1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

An ninh lương thực của việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

22 669 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề An ninh lương thực của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả Lê Anh Thực
Người hướng dẫn PGS.TS Hà Văn Hội
Trường học Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế
Thể loại Luận văn ThS
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 468,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự báo và đề xuất một số định hướng giải pháp: Thúc đẩy sản xuất và nâng cao năng suất trong sản xuất nông nghiệp; Ổn định diện tích đất canh tác; Chú trọng việc đào tạo nghề, tạo việc l

Trang 1

An ninh lương thực của Việt Nam trong bối cảnh

hội nhập Kinh tế Quốc tế Vietnam’s food security in the context of international economic integration

Abstract Phân tích rõ nội hàm của an ninh lương thực hiện nay; chỉ ra những yếu tố tác

động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đến an ninh lương thực quốc gia Phân tích, đánh giá tình hình an ninh lương thực ở Việt Nam thời gian qua Dự báo và đề xuất một số định hướng giải pháp: Thúc đẩy sản xuất và nâng cao năng suất trong sản xuất nông nghiệp; Ổn định diện tích đất canh tác; Chú trọng việc đào tạo nghề, tạo việc làm cho người nông dân bị mất đất nông nghiệp; Chủ động đề phòng, khắc phục những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và dịch bệnh; Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn; Tăng cường năng lực dự trữ lương thực và cải thiện hiệu quả chuỗi cung ứng nông nghiệp; Nâng cao nhận thức của người dân nói chung và nông dân nói riêng về an ninh lương thực góp phần đảm bảo an ninh lương thực của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Keywords: Kinh tế đối ngoại; An ninh lương thực; Hội nhập kinh tế; Việt Nam

Content

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết và ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu

Người xưa nói: “Dân dĩ thực vi tiên” - tức dân lấy ăn làm đầu, cái ăn hay lương thực luôn là nhu cầu thiết yếu trước tiên của con người Đảm bảo lương thực cho người dân luôn là vấn đề trước mắt cũng như lâu dài cho mọi quốc gia, trong mọi thời đại Bước sang những thập niên đầu của thiên nhiên kỷ thứ 3, trong bối cảnh toàn cầu hóa (TCH) và hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT), nhiều quốc gia vẫn đang phải đối mặt với vấn đề đảm bảo an ninh lương thực - nhân tố hàng đầu đảm bảo ổn định

và phát triển xã hội, một nội dung quan trọng trong an ninh kinh tế quốc gia An ninh lương thực ngày càng “nóng” lên, thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia và cộng đồng thế giới khi thế giới mới trải qua cuộc khủng hoảng lương thực năm 2008 và hiện nay giá lương thực lại đang có xu hướng tăng lên Với 1/5 dân số thế giới trong diện đói nghèo ở nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển với biểu hiện là không đáp ứng được nhu cầu lương thực hiện vẫn là vấn đề lớn của thế giới hiện nay

Trang 2

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã, đang và sẽ là hai mặt của quá trình phát triển thế giới,

có tác động ảnh hưởng đến các quốc gia, các lĩnh vực của thế giới, trong đó có an ninh lương thực ở cấp độ quốc gia và toàn cầu Chính bối cảnh hiện nay, đòi hỏi các quốc gia cần phải giải bài toán an ninh lương thực trong sự tác động ảnh hưởng tổng thể của quá trình phát triển thế giới

Quá trình hình thành dân tộc Việt Nam gắn liền với sản xuất lúa nước lâu đời, hình thành nên một quốc gia nông nghiệp và ông cha ta đã đúc kết một chân lý: “phi nông bất ổn” Đảng ta từ khi ra đời, lãnh đạo cách mạng đã rất quan tâm đến vấn đề nông nghiệp và nông dân, đến đảm bảo lương thực cho nhân dân Quá trình đổi mới hơn 25 năm qua, nước ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực, trong đó nổi bật là thành tựu xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia đồng thời duy trì vị thế của nước xuất khẩu gạo hàng đầu góp phần đảm bảo an ninh lương thực của thế giới Tuy nhiên, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia còn có những hạn chế, như an ninh lương thực còn thiếu bền vững khi còn có sự chênh lệch về tiếp cận lương thực giữa các nhóm và giữa một

số vùng của đất nước; sản xuất lương thực chịu tác động từ tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu và các cú sốc từ thị trường lương thực thế giới; yêu cầu phát huy lợi thế so sánh từ địa vị quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu để gia tăng năng suất và thu nhập cho người sản xuất lương thực v.v…Trong bối cảnh đó, một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam cần phải được giải quyết thấu đáo, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay:

1) Tại sao an ninh lương thực lại là vấn đề cấp bách đối với mọi quốc gia trong bối cảnh hiện nay? 2) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến an ninh lương thực thế giới nói chung và an ninh lương thực của Việt Nam nói riêng?

