1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Câu hỏi chủ nghĩa khoa học xã hội

96 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu Hỏi Chủ Nghĩa Khoa Học Xã Hội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 16,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

và phương pháp đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân để thực hiện sự chuyển biến từ cnghĩa tư bảnchế độ tư hữu Là quan hệ sản xuất trong sự tác động qua lại với lực lượng sản xuất v

Trang 1

CÂU HỎI ÔN TẬP CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 1.Trình bày đối tượng và phương pháp nghiên cứu của Chủ nghĩa xã hội khoa học và phân biệt với đối tượng nghiên cứu của Triết học Mác-Lênin và Kinh tế chính trị Mác- Lênin?

và phương pháp đấu tranh cách

mạng của giai cấp công nhân để

thực hiện sự chuyển biến từ

cnghĩa tư bản(chế độ tư hữu)

Là quan hệ sản xuất trong

sự tác động qua lại với lực lượng sản xuất và kiến trúc thường tầng nhằm tìm

ra bản chất của các hiện tượng và quá trình kt, phát hiện ra các phạm trù, quy luật kt ở các giai đoạn ptrien nhất định của XH loài người

thực tiễn; thống kê, thống kê,

tổng hợp, khái quát hoá

Phương pháp trừu tượng hoá khoa học

2.Nêu ý nghĩa của việc học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học Hãy liên hệ với bản thân trong việc hình thành lý tưởng sống?

ta thế giới quan về cộng sản chủ nghĩa.Cộng sản chủ nghĩa hay cnkhxh cấu thành từ tri thức

→Có niềm tin, lý tưởng về con đường cộng sản chủ nghĩa

• Góp phần định hướng chính trị-xh cho hoạt động thực tiễn của đảng cộng sản, nhà nước xhcn và

nhân dân trong cách mạng xhcn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xh và bảo vệ tổ quốc xhcn

• Có căn cứ nhận thức khoa học để luôn cảnh giác, phân tích đúng và đấu tranh chống lại những nhận

thức sai Chống chủ nghĩa xã hội đi ngược lại xu thế, lơi ích của nhân dân và dân tộc

+ Ý nghĩa thực tiễn:

• Nghiên cứu chủ nghĩa khoa học xã hội trong điều kiện hiện nay hết sức khó khăn và có ý nghĩa chính trị cấp bách vì chủ nghĩa xã hội cho đến nay chưa có nước nào là hoàn chỉnh Sau chế độ xhcn ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ cũng với sự thoái trào của hệ thống các nước xhcn, lòng tin vào cnxh vào cnxhkh cn MAC của một bộ phận quần chúng nhân dân và đảng viên bị suy giảm

• Chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng và kiên định, sáng tạo thì mới tìm ra đc những nguyên nhân

cơ bản và bản chất của những sai lầm khuyết điểm khủng hoảng dẫn đến sự sụp đổ của cnxh ở Lxo

cũng như thấy đc thành quả của công cuộc đổi mới, cảicasch ở các nước xhcn hiện nay thì chúng ta mới

có thể đi đến kết luận” không phải do cnxh 1 xu thế xh hoá mạnh mẽ của nhân loại cũng không phải

Trang 2

do cn MAC hay cnxhkh sai lầm làm cho các nước xh lâm vào khủnh hoảng chính do các nước xhcn nhận thức và hành động sai”

• Xây dựng chỉnh đốn đảng, chống mọi biểu hiện cơ hội thoái hoá, biến chất trong đảng và cả xã hội, gíao dục lý luận chính trị xh 1 cách cơ bản và khoa học chính là củng cố niềm tin thực sự đối với

sv, hsinh,cán bộ và đoàn thể nhân nhân→ Ý nghĩa thực tiễn và là 1 vde cấp thiết

Góp phần quan trọng vào giáo dục niềm tin khoa học cho nhân dân và mục tiêu lý tưởng xhcn và con đường đi lên cnxh, điều này được hình thành dựa trên cơ sở nhận thức khoa học và hđ thực tiễn trên

cơ sở nhận thữ khoa học thông qua giáo dục niềm tin khoa học là sự thống nhất tình cảm, ý chí và quyết tâm

→ Liên hệ bản thân: Sau khi hiểu tri thức về cnkhxh, em có niềm tin và lý tưởng vào cộng sản chủ nghĩa, sẽ luôn tích cực học tập, rèn luyện đóng góp công cuộc xây dựng nước; đấu tranh với quan điểm sai trái

3.Hãy nêu hiểu biết của bản thân về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay? Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay đứng trước những thời cơ và thách thức gì trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình?

+ Giai cấp công nhân VN hiện nay:

• Là một lực lượng XH to lớn, đang phát triển bao gồm những người lao động chân tay và trí óc làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh, dịch vụ công nghiệp, dịch vụ có tính chất công nghiệp

• Tăng về số lượng, chất lượng :14% dân số, 27% lực lượng lao động xh, song hằng năm công nhân Vn tạo ra trên 65% giá trị tổng sản phẩm xh

Đa dạng về cơ cấu ngành nghề: công nghiệp 46,1%, dây dựng 15%, thương mại va dịch vụ 25,9%, vận tải 4,7%, khác 8,3%

• Hình thành đội ngũ công nhân tri thức

• Đứng trước nhiều cơ hội và thách thức

• Về điểm tương đồng: Giai cấp công nhân hiện nay vẫn đang là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội hiện đại Họ là chủ thể của quá trình sản xuất công nghiệp hiện đại mang tính xã hội hóa ngày càng cao.công nhân vẫn bị giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản bóc lột giá trị thặng dư Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa sản sinh ra tình trạng bóc lột này vẫn tồn tại Phong trào cộng sản và công nhân ở nhiều nước vẫn luôn là lực lượng đi đầu trong các cuộc đấu tranh vì hòa bình, hợp tác và phát triển, vì dân sinh, dân chủ, tiến bộ xã hội và chủ nghĩa

xã hội • Điểm khác biệt: Gắn liền với cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, với sự phát triển kinh tế tri thức, công nhân hiện đại có xu hướng trí tuệ hóa Tri thức hóa và trí thức hóa công nhân là hai mặt của cùng một quá trình, của xu hướng trí tuệ hóa đối với công nhân và giai cấp công nhân Trong bối cảnh mới của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp thế hệ mới (4.0), công nhân hiện đại cũng tăng nhanh về số lượng, thay đổi lớn về cơ cấu trong nền sản xuất hiện đại Với các nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp lãnh đạo và Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền

+ Đặc điểm của giai cấp công nhân VN:

Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và phát triển gắn liền với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam Giai cấp công nhân Việt Nam mang những đặc điểm chủ yếu:

a Hoàn cảnh ra đời: gắn với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp (ra đời trước giai cấp tư sản vào đầu tk 20)

b Nguồn gốc xã hội: Chủ yếu là nông dân, giai cấp công nhân Việt Nam gắn bó mật thiết với các tầng lớp nhân dân trong xã hội Lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích dân tộc gắn chặt với nhau, tạo thành

