vực đã mua được tài sản
- Thực hiện được mục tiêu có sản lượng khai thác ở nước ngoài sớm nhất
- Rủi ro kĩ thuật được giảm thiểu nhờ đã có phát hiện thương mại/khai thác dầu khí
- Tổng Công ty có thể có ngay thu nhập từ dự án nếu mua mỏ đang khai thác, từ
đó có thể khai thác lợi ích về thương mại
Trang 11- Tạo điều kiện tiếp cận thông tin tài liệu (địa chất, khai thác…) cơ bản và đáng tin cậy của một nước, là cơ sở tốt cho các bước triển khai tiếp theo
- Thuận lợi trong vay vốn để đầu tư
- PVEP nói riêng và Tập đoàn Dầu khí nói chung sẽ có cơ hội để mở rộng hoạt động sau này ở đó
Tuy nhiên, phương thức này có một số điểm bất lợi cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay vì chi phí mua tài sản dầu khí thường rất cao, đồng thời có sự cạnh tranh rất lớn từ các công ty lớn có tiềm lực tài chính mạnh Một yếu tố nữa mà bên phía Việt Nam hay e ngại, đó là những vấn đề về pháp lý, tài chính thường phát sinh trong quá trình mua lại tài sản hay cổ phần công ty nắm giữ tài sản
2.2.1.2 Thăm dò diện tích mới
Các cơ hội đầu tư mới bao gồm đầu tư vào các diện tích mới (chưa có hoặc có rất ít hoạt động thăm dò), các diện tích được hoàn trả (đã có hoạt động thăm dò, khai thác) và các mỏ đã có phát hiện dầu khí nhưng vì một lý do nào đó chưa được thẩm lượng, phát triển
2.2.1.3 Trao đổi cổ phần
Trao đổi cổ phần hợp đồng ở trong nước lấy cổ phần hợp đồng ở nước ngoài đã được PVEP thực hiện trong mấy năm gần đây Đây là phương thức đơn giản nhất để PVEP có dự án ở nước ngoài trong thời gian ngắn nhất với chi phí ban đầu thấp nhất Đây cũng là một biện pháp để chia sẻ rủi ro/thành công với các công ty bạn và đa dạng hoá cơ cấu dự án
2.2.2 Các thị trường trọng điểm
Các tiêu chí thường được lựa chọn để đánh giá mức độ ưu tiên bao gồm:
- Tiềm năng dầu khí của khu vực đó
- Số lượng diện tích mở cho đầu tư nước ngoài và khả năng tiếp cận của công ty
2.2.2.1 Đông Nam Á