3) Tình hình an ninh lương thực của Việt Nam hiện nay như thế nào?

4) Việt Nam cần phải làm gì để đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế?

Những vấn đề trên đang đặt ra cho Việt Nam những câu hỏi cần lời giải đáp Do đó, nghiên cứu một cách hệ thống về lý luận an ninh lương thực, về thực trạng an ninh lương thực thế giới và Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp góp phần đảm bảo an ninh lương thực của Việt Nam là vấn đề cần thiết và cấp bách

Xuất phát từ các lí do trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “An ninh lương thực của Việt Nam trong

bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” để làm luận văn Cao học ngành Kinh tế đối ngoại

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

An ninh lương thực được nhiều chính phủ, các tổ chức quốc tế và các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm dưới các góc độ và cấp độ khác nhau: 1) Trong Báo cáo phát triển con người

năm 1994 của Liên Hợp quốc (UNDP) với chủ đề: “Những khía cạnh mới của an ninh con người” đã

tiếp cận an ninh con người với nội hàm bao gồm an ninh lương thực 2) Báo cáo phát triển con

người năm 2005 của Liên Hợp quốc (UNDP) với chủ đề: “Hợp tác quốc tế trong thời điểm quyết

Trang 3

định: viện trợ, thương mại và an ninh trong một thế giới không bình đẳng” đã chỉ ra những cản trở,

bất bình đẳng của thương mại trong nông nghiệp hiện nay đối với các nước đang phát triển, từ đó tác động đối với sản xuất lương thực và đảm bảo thực hiện mục tiêu an ninh lương thực trên thế giới 3)

Trong Báo cáo phát triển thế giới năm 2008 của Ngân hàng thế giới với tiêu đề: “Tăng cường nông nghiệp cho phát triển” đã chỉ ra vai trò của nông nghiệp với đảm bảo an ninh lương thực, các giải

pháp phát triển nông nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa góp phần đảm bảo an ninh lương thực ở cả cấp độ toàn cầu, quốc gia và hộ gia đình 4) Các học giả Trung Quốc, Vương Dật Châu và cộng sự

(1999) trong cuốn sách “An ninh quốc tế trong thời đại toàn cầu hóa” đã đề cập đến nội dung của an

ninh lương thực dưới góc độ là bộ phận quan trọng của an ninh kinh tế, đề ra tác động của toàn cầu hóa đối với an ninh lương thực của Trung Quốc 5) Các nhà nghiên cứu Việt Nam như Nguyễn Xuân

Thắng và cộng sự (2006) trong cuốn sách: “Chênh lệch phát triển và an ninh kinh tế ở ASEAN” trên

cơ sở hệ thống khái niệm an ninh kinh tế theo cách tiếp cận phi truyền thống đã chỉ ra biểu hiện và cấu thành của an ninh kinh tế trong điều kiện toàn cầu hóa gắn với nhiều tiêu chí trong đó có làm rõ nội hàm của an ninh lương thực, dấu hiệu chính để xác định an ninh lương thực, hệ thống giám sát đảm bảo an ninh lương thực và nguyên nhân của bất ổn an ninh lương thực 6) Trong quyển sách

“Kinh tế Việt Nam năm 2008” và 7) Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội (8/2008) của các

tác giả Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, đã đề cập đến sản xuất lúa gạo và vấn đề an ninh lương thực ở Việt Nam, trong đó khái quát thành tựu của Việt Nam trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo thời kỳ đổi mới, thực trạng của sản xuất lúa gạo hiện nay gắn với yêu cầu đảm bảo an ninh lương thực, đề xuất giải pháp đối với sản xuất lúa gạo gắn với đảm bảo an ninh lương thực trong hội

nhập WTO 8) Trong quyển sách “Thành viên WTO thứ 150 – bài học từ các nước đi trước” của

Nguyễn Văn Thanh đã phân tích những tác động được – mất trong lĩnh vực nông nghiệp khi là thành viên WTO là các quốc gia đang phát triển Một số bài viết bằng Tiếng Anh trong thời gian gần đây

đề cập đến an ninh lương thực của Việt Nam trong mối quan hệ với phát triển nền kinh tế, như 9)