Trang 3

động lực thúc đẩy đoàn kết giai cấp gắn liền với đoàn kết dân tộc trong mọi thời kỳ đấu tranh cách mạng,

từ cách mạng giải phóng dân tộc đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay

c Quan hệ với các giai tầng: Đối kháng với tư sản Pháp, liên minh với nông dân và trí thức

d Chính trị: tinh thần dân tộc, cách mạng triệt để

+ Thời cơ và thách thức của giai cấp công nhân trong sứ mệnh lịch sử của mình:

• Kinh tế: phát triển nền kt thị trường hiện đại, định hướng xhcn Là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghệ hoá-hiện đại hoá đất nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá Phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong khối liên minh công nhân-nông dân-trí thức để tạo động lực phát triển nông nghiệp- nông thôn và nông dân nước ta theo hướng bền vững, hiện đại

• Chính trị-xh: giữ vững bản chất giai cấp công nhân của đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên Chủ động, tích cực, chỉnh đổn đảng, làm cho đảng thực sự trong sạch, vững mạnh

• Văn hoá- tư tưởng: xây dựng và phát triển nền văn hoá VN tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc, cốt lõi là xây dựng con người mới XHCN Bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mac-Lenin và tư tưởng HCM, chống lại quan điểm sai trái của thế lực thù địch Kiên định mục tiêu lý tưởng và con đường cách mạng: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH Gíao dục ý thức giai cấp, bản lĩnh chính trị, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế, củng cố mối liên hệ mật thiết giữa GCCN với dân tộc, đoàn kết giai cấp gắn liền đoàn kết dân tộc

và đoàn kết quốc tế

4.Trình bày những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân? Tại sao nói Đảng cộng sản là nhân tố quyết định thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân?

+ Điều kiện khách quan:

• Địa vị kinh tế-xh của GCCN: GCCN là đại diện cho lực lượng sản xuất và và phương thức sản xuất tiên tiến, hiện đại Lợi ích của GCCN đối đầu trực tiếp với lợi ích của GC tư sản Sự phát triển của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa tạo khả năng để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình

• Đặc điểm chính trị-xh của GCCN: GCCN là giai cấp tiên tiến nhất, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có tinh thần cách mạng triệt để, có bản chất quốc tế

→ vì Giai cấp tư sản không chỉ bóc lột công nhân trong nước mà còn ở các thuộc địa Ngày nay, CNTB chuyển sang giai đoạn độc quyền xuyên quốc gia cùng với nền kinh tế toàn cầu hoá, hàng hoá tạo ra là kết quả của người lao động ở nhiều quốc gia khác nhau=> cần phát huy tinh thần đoàn kết quốc tế

+ Nhân tố chủ quan:

• Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân về số lượng và chất lượng: Phát triển về quy mô số lượng, phát triển về chất lượng ở trình độ trưởng thành về ý thức chính trị; năng lực và trình độ làm chủ về khoa học, công nghệ; trình độ học vấn, tay nghề, chuyên môn, nghiệp vụ

• ĐCS là nhân tố quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi cứ mệnh lịch sử của mình: Quy luật ra đời của ĐCS theo Lênin, ĐCS ra ddời trên cơ sở kết hợp giữa hai yếu tối: chủ nghĩa Mac + phong trào công nhân Sụ thâm nhập của chủ nghĩa MAC vào phong trào công nhân tất yếu dẫn đến sự ra đời chính đảng của giai cấp công nhân

• Phải có sự liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác

→ Có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đó là việc thành lập đảng cộng sản của giai cấp công nhân lấy hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mac-Lenin làm nền tảng, làm kim chỉ nam cho hành động cách mạng của GCCN

+ Đảng cộng sản là nhân tố quyết định thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

Thứ nhất ĐCS là bộ phận người tiên tiến, ưu tú nhất trong giai cấp nông dân và nhân dân lao

Trang 4

động có vai trò lãnh đạo bằng hệ tư tưởng chủ nghĩa Mac-Lenin→

Thứ hai: GCCN là cơ sở xh và là nguồn bổ sung lực lượng quan trọng nhất của đảng ĐCS là tổ

chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân→ Có trình độ lý luận và tổ chức cao nhất để lãnh đạo giai cấp công nhân và dân tộc

Thứ ba: DCS đem lại sự giác ngộ, đoàn kết, nghị lực CM, trí tuệ và hành động cách mạng cho giai

cấp công nhân DCS đề ra mục tiêu, phương hướng, đường lối chính sách đúng đắn, kịp thời với hoàn cảnh đất nước, hcanh lịch sử

5.Trình bày những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội? Theo anh/chị, chúng ta cần phải làm gì

để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay?

+ Đặc trưng của chủ nghĩa xã hội:

• Giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện

• chủ nghĩa xã hội là xã hội do dân lao động làm chủ

• nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu Đây là đặc trưng về phương diện kinh tế của chủ nghĩa xh

• có nhà nước kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động

• Có nền văn hóa phát triển cao, kế thừa và phát huy những giá trị của văn hóa dân tộc và tinh hoa văn nhân loại

• bảo đảm bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân và các nước trên thế giới

+ Cần làm gì để xây dựng chủ nghĩa xh ở VN:

.Theo đại hội đại biểu:

a.Đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước gắn với kinh tế tri thức bảo vệ tài nguyên môi trường

b Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

c Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

d Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội

e Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, Hòa Bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

f Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất

g Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

h Xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh

.Theo em:

Một là, đổi mới tư duy về ngôn ngữ học Đổi mới tư duy về ngôn ngữ học có nghĩa là cần phải nhìn

nhận khái niệm theo mô hình cấu trúc thực chất của sự thật như sau: “Bản chất sự thật - thực chất thật - tính chất thật sự” Tức khái niệm bao hàm các mặt bản chất (nội dung, bên trong), tính chất (hình thức,

bên ngoài) và thực chất (nguyên lý, toàn diện) tồn tại ở giữa Mô hình cấu trúc thực chất của khái niệm

có thể được biểu thị như sau: bản chất bên trong (động từ) - thực chất ở giữa (danh từ) - tính chất bên

ngoài (tính từ) Điều đó có nghĩa là, khi một từ, cụm từ được sắp xếp theo đúng quy luật khách quan, thì chúng có thể được nhìn nhận là “khái niệm hoàn chỉnh” (khái niệm vừa thể hiện cả động từ, danh

từ, tính từ) hoặc “khái niệm chưa hoàn chỉnh” (khái niệm chỉ thể hiện động từ, danh từ; hoặc danh từ - tính từ) Do vậy, đổi mới tư duy về khái niệm trong ngôn ngữ học có nghĩa là mỗi công chức chính trị, viên chức hành chính, đại biểu dân cử, các nhà khoa học cần phải nhận thức rõ bản chất (bên trong), tính chất (bên ngoài) và thực chất (toàn diện) tồn tại ở giữa của khái niệm Đây được coi là cơ sở lý

Trang 5

luận để đổi mới tư duy nghiên cứu khoa học xã hội nói chung, phát triển xã hội và xây dựng CNXH nói riêng ở Việt Nam.