Nguyen Van Ngai (2010): “food security and economic development in Vietnam”; 10) Kazunari Tsukada (2007): “Vietnam: food security in a rice – exporting country”, đề cập đến vấn đề mà Việt

Nam phải đối mặt, đó là vừa phải đảm bảo gạo an toàn cho thị trường trong nước vừa phải cải thiện thu nhập cho người nông dân trồng lúa bằng việc gia tăng xuất khẩu gạo, từ đó phân tích và rút ra bài học từ thực tế Việt Nam Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng tải trên các trang web ở trong và ngoài nước của các tác giả đề cập đến nội dung liên quan đến an ninh lương thực

Những tài liệu nêu trên thật sự bổ ích, sẽ được tác giả nghiên cứu sử dụng làm cơ sở khoa học cho việc triển khai đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích tình hình an ninh lương thực của thế giới và Việt Nam trong bối cảnh TCH và HNKTQT từ đó đưa ra giải pháp, kiến nghị đảm bảo an ninh lương thực của Việt Nam

Trang 4

Để đạt được mục đích nghiên cứu đã nêu ở trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:

- Phân tích rõ nội hàm của an ninh lương thực hiện nay; chỉ ra những yếu tố tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đến an ninh lương thực quốc gia

- Phân tích, đánh giá tình hình an ninh lương thực ở Việt Nam thời gian qua

- Dự báo và đề xuất một số định hướng giải pháp góp phần đảm bảo an ninh lương thực của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là an ninh lương thực của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Phạm vi nghiên cứu:

- Về thời gian: từ năm 1998 đến nay Đây là mốc thời gian Việt Nam hội nhập sâu rộng vào khu vực và thế giới

- Về không gian và nội dung:

+ An ninh lương thực, an ninh năng lượng, các cân đối vĩ mô… là các nội dung của An ninh kinh

tế Luận văn chỉ tìm hiểu một khía cạnh của an ninh kinh tế đó là an ninh lương thực, nhưng cũng có phân tích mối liên hệ của các nội dung của an ninh kinh tế

+ Do an ninh lương thực là vấn đề toàn cầu không chỉ là quốc gia, nên luận văn khái quát tình hình an ninh lương thực trên thế giới, chỉ ra các tác động của bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh

tế quốc tế đối với an ninh lương thực Đi sâu phân tích thực trạng an ninh lương thực của Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin để nghiên cứu an ninh lương thực trong sự vận động, phát triển và liên hệ với các yếu tố tác động ảnh hưởng của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; đánh giá về an ninh lương thực trên quan điểm lịch sử - cụ thể và quan điểm phát triển; tìm ra bản chất của an ninh lương thực quốc gia

để chủ động đề ra giải pháp ứng phó

Sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống để nghiên cứu an ninh lương thực của Việt Nam trong

an ninh lương thực của thế giới, trong sự tương tác, liên quan từ các yếu tố tác động của bối cảnh toàn cầu và các yếu tố liên quan trong nước

Luận văn cũng sử dụng các phương pháp cụ thể như: phân tích tài liệu, số liệu; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê số liệu; phương pháp tổng hợp; phương pháp trao đổi với chuyên gia

6 Đóng góp mới của luận văn

- Làm rõ khái niệm an ninh kinh tế, trong đó có khái niệm an ninh lương thực ở các cấp độ

- Luận giải sự cần thiết phải đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội

nhập kinh tế quốc tế hiện nay

- Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp góp phần đảm bảo an ninh lương thực của Việt Nam

Trang 5

7 Bố cục của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung gồm có 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về an ninh lương thực trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 2: Tình hình an ninh lương thực Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Chương 3: Dự báo và một số giải pháp đảm bảo an ninh lương thực của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN NINH LƯƠNG THỰC TRONG BỐI CẢNH

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Khái niệm và vai trò của an ninh lương thực

1.1.1 Khái niệm an ninh kinh tế và an ninh lương thực

1.1.1.1 Khái niệm an ninh kinh tế

Bối cảnh quốc tế trong thập niên cuối của thế kỷ XX và thập niên đầu của thế kỷ XXI, với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, xu thế hợp tác, phát triển gia tăng và nhất là xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ đã làm cho vấn đề an ninh kinh

tế ngày càng trở nên cấp thiết đối với mọi quốc gia, dân tộc

Hiện có nhiều dịch nghĩa về an ninh kinh tế theo các hướng và góc độ khác nhau Các quan niệm trên

có điểm chung là đều chỉ ra yêu cầu về sự phát triển ổn định, bền vững của nền kinh tế quốc gia như