Hai là, đổi mới tư duy về phát triển xã hội Phát triển xã hội hay xã hội phát triển là khái niệm

chưa được các nhà khoa học nhận thức thấu đáo, phân tích thật rõ ràng Phát triển xã hội có thể

được nhìn nhận là khái niệm biểu hiện thực chất sự công bằng, bình đẳng, công lý về quyền lợi, giá trị, tinh thần giữa các cá nhân (cá thể), nhóm (tập thể), cộng đồng (xã hội) của loài người Phát triển xã hội

là khái niệm gắn liền với khái niệm tiến bộ xã hội Phát triển xã hội là cơ sở nền tảng để phát triển đất nước (quốc gia) Phát triển quốc gia là khái niệm biểu hiện thực chất sự cân đối (bình đẳng), cân bằng (công bằng), hài hòa (công lý) về phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội giữa các cá nhân, nhóm, cộng đồng

Mô hình cấu trúc thực chất của phát triển xã hội, quốc gia có thể được biểu thị như sau: giá trị (bản chất phát triển: thực hiện bình đẳng xã hội) - tinh thần (thực chất phát triển: bảo đảm công lý quốc gia)

- quyền lợi (tính chất phát triển: công bằng xã hội) Điều đó có nghĩa, đổi mới tư duy về phát triển xã

hội là cần phải nhận thức đúng đắn về tính chất, bản chất, thực chất của phát triển xã hội Tính chất của phát triển xã hội là nói tới phát triển kinh tế; bản chất của phát triển xã hội là nói tới phát triển văn hóa; còn thực chất của phát triển xã hội là nói tới phát triển quốc gia

Ba là, đổi mới tư duy về xây dựng CNXH Đã nhiều năm nay, các nhà khoa học, lãnh đạo chính trị,

xã hội ở Việt Nam thường chỉ nói tới xây dựng CNXH mà không nói tới thực hiện CNXH; tức là, CNXH

chỉ được nhận thức về mặt xây dựng mục tiêu (tính chất), chứ không được nhận thức về mặt phương pháp (bản chất) và nguyên tắc (thực chất) thực hiện, nhằm bảo đảm đạt được mục tiêu Do vậy, đổi mới tư duy về xây dựng CNXH, tức là cần nhận thức đúng đắn rằng, đây chính là xây dựng và thực hiện mục đích (mục tiêu) phát triển của CNXH, hay xây dựng CNXH phát triển hướng tới “một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”như điều mong muốn cuối cùng của Hồ Chí Minh trong bản Di chúc Điều đó có nghĩa là, CNXH phát triển cũng tương tự như một con đường phát triển theo quy luật khách quan

Trong con đường này, xã hội phát triển được coi là mục tiêu của cộng đồng quốc gia, dân tộc,

còn CNXH phát triển được coi là phương pháp dân chủ, nguyên tắc pháp quyền để thực hiện, nhằm

bảo đảm đạt được mục tiêu xã hội phát triển Nói cách khác, xã hội Việt Nam muốn phát triển nhanh

và bền vững, thì cần phải xây dựng “thể chế chính trị - xã hội pháp quyền dân chủ”), nhằm thực hiện từng bước các mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống

ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” như Điều 3 Hiến pháp Việt Nam năm 2013

đã nêu ra

6.Phân tích tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội? Nêu những nhiệm vụ

cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói chung và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam nói riêng?

Có 2 hình thức quá độ là quá độ trực tiếp từ CNTB phát triển lên CNXH và quá độ gián tiếp từ CNTB chưa phát triển lên CNXH

+ Tính tất yếu của thời kỳ quá độ:

CNXH và CNTB khác nhau về chất:

→ CNTB: chế độ tư hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất áp bức và bóc lột đối kháng giai cấp

→ CNXH: chế độ công hữu về TLSX không còn tình trạng áp bức và bóc lột k còn đối kháng giai cấp

CNTB tạo ra cơ sở vật chất – kỹ thuật nhất định cho CNXH, nhưng để cơ sở - kỹ thuật đó phục vụ

cho CNXH cần phải có thời gian tổ chức, sắp xếp

→ Những nước chưa trải qua CNTB tiến lên CNXH, cần có 1 tgian dài để tiến hành công nghiệp hoá XHCN (Từ lạc hậu sang hiện đại là cả một quá trình dài)

Các quan hệ xã hội của CNXH không thể tự phát ra đời trong lòng CNTB, các quan hệ xh đó là

kết quả của quá trình xây dựng và cải tạo CNXH Do đó, cần phải có thời gian để hình thành và phát

Trang 6

triển những quan hệ xã hội mới

Xây dựng CNXH là một nhiệm vụ mới mẻ, khó khăn và phức tạp, cần phải có thời gian để giai cấp

công nhân làm quen với nhiệm vụ này

→ ĐỘ DÀI CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TỪ CNTB LÊN CNXH Ở CÁC NƯỚC LÀ KHÁC NHAU: trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển cao thì thời kỳ quá độ có thể ngắn Những nước trải qua chủ nghĩa tư bản ở trình độ trung bình hoặc tìm tư bản thì thời kỳ quá độ sẽ kéo dài với rất nhiều khó khăn, phức tạp

+ Nhiệm vụ cơ bản của thời kỳ quá độ CNXH :

• Kte: xây dựng quan hệ sản xuất mới dựa trên chế độ sở hữu XH về tư liệu sx Vd ở nước Nga, LeNin

đã thực hiện chính sách kinh tế mới, sắp xếp bố trí lực lượng sx hiện có của xh, cải tạo quan hệ sx cũ xây dựng quan hệ sản xuất mới trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sx Đối với các nước chưa trải qua quá trình công nghiệp hoá thì tất yếu phải tiến hành công nghiệp hoá xhcn nhằm tạo cơ sở vật chất kỹ thuật của cnxh Phát triển nền kt theo xhcn

• Chính trị: tiến hành đấu lại chống lại thế lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng cnxh Củng cố

nhà nước và nhân dân xhcn Đảm bảo quyền làm chủ trong hđ kt-chính trị -vhxh của nhân dân lđộng Xây dựng các tổ chức chính trị xh thực sự là nơi thực hiện quyền làm chủ của nhân nhân XD đảng cộng sản trong sạch vững mạnh

• Tư tưởng-văn hoá: thực hiện tuyên truyền phổ biến tư tưởng khoa học xã hội của MacLeNin trong

toàn xã hội

+ Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ:

• KT-CT giống trên

• Tư tưởng văn hoá: Khắc phục tư tưởng và tâm lý có ảnh hưởng tiêu cực với xây dựng cnxh Xây

dựng nền vh mới xh cn đậm bản sắc dân tộc, tiếp thu văn hoá thế giới( giống ở trên nhưng thêm lý tưởng và tư tưởng của Hồ Chí Minh

• XH: khăc phục tệ nạn xh do xh cũ để lại, khắc phụ sự chênh lệch giữa các vùng miền, dân tộc nhằm

thực hiện mục tiêu

7.Phân tích bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay? Hãy so sánh nền dân chủ XHCN và nền dân chủ TBCN?

+ Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở VN hiện nay:

• Ở VN, bản chất dân chủ xh chủ nghĩa dựa vào nhà nước xhcn và sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân → Dân là gố

• Kế thừa thừa tư tưởng dân chủ trong lịch sử và trực tiếp là tư tưởng dân chủ của HCM, từ khi ra đời cho đến nay, nhất là thời kỳ đổi mới, đảng ta luôn xác định

・Dân chủ là mục tiêu của chế độ xhcn (dân giàu nước, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh)

・Dân chủ là bản chất bản chất của chế độ xhcn (do dân làm chủ, quyền lực thuộc về nhân dân)

・Dân chủ là động lực để xây dựng chủ nghĩa xã hội (phát huy sức mạnh của nhân dân, của toàn dân tộc)

・Dân chủ gắn với pháp luật (phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương)

+ So sánh nền dân chủ XHCN và nền dân chủ TB

Trang 7

8.Vì sao nói dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay? Hãy liên hệ với bản thân trong việc xây dựng và phát huy dân chủ?

+ Dân chủ là mục tiêu

• Nền dân chủ xhcn phải được xác lập và không không ngừng hoàn thiện trong quá trình phát triển đất nước, thể hiện rất rõ trong phương hướng xây dựng xhcn ở VN: dân giàu nuớc mạnh dân chủ công bằng văn minh→Dân chủ chính là mục tiêu dây dựng cnxh

• Mọi chủ chương chính sách của đảng và nhà nước Vn đều xuất phát từ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân

• Nhân dân lđ làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xh, là thước đo và là tiêu chí đánh giá độ hoàn thiện nền dân chủ xhcn

→Liên hệ bản thân: phải nhìn nhận rõ ràng về nền dân chủ xã hội vì công cuộc phát triển nền dân chủ xh

là của toàn dân, tiếp cận những luận điểm đúng và chống lại những tư tưởng sai lệch Luôn thực hiện quyền dân chủ của mình như quyền bầu cử, ứng cử Pháy huy tinh thần tự giác phát huy phát triển xây dựng đất nước

9.Trình bày phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt

Nam? Anh/chị hãy nêu trách nhiệm của cá nhân trong việc góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam?

+ Những phương hướng xây dựng:

Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và

quản lý nhà nước , phương hướng này vừa cơ bản vừa cấp bách hàng đầu Mở rộng dân chủ phải đi

đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; quyền lợi đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ, dân chủ được thể hoá thành pháp luật, dân chủ trong khuân khổ pháp luật; khắc phục tình trạng vô kỷ luật, dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để gây rối Để thực hiện phương hướng trên, điều quan trọng là nâng cao chất lượng chế độ dân chủ đại diện, mở rộng và có cơ chế từng bước thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp một cách thiết thực đúng đắn và có hiệu quả

Khái niệm Nền dân chủ cho đại đa số nhân dân lao

động, phục vụ lợi ích cho đại đa số

Nền dân chủ cho thiểu số, phục vụ lợi ích

cho thiểu số Bản chất Là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp

công nhân nhưng nó phục vụ cho đa số

Bởi vì, lợi ích của giai cấp công nhân phù hợp với lợi ích của nhân dân lao động

Mang bản chất của tư bản,

Cơ sở kinh tế Dân chủ XHCN được thực hiện trên cơ sở

kinh tế được công hữu hoá các tư liệu sản

xuất chủ yếu

Dân chủ tư bản được thực hiện trên cơ sở

kt là chế dộ chiếm hữu tư nhan TBCN về

tư liệu sản xuất chủ yêu của toàn XH đó là

chế độ áp bực bóc lột

Trang 8

Nâng cao chất lượng hoạt động và kiện toàn tổ chức quốc hội: nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt

động luật pháp, nâng cao năng lực quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, nâng cao chất lượng giám sát của quốc hội, tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy

Tiếp tục cải chính nền hành chính của nhà nước: nâng cao hiệu quả hoạt động của chính phủ, đẩy

mạnh phân cấp quản lý, đổi mới công tác thanh tra và kiểm tra

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương: kiện toàn chính quyền cơ sở, đổi mới tổ

chức, hoạt động của hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân các cấp

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực là yếu tố quyết định chất lượng của

bộ máy nhà nước, phải quy định chặt chẽ các chế độ, tiêu chuẩn của cán bộ các cấp, các ngành để công bằng, chống lãng phí, chống đặc quyền, đặc lợi

Đẩy mạnh cải cách tư pháp: hoạt động tư pháp nhằm đấu tranh nghiêm trị các tội chống tổ quốc

chống chế độ, tội tham những và các tội hình sự khác để đảm bảo quyền loại ích hợp pháp quyền của công dân, nâng cao chất lượng hoạt động của viện kiểm sát theo chức năng quy định trong hiến pháp

và tập trung làm tốt chức năng công bố và kiểm soát hoạt động tư pháp, đổi mới hệ thống toà án nhân dân, kiện toàn các cơ quản điều tra, bổ trợ tư pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch vững mạnh

có phẩm chất chính trị và đạo đức và năng lực chuyên môn

Tăng cường sự lạnh đạo của đảng đối với nhà nước: đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của

đảng đối với nhà nước, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đảng trong các cơ quan nhà nước

→ Xây dựng nhà nước pháp quyền xhcn là quá trình nhận thức, phát triển tư duy của đảng ta ngày càng hoàn thiện, đồng thời là một nhiệm vụ quan trọng Vì vậy, toàn dân ta cần phải quán triệt, thực hiện hiệu quả tác phong nghiêm túc, trong sạch khi làm việc, công bằng khi đưa ra quyết định Bản thân mỗi người phải hiểu và nắm rõ quyền của mỗi người như quyền bầu cử, quyền ứng cử

10.Phân tích tính tất yếu của liên minh giai cấp, tầng lớp trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa? Hãy liên hệ trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ở nước ta hiện nay?

+ Tính tất yếu:

•Xét dưới góc độ chính trị: trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản,

giai cấp công nhân phải liên minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động để tạo sức mạnh tổng hợp đảm bảo cho thắng lợi của cuộc cách mạng xhcn cả trong giai đoạn giành chính quyền

và giai đoạn xây dựng chế độ xã hội mới

•Xét dưới góc độ kinh tế: liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội xuất phát từ yêu cầu khách quan của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền tảng vật chất – kỹ thuật cần thiết cho chủ nghĩa xã hội

+ Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ở nước ta: Đoàn kết toàn dân tộc chính là tư tưởng, chiến

lược cơ bản, nhất quán, và xuyên suốt trong sự nghiệp lãnh đảo của đảng cộng sản và cuộc đời cách mạng của HCM Đảng ta đã xác định được vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của đảng phải quán triệt trong nhiều lĩnh vực: đường lối, chủ trương, chính sách đến thực tiễn Qua các thời kỳ cách mạng trước đây và hiện nay, đảng ta đã tập hợp đoàn kết và phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc đã tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù giải phóng dân tộc như chiến thắng chống Pháp, chiến thắng chống Mĩ cũng như sự nghiệp đổi mới đất nước hội nhập quốc tế Trong công cuộc đổi mới đất nước, đường lối chủ trương của đảng và nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng cải thiện và được thể chế hoá bằng chính sách, pháp luật và các tầng lớp nhân dân, bao gồm các giai cấp và tầng lớp khác nhau đã nỗ lực chung sức để cùng đảng vượt qua khó khăn, thử thách, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an sinh xh, tiếp tục nâng cao ý chí của đảng ta trên trường quốc tế Để phát huy vai trò của đảng, nghị quyết đại hội 13 đã xdinh cần phát huy vai trò của cả hệ

Trang 9

thống chính trị trong xdung khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự toàn kết nhất trí trong đảng là điều kiện kiên quyết để đảng ta thực sự xứng đáng là hạt nhân đoàn kết của toàn xh, sự lãnh đạo của đảng là ngọn ngờ quy tụ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện mục tiêu, dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

11.Nêu bản chất, tính chất và chức năng của tôn giáo? Làm thế nào để phát huy mặt tích cực và hạn chế tiêu cực của các tôn giác trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta?

+ Bản chất:

• Tôn giáo là một hiện tượng xã hội – văn hoá: Con người sáng tạo ra tôn giáo vì mục đích, lợi ích của họ, phản ánh những ước mơ, nguyện vọng, suy nghĩ của họ Nhưng, sáng tạo ra tôn giáo, con người lại bị lệ thuộc vào tôn giáo, tuyệt đối hoá và phục tùng tôn giáo vô điều kiện

• Tôn giáo phản ánh hư ảo hiện thực khách quan

+ Tính chất:

• Tính chất lịch sử: Con người sáng tạo ra tôn giáo Tôn giáo chỉ xuất hiện khi khả năng tư duy trừu

tượng của con người đạt tới một mức độ nhất định Mặc dù tôn giáo còn tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ là

• Tính chất quần chúng: Tính chất quần chúng của tôn giáo thể hiện ở tín đồ các tôn giáo thuộc tất cả

các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, chiếm tỉ lệ cao trong dân số thế giới Nếu chỉ tính các tôn giáo lớn,

đã có tới từ 1/3 đến một nửa dân số thế giới chịu ảnh hưởng của tôn giáo

Tính chất quần chúng của tôn giáo xuất phát từ nhiều nguyên nhân Một mặt, cho đến nay sự phát triển của khoa học, sản xuất và xã hội chưa loại bỏ được những nguồn gốc nảy sinh tôn giáo Mặt khác, tôn giáo cũng đang đáp ứng phần nào nhu cầu tinh thần của quần chúng, phản ánh khát vọng của những người bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng

• Tính chất chính trị: Tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp, có sự

khác nhau về lợi ích và các giai cấp bóc lột thống trị lợi dụng tôn giáo phục vụ lợi ích của mình

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa tôn giáo hoàn toàn tách rời với chính trị Nhà nước thực hiện quyền tự

do tín ngưỡng, bao gồm quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào; sinh hoạt tôn giáo mang tính chất tôn giáo thuần túy, không gắn với chính trị Chính sách tôn giáo của nhà nước xã hội chủ nghĩa đã loại bỏ hoàn toàn tính chất chính trị của tôn giáo

Vì vậy, cần nhận rõ rằng, đa số quần chúng tín đồ đến với tôn giáo nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần; song, trên thực tế, tôn giáo đã và đang bị các thế lực chính trị – xã hội lợi dụng thực hiện mục đích ngoài tôn giáo của họ

+ Chức năng:

• Đền bù hư ảo: không chỉ là chức năng chủ yếu mà còn là chứng năng phổ biến của tôn giáo

Thế giới khách quan: sự lý giải của tôn giáo về thế giới nhằm hướng con người tới cái siêu nhiên , thần thánh, do đó nó đã xem nhẹ đời sống hiện thực

• Điều chỉnh: tôn giáo đã tạo ra một hệ thống các chuẩn mực, những giá trị nhằm điều chỉnh hành của

những con người có đạo Những hành vi được điều chỉnh ở đây không chỉ là những hành vi trong thờ cúng mà ngay cả trong cuộc sống hàng ngày trong gia đình cũng như ngoài xã hội của giáo dân

• Giao tiếp: thể hiện khả năng liên hệ giữa những người có chung một tín ngưỡng Sự liên hệ (giao

tiếp) được thực hiện chủ yếu trong hoạt động thờ cúng, sự giao tiếp với thánh thần được coi là sự giao

Trang 10

tiếp tối cao Ngoài mối liên hệ giao tiếp trong quá trình thờ cúng, giữa các giáo dân còn có sự giao tiếp ngoài tôn giáo như liên hệ kinh tế, liên hệ cuộc sống hàng ngày, liên hệ trong gia đình Những mối liên hệ ngoài tôn giáo có thể lại củng cố, tăng cường các mối liên hệ tôn giáo của họ

• Liên kết: tôn giáo với tư cách là bộ phận tất yếu trong cấu trúc thượng tầng đã đóng vai trò quan trọng

của nhân tố liên kết xã hội, nghĩa là nhân tố làm ổn định những trật tự xã hội đang tồn tại, dựa trên những hệ thống giá trị và chuẩn mực chung của xã hội

+ Làm thế nào để phát huy mặc tích cự và hạn chế tiêu cực của các tôn giáo trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta:

• Tôn giáo trong quá trình tồn tại và phát triển luôn bộc lộ hai mặt tích cực và tiêu cực Trước