là đặc trưng biểu hiện của an ninh kinh tế Vấn đề an ninh kinh tế chắc chắn đã chiếm vị trí trung tâm trong lĩnh vực an ninh quốc tế và an ninh quốc gia hiện nay, và sẽ chỉ đạo hướng đi của an ninh quốc

tế trong thế kỷ sau cũng như việc chế định chiến lược an ninh của các nước

1.1.1.2 Khái niệm an ninh lương thực

Theo Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thuộc Liên Hợp quốc (FAO) (2002) trong Trade reform and security food, hiện nay có đến hơn 200 định nghĩa về an ninh lương thực, mỗi cách tiếp cận đều

đưa ra một quan niệm về an ninh lương thực [17] Vì thế khái niệm này được diễn giải theo nhiều cách khác nhau Các nhà nghiên cứu cho rằng, bất cứ khi nào quan niệm an ninh lương thực được đề cập đến trong tiêu đề của một nghiên cứu thì nên đưa ra các định nghĩa rõ ràng hoặc ngầm định cho sát với thực tế

An ninh lương thực là một khái niệm với nhiều cấp độ tiếp cận, nhiều cách nhìn khác nhau Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn với cách tiếp cận an ninh lương thực ở cấp độ quốc gia, trên cơ sở kế thừa các quan niệm về an ninh lương thực của các học giả và tổ chức trong và

ngoài nước, luận văn thống nhất quan niệm về an ninh lương thực của Việt Nam là việc có đầy đủ, ổn định lương thực cho toàn dân trên phạm vi toàn quốc cả trước mắt và lâu dài để không ai bị đói và mọi người đều được hưởng cuộc sống năng động và khoẻ mạnh

Trang 6

1.1.2 Quan hệ giữa an ninh lương thực, an ninh kinh tế và an ninh quốc gia

Khi đề cập đến nội hàm của an ninh kinh tế, đa số các học giả hiện nay đều xác định một trong những bộ phận quan trọng là an ninh lương thực

Bên cạnh đó, an ninh lương thực và an ninh quốc gia cũng giống như hai anh em song sinh Khủng hoảng lương thực: giá lương thực tăng cao, nguồn cung lương thực không đủ, lập tức ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt hàng ngày của mọi người Sự thiếu đói về lương thực, dẫn đến sự phản đối của nhiều tầng lớp dân chúng, ảnh hưởng đến an ninh, chính trị quốc gia

Như vậy, có thể nói rằng an ninh lương thực đã, đang và sẽ là bộ phận quan trọng của an ninh kinh

tế Việc xác định rõ vị trí, vai trò của an ninh lương thực trong nội hàm của an ninh kinh tế quốc gia

sẽ giúp nhận diện, đánh giá toàn diện và sâu sắc sự cần thiết của an ninh lương thực quốc gia trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Đồng thời thấy được nội dung và các yếu tố tác động đến

an ninh lương thực quốc gia hiện nay

1.1.3 Vai trò của an ninh lương thực đối với đời sống xã hội

1.1.3.1 Vai trò an ninh lương thực với đáp ứng nhu cầu tồn tại của con người và giảm đói nghèo trên thế giới

Xã hội đang phát triển như vũ bão với nhiều vật dụng hiện đại ra đời phục vụ cho nhu cầu của con người, nhưng người ta có thể thiếu các phương tiện hiện đại nhưng người ta không thể làm gì với cái

dạ dày trống rỗng Lương thực như là một phương tiện thiết yếu bậc nhất để duy trì sự tồn tại của con người Lương thực phải được cung cấp đều đặn, đầy đủ cho mọi người nếu muốn sống, hoạt động và

phát triển

Một trong những mục tiêu hàng đầu của Tuyên bố Thiên nhiên kỷ của Liên Hợp quốc (2003) là xóa

bỏ tình trạng nghèo và đói cùng cực của con người

1.1.3.2 Vai trò của an ninh lương thực với tăng trưởng kinh tế

Vấn đề an ninh lương thực và tăng trưởng kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Xét về mục tiêu chính sách của các chính phủ, an ninh lương thực được coi như một chuỗi liên tục từ mức độ vi mô

về đảm bảo dinh dưỡng cho người dân đến mức vĩ mô là đảm bảo cung cấp đầy đủ lương thực cho thị trường trong nước và khu vực Ổn định an ninh lương thực theo cả hai góc độ (vi mô, vĩ mô) giúp thúc đẩy triển vọng tăng trưởng kinh tế hiệu quả hơn, giảm đói nghèo

1.1.3.3 Vai trò ổn định chính trị - xã hội của an ninh lương thực

Thế giới đang đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và kinh tế tri thức Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế đang tiếp diễn và đặc biệt cuộc khủng hoảng lương thực thế giới năm 2007 – 2008 đã cho thấy tầm quan trọng của lương thực

Việc bảo đảm an ninh lương thực không chỉ thuần tuý là vấn đề kinh tế hay nhân đạo mà còn có vai trò quan trọng đối với sự ổn định chính trị xã hội của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, một đất nước, một khu vực mà không bảo đảm an ninh lương thực sẽ tạo

ra hệ luỵ lan tỏa không nhỏ đối với các nước và các khu vực khác

Trang 7

1.2 Nội dung của an ninh lương thực

Để đảm bảo anh ninh lương thực, cần phải thực hiện đồng bộ các nội dung, đó là bảo đảm tính sẵn

có của lương thực, sự ổn định, khả năng tiếp cận của người dân và sự an toàn, chất lượng của lương thực được sử dụng Những nội dung của anh ninh lương thực trên đây được Thủ tướng Nguyễn Tấn

Dũng khẳng định tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) diễn ra vào ngày 29/1/2010 tại Davos về chủ

đề An ninh lương thực Cụ thể:

1.2.1 Sự sẵn có về lương thực

Sự sẵn có (availability) lương thực được hiểu là: sản lượng lương thực, diện tích trồng trọt, các chỉ tiêu về xuất và nhập khẩu lương thực được đảm bảo Tức là đảm bảo nguồn cung lương thực đầy đủ mọi nơi, mọi lúc

Điều này liên quan đến việc nỗ lực trong việc bảo vệ diện tích đất trồng cây lương thực, có chính sách bảo đảm lợi ích cho người sản xuất lương thực để họ an tâm sản xuất; tăng cường đầu tư để tăng sản lượng và chất lượng lương thực; tạo thuận lợi cho thương mại nông sản, xây dựng hệ thống phân phối lương thực ổn định

1.2.2 Sự tiếp cận với lương thực

Sự tiếp cận (access) nguồn lương thực được hiểu là: tỉ lệ tiếp cận lương thực cơ bản trong tổng dân

số, thiếu lương thực cơ bản trong nhóm nghèo, giá lương thực cơ bản cao và tăng, lương thực được lưu thông, phân phối đến các vùng trong nước

Điều này liên quan đến việc tạo các cơ hội việc làm, thu nhập và có hỗ trợ thích hợp để bảo đảm khả năng tiếp cận với lương thực của người dân; thận trọng trong việc sử dụng lương thực vào mục đích khác;

1.2.3 Sự ổn định của lương thực

Sự ổn định (stability) của lương thực là: phải có hệ thống phân phối ổn định Cung và cầu lương thực trên thị trường ổn định, nghĩa là giá lương thực và các xu hướng khác trên thị trường không tăng (giảm) mạnh (ví dụ giá gạo cao liên tục hay kho dự trữ giảm báo hiệu những yếu tố không tốt đến sự

ổn định về cung lương thực)

Điều này liên quan đến các cố gắng của từng quốc gia trong việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phối hợp hành động chung trong khu vực và toàn cầu để đảmbảo sản và cung ứng lương thực ổn định

1.2.4 Sự an toàn, chất lượng của lương thực được sử dụng

Sự an toàn, chất lượng của lương thực được sử dụng thể hiện qua độ dinh dưỡng của lương thực, chất lượng và vệ sinh lương thực, tỷ lệ suy sinh dưỡng và thiếu chất do lương thực

1.3 Các nhân tố tác động đến an ninh lương thực

1.3.1 Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

1.3.1.1 Khía cạnh toàn cầu hoá nông nghiệp đối với an ninh lương thực

+ Vai trò, đặc điểm của toàn cầu hóa nông nghiệp

Thứ nhất: Toàn cầu hóa nông nghiệp hiện nay đang ở giai đoạn đầu, những diễn biến tiếp theo của nó

đầy bất định, chông gai và khó dự đoán

Trang 8

Thứ hai: Ở nhiều nước, toàn cầu hóa nông nghiệp thường song hành hoặc dẫn đến thị trường hóa

hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp, trái ngược với những khu vực sản xuất kinh doanh khác, nơi cơ chế kinh tế thị trường thường đi trước một bước so với toàn cầu hóa