đây, do yêu cầu của cách mạng cần phải tập trung cho nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc trong điều kiện các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nên chúng ta thường nhấn mạnh đến mặt tiêu cực, hạn chế của tôn giáo, như tư tưởng yếm thế, ru ngủ con người Theo quan điểm đổi mới của Đảng, bên cạnh mặt hạn chế cần khắc phục, phải trân trọng và phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo, trong đó có mặt tích cực về đạo đức, văn hóa tôn giáo Tôn giáo có chức năng điều chỉnh hành vi xã hội của con người, hướng con người đến chân, thiện, mỹ Giáo lý giáo luật và những lời răn dạy của tôn giáo đã tạo ra những quy phạm đạo đức hướng con người làm các việc thiện lành, tránh điều ác, tu nhân tích đức để được giải thoát (Phật giáo), được lên thiên đàng (Kitô giáo, Hồi giáo) Thực tế cho thấy, ở những nơi tôn giáo ổn định, có đông tín đồ thì các tệ nạn xã hội ít hơn, trật tự ổn định và lối sống đạo đức nền nếp hơn

•Để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của tôn giáo chúng ta phải làm tốt những việc

.Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta : Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Cùng với việc khẳng định quyền tự do hoạt động tôn giáo của tín đồ và các tổ chức tôn giáo hợp pháp, cần nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân chưa được nhà nước thừa nhận tư cách pháp nhân truyền đạo, nghiêm cấm việc lợi dụng hoạt động tôn giáo để tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, trục lợi cá nhân hay ép buộc người khác theo đạo Điều đó không chỉ bảo đảm cho hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật, giữ vững tình hình chính trị-xã hội mà còn bảo vệ các tôn giáo chân chính, chống tà đạo, tà giáo và hiện tượng mê tín dị đoan nhằm làm lành mạnh hoá môi trường sinh hoạt tôn giáo theo nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo .Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng: Thực hiện tốt công tác tôn giáo, khơi dậy, động viên tín đồ, chức sắc các tôn giáo phát huy những giá trị tốt đẹp, mặt tích cực, điểm tương đồng của tôn giáo với chủ nghĩa xã hội; phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào các tôn giáo làm cho họ tự giác đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: "Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tô quốc

.Vấn đề theo đạo và truyền đạo Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự

hợp pháp theo quy định của pháp luật: Thực hiện đoàn kết toàn dân tộc, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia, giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp với đấu tranh loại trừ các tệ nạn mê tín, hủ tục nhằm bảo đảm cho môi trường sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh

.Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị: Các cấp chính quyền có trách nhiệm thể chế hóa chủ trương của Đảng bằng các văn bản quy phạm pháp luật về tôn giáo; thực hiện quản lý các hoạt động tôn giáo, đưa cáo hoạt động tôn giáo vào khuôn khổ của pháp luật Mặt khác, các cấp chính

Trang 11

quyền còn phải chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của tín đồ các tôn giáo bằng các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đấu tranh chống các hoạt động lợi dụng tôn giáo nhằm làm lành mạnh hóa các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng Mặt trận và các đoàn thể tuyên truyền, vận động quần chúng, đưa quần chúng tín đồ các tôn giáo theo từng giới, từng lứa tuổi tham gia các đoàn thể chính trị-xã hội, các đoàn thể xã hội và các đoàn thể nghề nghiệp khác

12.Trình bày những quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về dân tộc và giải quyết dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội? Nêu ý nghĩa của việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay?

+ Quan điểm:

Đoàn kết dân tộc – vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng VN

Các dân tộc bình đẳng, tương trợ nhau cùng phát triển và xây dựng, bảo vệ tổ quốc VN xhcn

phát triển toàn diện các dân tộc vì chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc…

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi

Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị…

+ Giải quyết dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:

Về chính trị: thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc

Chính sách dân tộc góp phần nâng cao tính tích cực chính trị của công dân; nâng cao nhận thức của đồng bào các dân tộc thiểu số về tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, đoàn kết các dân tộc, thống nhất mục tiêu chung là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Về kinh tế: nội dung, nhiệm vụ kinh tế trong chính sách dân tộc là các chủ trương, chính sách phát

triển kinh - tế xã hội miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm phát huy tiềm năng phát triển, từng bước khắc phục khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, các dân tộc Thực hiện các nội dung kinh tế thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế ở các vùng dân tộc thiểu số, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ địa cách mạng

Về văn hoá: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.Đào tạo cán bộ văn hóa, xây dựng môi trường, thiết chế văn hóa phù hợp với điều kiện của các tộc người trong quốc gia

đa dân tộc,Đồng thời, mở rộng giao lưu văn hóa với các quốc gia, các khu vực và trên thế giới Đấu tranh chống tệ nạn xã hội, chống “diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng văn hóa ở nước ta hiện nay

Về xã hội: thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo an sinh xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu

số Phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở các tổ chức chính trị xã hội ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số.Từng bước thực hiện bình đẳng xã hội, công bằng thông qua việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, dân số, y tế, giáo dục trên cơ sở chú ý đến tính đặc thù mỗi vùng, mỗi dân tộc Phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở và các tổ chức chính trị - xã hội ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số

Về an ninh, quốc phòng: tăng cường sức mạnh bảo vệ tổ quốc trên cơ sở đảm bảo ổn định chính

trị, thực hiện tốt an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.phối hợp chặt chẽ các lực lượng trên từng địa bàn Tăng cường quan hệ quân dân, tạo thế trận quốc phòng toàn dân trong vùng đồng bào dân tộc sinh sống

+ Ý nghĩa: giống câu 10

Trang 12

13.Trình bày quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với tín

ngưỡng, tôn giáo hiện nay? Những quan điểm, chính sách này có vai trò như thế nào?

tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào, quyền sinh hoạt ín ngưỡng, tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật

• Đồng bào các dân tộc tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc:

Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đồng bào các dân tộc tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền quan trọng của công dân luôn được Đảng và Nhà nước ta công khai thừa nhận và tôn trọng Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo và không theo đạo cũng như giữa các tôn giáo khác nhau Đoàn kết gắn bó đồng bào theo các tôn giáo và không theo tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữ gìn độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia

• Thực hiện nhất quán chính sách

Hai là, Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo Trong đó, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời chống lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ dân tộc, gây rối, xâm phạm đến lợi ích quốc gia Trong bối cảnh xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới, cần cảnh giác chống việc lợi dụng tôn giáo và dân tộc kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia Giữ gìn, phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với tổ quốc và nhân dân nhằm phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc khai thác điểm tương đồng giữa những người có tôn giáo và không có tôn giáo, giữa những người theo tôn giáo khác nhau

• Công tác vận động quần chúng là cốt lõi của công tác tôn giáo

Ba là, nội dung dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng Hướng công tác tôn giáo vào công tác vận động quần chúng Mẫu số chung, sự tương đồng giữa người có đạo và người không có đạo để đoàn kết phấn đấu cho lợi ích chung là độc lập cho dân tộc và cơm no, áo ấm, hạnh