Thứ ba: Thị trường nông sản quốc tế có những tính chất rất đặc thù so với các loại thị trường hàng

hóa khác, dẫn tới tự do hóa thương mại nông sản có nhiều điểm khác biệt so với quá trình tự do hóa thương mại nói chung

Thứ tư: Hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp gắn liền với những vấn đề văn hóa, xã hội, môi

trường rất to lớn

Thứ năm: Một đặc điểm đáng chú ý nữa của toàn cầu hóa nông nghiệp là giai đoạn toàn cầu hóa nông

nghiệp hiện nay đang hàm chứa quá nhiều điều vô lý và bị chỉ trích nặng nề

1.3.2.2 Những cơ chế tác động chính của toàn cầu hóa kinh tế đối với nông nghiệp, nông thôn

Nông nghiệp và nông thôn thế giới, ở các nước giàu cũng như các nước nghèo, đang đứng trước những khả năng thay đổi sâu rộng và toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế là một nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự thay đổi này Và cũng phải nói rằng những sự thay đổi của nông nghiệp, nông thôn

có liên quan, tác động to lớn đến an ninh lương thực

Theo Đặng Kim Sơn và Hoàng Thu Hoà (2002), trong Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp và nông thôn, đã chỉ ra cơ chế chủ chốt nhất lan truyền những ảnh hưởng của toàn cầu hóa kinh tế đến

nông nghiệp và phát triển nông thôn là tự do hóa các thị trường nông sản quốc tế, tự do hóa đầu tư và cuộc cạnh tranh toàn cầu ngày càng khắc nghiệt Trong đó nhân tố quan trọng là tự do hoá các thị trường nông sản quốc tế hiện nay

1.3.2 Các nhân tố liên quan đến việc sản xuất và cung ứng lương thực

1.3.2.1 Các nhân tố tác động đến sự sẵn có lương thực

- Thứ nhất, diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên thế giới đang có xu hướng giảm nhanh

- Thứ hai, từ ba thập kỷ cuối của thế kỷ 20 đến nay, thế giới có nhiều tiến bộ nhảy vọt về khoa học và

công nghệ, nhưng nhiều nước, nhiều vùng đã không chú ý tới việc tiếp tục đầu tư vào sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất lương thực nói riêng

- Thứ ba, khí hậu là một trong những yếu tố tác động đến sản lượng lương thực

1.3.2.2 Nhóm nhân tố tác động đến sự tiếp cận lương thực

Thứ nhất, thị trường nông sản thế giới bị bóp méo vì chính sách trợ cấp nông nghiệp của các nước

công nghiệp phát triển

- Thứ hai, việc nhiều nước xuất khẩu lương thực, khởi đầu là Ấn Độ (cuối năm 2007), sau đó Ai Cập,

Campuchia, Mêxico, … (quý I/2008) thời gian vừa qua hạn chế xuất khẩu càng khiến giá lương thực tăng cao

1.3.2.3 Nhóm nhân tố tác động đến sự ổn định của lương thực

- Thứ nhất, sức ép dân số và thay đổi trong cơ cấu tiêu dùng, trong khi nguồn cung ứng lương

thực bị đe dọa

Trang 9

- Thứ hai, các nhu cầu về lương thực không chỉ tăng do dân số tăng, mà còn do nhu cầu của các

ngành kinh tế khác

1.3.2.4 Nhóm nhân tố tác động đến sự an toàn, chất lượng của lương thực

Thứ nhất, việc ứng dụng công nghệ sinh học, chọn tạo giống lúa và lương thực đảm bảo dinh dưỡng

Thứ hai, áp dụng quy trình sản xuất hiện đại, an toàn và thân thiện môi trường trong việc tạo

ra các sản phẩm lương thực sạch, không chứa nhiều hóa chất, đảm bảo chất lượng vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng, không gây hại cho sức khỏe của người dùng

Thứ ba, các chính sách của các quốc gia trong việc quản lý an toàn lương thực, thực phẩm và

chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân thông qua phòng chống suy dinh dưỡng ở bà mẹ và trẻ em

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH AN NINH LƯƠNG THỰC VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

2.1 Khái quát về tiềm năng sản xuất lương thực của Việt Nam và chủ trương, chính sách của Nhà nước về an ninh lương thực quốc gia