Trang 13

phúc cho mọi người, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Công tác vận động quần chúng tôn giáo phải động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân, trong đó có đồng bào tôn giáo

• Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị

Bốn là, công tác tôn giáo có trách nhiệm của cả hệ thống chính trị Tôn giáo và những hoạt động tôn giáo gắn với đời sống tâm linh của đồng bào có đạo và liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, quan hệ đến các cấp, các ngành, các địa bàn dân cư Vì vậy, làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, làm tốt công tác tôn giáo Tăng cường củng cố và kiện toàn tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo, nhất là ở những địa bàn trọng điểm có đông đồng bào tôn giáo Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng quyền tự do tôn giáo của công dân Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, các tổ chức xã hội và các tổ chức tôn giáo có trách nhiệm làm đúng công tác vận động quần chúng và thực hiện đúng chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước

• Mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật

Năm là, vấn đề theo đạo và truyền đạo Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ Mỗi tín đồ có quyền tự bày tỏ niềm tin tôn giáo của mình tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật: không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín, dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo Đồng thời, nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định Hiến pháp và pháp luật Các tổ chức tôn giáo có tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo, cơ cấu tổ chức phù hợp với pháp luật được Nhà nước cho phép, được pháp luật bảo hộ, được mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh thánh và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định pháp luật Từ Đại hội Đảng lần thứ X (4/2006) đã khẳng định:

“Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo” Tại Đại hội Đảng lần thứ XII (1/2016), Đảng ta khẳng định:

“Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo” Đến Đại hội Đảng lần thứ XIII (6/2021), Đảng ta nêu rõ: “Phát huy các nhân tố tích cực, nhân văn trong các tôn giáo, tín ngưỡng Phê phán và ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, mê tín, dị đoan”

+ Vai trò: Phát triển đời sống của nhân dân, góp phần vào việc đảm bảo ổn định chật tự xã hội, tránh

việc các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo Chính sách của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng tôn giáo là cơ sở để giải quyết các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo; đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; góp phần khắc phục những hạn chế (mặt tiêu cực) và phát huy những mặt tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo; củng cố khối đại đoàn kết dân tộc,

14 Nêu khái niệm, vị trí và vai trò của gia đình trong xã hội? Vì sao vấn đề gia đình lại rất được quan tâm trong thời gian gần đây?

+ Khái niệm: Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì và củng

cố chủ yếu dựa trên quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng, cùng với quy định

về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình

+ Vị trí:

• Gia đình là tế bào của xã hội: gd như một tế bào tự nhiên, là một đơn vị cơ sở để tạo nên cơ thể -

xã hội Không có gia đình để tái tạo ra con người thì xã hội không thể tồn tại và phát triển được Chủ

Trang 14

tịch Hồ Chí Minh đã nói “ nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tối Hạt nhân của xã hội chính là gia đình”

• Gia đình là tổ ấm, mang lại các giá trị hạnh phúc Sự hài hoà trong đời sống của mỗi thành viên

• Gia đình là cầu nối giữa cá nhân với xã hội: Gia đình là cộng đồng xã hội đầu tiên đáp ứng nhu

cầu quan hệ xã hội của mỗi cá nhân Gia đình cũng chính là môi trường đầu tiên mà mỗi cá nhân học được và thực hiện quan hệ xã hội

+ Vai trò của gia đình: Vai trò của gia đình là một trong những nội dung then chốt của việc nghiên

cứu về gia đình Gia đình là cách thức cơ bản thỏa mãn các nhu cầu sống, sinh hoạt và phát triển của gia đình trong quan hệ với xã hội Các nghiên cứu về gia đình dù xét trên cấp độ vĩ mô, hay xét ở cấp

độ vi mô thì gia đình có những vai trò cụ thể Gia đình được tạo lập, tồn tại và phát triển chính là do nó

có sứ mệnh đảm đương những vai trò đặc biệt mà xã hội và tự nhiên đã trao cho, không một thiết chế

xã hội nào thay thế được Quan hệ giữa gia đình và xã hội cũng như quan hệ giữa các thành viên và các thế hệ trong gia đình thông qua việc thực hiện các chức năng gia đình

Mặt khác, gia đình là một phạm trù lịch sử Mỗi thời đại lịch sử cũng như mỗi chế độ xã hội đều sản sinh ra một loại gia đình tương ứng, xây dựng một kiểu gia đình lý tưởng phù hợp với những vai trò lịch sử của xã hội của đó ở thời tiền sử Mác và Ăngghen đã khẳng định: Gia đình "là quan hệ xã hội duy nhất" Khi đó, gia đình có vai trò vừa là cộng đồng lao động, vừa là cộng đồng sinh hoạt, là khuôn khổ tồn tại của xã hội, vai trò và chức năng của gia đình cũng đồng thời là vai trò và chức năng của xã hội (gia đình - xã hội sơ khai), thực hiện chức năng gia đình cũng là thực hiện chức năng xã hội

và ngược lại Khi xã hội ngày càng phát triển gắn liền với quá trình phân công lao động xã hội dẫn đến

có sự độc lập tương đối của gia đình đối với xã hội, thậm chí có sự đối lập giữa gia đình và xã hội tuy trong các xã hội thị tộc, bộ lạc, sự đối lập giữa gia đình và xã hội còn rất mờ nhạt nhưng đến khi có sự hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì sự đối lập đó chỉ có thể trở thành phổ biến Với

sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự biến đổi thì vai trò, chức năng của gia đình như là kết quả của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Khi bàn về vai trò và chức năng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay có thể thấy qua 5 chức năng chủ yếu như sau:

Một là: Chức năng sinh đẻ (tái sản xuất ra con người)

Gia đình bắt đầu hình thành khi thực hiện nhu cầu hôn nhân (trong đó có tình dục giữa cha và mẹ - hai nhân vật chính đầu tiên kiến tạo nên gia đình), từ đó thực hiện chức năng sinh con đẻ cái, duy trì nòi giống, tái sản xuất ra con người Tái sản xuất ra con người theo nghĩa hẹp là sinh con đẻ cái, theo nghĩa rộng bao hàm cả nuôi dưỡng và giáo dục của gia đình

Xã hội tồn tại và phát triển dựa trên hai cơ sở quan trọng là tái sản xuất ra của cải vật chất và tái sản xuất ra chính bản thân con người Sự tồn tại của loài người phụ thuộc vào quá trình tái sản xuất này của gia đình Việc tái sản xuất ra thế hệ tương lai, một mặt đáp ứng yêu cầu cung cấp lực lượng lao động mới cho xã hội, mặt khác đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của chính gia đình Con cái trở thành chỗ dựa, nguồn tình cảm của ông bà, cha mẹ và của cả dòng tộc

Hai là: Chức năng kinh tế (sản xuất các giá trị vật chất)