2.1.1 Khái quát về tiềm năng sản xuất lương thực của Việt Nam

Việt Nam vốn là quốc gia nông nghiệp, có truyền thống trồng lúa nước lâu đời ở khu vực Hiện chúng ta có nhiều tiềm năng lợi thế về sản xuất lương thực, nhất là lúa gạo Người nông dân Việt Nam có truyền thống cần cù, chịu khó, được đánh giá là ham học hỏi, tích cực ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất nông nghiệp - là nguồn lực quan trọng nhất cho sản xuất lương thực, đảm bảo an ninh lương thực nước ta

Diện tích gieo trồng lúa cả năm không ngừng được mở rộng, từ 5,6 triệu ha (năm 1980), đến nay là khoảng 7,3 triệu ha Mỗi vùng sinh thái nông nghiệp của nước ta đều có những thế mạnh nhất định trong việc sản xuất lương thực, thực phẩm Các thế mạnh ấy đang ngày càng được phát huy tốt hơn nhờ sản xuất đi đôi với bảo quản và chế biến sản phẩm, nhờ sự trao đổi, lưu thông lương thực, thực phẩm hàng hoá giữa các vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm lương thực, thực phẩm số một Đồng bằng sông Hồng là vùng trọng điểm số hai về lương thực, thực phẩm Ngoài hai vùng trọng điểm trên, các vùng khác cũng có những thế mạnh khác nhau về sản xuất lương thực, thực phẩm

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của nền kinh tế hiện nay góp phần gắn sản xuất với thị trường thế giới, phân tán rủi ro, thu hút nguồn vốn đầu tư để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao thu nhập cho người sản xuất lương thực

2.1.2 Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về an ninh lương thực

Qua thực tiễn hoạch định và chỉ đạo thực hiện đường lối đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, Đảng ta nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng của phát triển nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, xoá đói giảm nghèo bền vững Mục tiêu phát triển nông nghiệp trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2001 – 2010 là: “đẩy mạnh công

Trang 10

nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn” Sau đó, Hội nghị Trung ương 3 (khóa IX) đã ban hành 3 nghị quyết quan trọng liên quan trực tiếp đến nông nghiệp, nông thôn: 1) Nghị quyết

“Đẩy nhanh công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010”; 2) Nghị quyết “Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) tiếp tục ban hành nghị quyết về “Nông nghiệp, nông thôn và nông dân”

Cụ thể hoá đường lối của Đảng về đảm bảo an ninh lương thực, Chính phủ và các cơ quan liên quan

đã ban hành nhiều chính sách quan trọng góp phần đảm bảo an ninh lương thực như: Chính sách đất trồng lúa; Chính sách phát triển kết cấu hạ tầng vùng trồng lúa; Chính sách thương mại gạo; Chính sách hỗ trợ nông dân sản xuất lúa

2.2 Tình hình an ninh lương thực của Việt Nam

2.2.1 Thành tựu an ninh lương thực Việt Nam

2.2.1.1 Sự sẵn có lương thực

Với những chủ trương và chính sách cụ thể của Nhà nước đầu tư cho phát triển sản xuất nông nghiệp, tăng sản lượng nhằm đảm bảo an ninh lương thực, trong những năm vừa qua Việt Nam tiếp tục đạt được những thành tích đáng ghi nhận về sản lượng lương thực

Lương thực không những đủ hàng ngày mà còn được dự trữ ở trong dân và dự trữ của Nhà nước Nhiều loại lương thực, thực phẩm không những đáp ứng được nhu cầu ở trong nước, mà còn xuất khẩu với khối lượng lớn, đứng thứ hạng cao trên thế giới Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, từ 1989 đến hết tháng 6/2011, Việt Nam đã xuất khẩu được xấp xỉ 81 triệu tấn, thu về được trên 24,2 tỷ USD Nước ta đã góp phần đảm bảo nguồn cung lương thực cho nhiều nước trong khu vực và trên thế giới

2.2.1.2 Sự tiếp cận lương thực

- Về tiêu dùng lương thực: như đã nêu trên đây, do sản lượng lương thực tăng nhanh hơn đáng kể tốc

độ tăng dân số, nên sản lượng lương thực bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng liên tục, từ 445 kg/người/năm năm 2000 lên 513kg/người/năm vào năm 2010 Ngay cả với những năm thiên tai diễn

ra nghiêm trọng, lương thực vẫn được phân phối cho những vùng khó khăn kịp thời, đảm bảo lương thực cho hầu hết nhân dân Sản lượng nhiều loại cây, con đã đáp ứng đủ nhu cầu

- Về khả năng tiếp cận lương thực: Tăng trưởng kinh tế liên tục trong nhiều năm qua đã giúp cải thiện đáng kể thu nhập của người dân Thu nhập tăng là điều kiện quan trọng hàng đầu để người dân

dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với nguồn lương thực: chi tiêu nói chung và chi tiêu cho lương thực nói riêng của người dân đã được cải thiện

- Về lưu thông, phân phối lương thực: Thị trường lưu thông lương thực ngày càng được mở rộng cả

về quy mô, cơ cấu các thành phần kinh tế tham gia, đảm bảo lưu thông thuận lợi giữa các vùng, các khu vực, kể cả các vùng núi, vùng xa xôi hẻo lánh, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và từng địa phương Sự phát triển nhanh và rộng khắp của hệ thống chợ, siêu thị, trung tâm thương mại tạo điều kiện cho người dân thuận lợi hơn trong việc tiếp cận nguồn lương thực, phục vụ đời sống bản thân, gia đình

Trang 11

2.2.1.3 Sự ổn định lương thực

Sản lượng lương thực hàng năm gần đây tăng cao hơn tốc độ tăng dân số, chẳng hạn giai đoạn 2001 – 2008, sản lượng lương thực có hạt tăng 3,7% cao hơn 3 lần tốc độ tăng dân số trong cùng thời kỳ Mặt khác, nhà nước và cả người dân có tỷ lệ dự trữ lương thực nhất định hàng năm là

ổn định Hai nhân tố trên góp phần quan trọng đảm bảo nguồn cung lương thực ổn định

Trong khi, cầu về lương thực trong thời gian qua về lương thực được đánh giá là không có sự đột biến tăng hay giảm, nên đã góp phần làm cho giá lương thực cơ bản ổn định (ngoại trừ năm 2008)

Những yếu tố về sự mở rộng thị trường lương thực, đảm bảo lương thực được vận chuyển rộng khắp đến các vùng cũng góp phần quan trọng đảm bảo sự ổn định của lương thực một cách thường xuyên

Đối với những vùng bị thiên tai, nhà nước có sự cứu trợ, hỗ trợ kịp thời về lương thực, đã giúp bình ổn thị trường lương thực

2.2.1.4 Sự an toàn, chất lượng lương thực

Cùng với sự gia tăng thu nhập, nhu cầu tiêu dùng gạo của người dân Việt Nam đang có xu hướng giảm xuống Trong khi đó, tỷ lệ thịt, cá, trái cây… trong bữa ăn hàng ngày của người dân tăng lên Người dân đã chú trọng hơn đến chất lượng dinh dưỡng, độ an toàn của lương thực, qua đó nâng cao

chất lượng cuộc sống toàn diện của mình

Thời gian qua nhà nước và người dân đã có sự quan tâm đến vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm Nhà nước đã chú ý đến việc tuyên truyền về sức khỏe dinh dưỡng; tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra

an toàn, chất lượng lương thực, thực phẩm trên thị trường góp phần đảm bảo chất lượng, an toàn lương thực, đảm bảo an ninh lương thực

2.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân

2.2.2.1 Sản lượng lương thực có thể giảm xuống, hạn chế sự sẵn có lương thực

Hạn chế về sự sẵn có lương thực do nhiều nguyên nhân, trong đó có các nguyên nhân cơ bản:

- Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, lại đang bị thu hẹp nhanh chóng

- Ảnh hưởng của tình trạng biến đổi khí hậu, thiên tai và dịch bệnh

- Nguyên nhân cơ bản của sự giảm sút sản lượng trong tương lai, cũng có thể coi là hạn chế của an ninh lương thực, đó là lợi nhuận từ sản xuất nông nghiệp nói chung, trong đó có người trồng lúa giảm

2.2.2.2 Hạn chế trong tạo điều kiện cho người dân, nhất là người nghèo, tiếp cận lương thực

Theo số liệu thông kê của Tổ chức Oxfam (2012), có khoảng 8,7% số hộ gia đình ở nông thôn không được đảm bảo về an ninh lương thực, tỷ lệ thiếu đói lương thực cục bộ, theo mùa là 6,7% Đây là hạn chế cơ bản của an ninh lương thực Việt Nam, nhất là trong điều kiện chúng ta là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo

Một nghịch lý là nghèo đói tập trung chủ yếu ở nông thôn, nơi tạo ra lương thực Và thực tế cho thấy

là giảm nghèo đang chậm lại và có dấu hiệu không bền vững do tỷ lệ tái nghèo cao Có nhiều nguyên nhân dẫn đến điều này, có nguyên nhân từ vòng luẩn quẩn của đói nghèo của người sản xuất lương

Ngày đăng: 06/02/2014, 20:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w