Cùng với quá trình phát triển lực lượng sản xuất, gia đình trở thành một đơn vị kinh tế Gia đình là một đơn vị có chung tài sản, trước hết về mặt vật chất và sáng tạo ra các tài sản đó thông qua hành vi sản xuất, làm kinh tế Đây là một nền tảng vật chất không thể thiếu của gia đình Tất nhiên, mức độ biểu hiện của chức năng này rất khác nhau trong tiến trình lịch sử

Ba là: Chức năng tiêu dùng

Trong hoạt động sống, gia đình luôn thực hiện việc tiêu dùng của gia đình để đáp ứng các nhu cầu hàng ngày về ăn, uống, mặc, ở, đi lại, học hành, giải trí của các thành viên gia đình Gia đình không chỉ là một đơn vị sản xuất, mà còn là một đơn vị tiêu dùng Gia đình trở thành nơi nghỉ ngơi, vui chơi,

Trang 15

giải trí, tổ chức việc tiêu dùng vật chất và hưởng thụ các sản phẩm văn hóa sau giờ lao động

Bốn là: Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục

Gia đình là nơi nuôi dưỡng và trường học đầu tiên tác động đến con người về nhiều mặt (thể chất, văn hóa, trí tuệ, xã hội, lao động…)

Giáo dục xã hội và giáo dục nhà trường là những yếu tố quyết định để định hướng sự phát triển nhân cách Tuy nhiên, giáo dục gia đình lại có vai trò quan trọng đầu tiên trong việc hình thành và phát triển nhân cách cá nhân Nội dung giáo dục gia đình bao gồm các yếu tố của văn hóa gia đình, văn hóa cộng đồng, nhằm tạo lập và phát triển nhân cách của con người như: đạo đức, lối sống, ứng xử, tri thức, lao động và khoa học Giáo dục gia đình được thực hiện trong suốt quá trình sống của con người với

những hình thức và nội dung giáo dục cụ thể, phong phú

Năm là: Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm - sinh lý

Trong quá trình sống của con người, nhiều vấn đề tâm - sinh lý thuộc giới tính, thế hệ luôn diễn ra trong phạm vi gia đình mà trước hết là trong quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái Bởi vậy, sự hiểu biết tâm - sinh lý cá nhân, sở thích của nhau để ứng xử phù hợp, tế nhị, chân thành, tạo nên không khí tinh thần lành mạnh, ổn định, hài hòa là vấn đề quan trọng mà gia đình phải và có thể đảm nhận

→ Như vậy, gia đình là thiết chế đa chức năng Thông qua việc thực hiện các vai trò, chức năng trên đây mà gia đình tồn tại và phát triển, đồng thời tác động đến tiến độ chung của cộng đồng (làng, xã, khu phố ) và xã hội Các chức năng thực hiện trong sự thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau Dĩ nhiên, việc phân chia các chức năng của gia đình chỉ là tương đối ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, những nội dung của mỗi chức năng được biến đổi phù hợp với những điều kiện cụ thể, với quá trình phát triển xã hội

Do đó, trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm sớm đưa nước ta trở thành một nước phát triển thì việc xây dựng gia đình có vai trò hết sức quan trọng và cần được các cấp, các ngành và các địa phương quan tâm, cũng như có chính sách phù hợp cho sự phát triển tiến bộ, công bằng và thịnh vượng của gia đình

15 Trình bày những phương hướng xây dựng và phát triển gia đình ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội? Để có một gia đình hạnh phúc, chúng ta cần phải làm gì?

+ Phương hướng xây dựng và phát triển hạnh phúc ở VN trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xh

Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” Ph.Ăngghen cho

rằng, trong lịch sử phát triển của xã hội, gia đình luôn có vị trí đặc biệt Từ trong gia đình, con người

được sinh ra và trưởng thành, được nuôi dưỡng và giáo dục để hội nhập vào cuộc sống cộng đồng Khi nghiên cứu về gia đình, Ph.Ăngghen đã xuất phát từ sự phát triển của sản xuất vật chất Ông cho rằng,

“… nhân tố quyết định trong lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại Một mặt, là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần

áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác, là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống Những trật tự xã hội, trong đó những con người của một thời đại lịch

sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất quyết định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình” Như vậy, theo

Ph.Ăngghen, mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của sản xuất vật chất và sự phát triển của gia đình, trong đó, các quan hệ gia đình bị chi phối bởi sự phát triển của sản xuất, đồng thời, các quan hệ gia đình lại có ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội khác

Đặc biệt, theo Ph.Ăngghen, mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, có một hình thức gia đình phù hợp tương quan với sự biến đổi của phương thức sản xuất vật chất, từ đó, ông khẳng định rằng, sự phát triển của các hình thức gia đình từ thấp đến cao là một tất yếu của lịch sử, và con người sẽ tiến đến hình thức hôn

Trang 16

nhân cuối cùng, chế độ hôn nhân một vợ, một chồng Tuy nhiên, Ph.Ăngghen cho rằng, mặc dù hôn nhân một vợ, một chồng là hình thức của xã hội văn minh, nhưng khi mà nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

bị xóa bỏ, nền sản xuất xã hội chủ nghĩa được thiết lập thì sẽ xuất hiện một kiểu gia đình mới cao hơn Gia đình mới trong xã hội xã hội chủ nghĩa hoàn toàn dựa tình yêu và hôn nhân là tự nguyện của cả người đàn ông và người đàn bà, là nhu cầu bức thiết của con người tự do và là cơ sở, nền tảng để xây dựng gia đình một vợ, một chồng hạnh phúc, bền vững

Vận dụng những tư tưởng về gia đình của Ph.Ăngghen, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quan điểm đúng đắn và sáng tạo về xây dựng gia đình mới ở Việt Nam Người khẳng định: “Quan tâm đến gia đình

là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì vậy, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội là phải chú

ý hạt nhân cho tốt”

Trải qua các thời kỳ lịch sử, quan hệ gia đình ngày một được củng cố và hoàn thiện góp phần thúc đẩy việc hình thành và từng bước hoàn thiện quyền dân chủ trong quan hệ gia đình Việt Nam Trong khi chú trọng xây dựng gia đình mới từ vật chất đến tinh thần, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra và phê phán những thói hư tật xấu trong gia đình như bạo lực gia đình, ép duyên con, nạn tảo hôn… Như thế, gia đình nào xây dựng được những mặt tốt và gạt bỏ những mặt xấu như Hồ Chí Minh đã chỉ ra thì sẽ tạo thành gia đình mới, gia đình văn hóa, tiên tiến Đó không chỉ là môi trường để giáo dục nhân cách con người Việt Nam mà còn là cơ sở để xây dựng đời sống mới trong xã hội mới

Thấm nhuần những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhận thức đúng về vị trí, vai trò hết sức quan trọng của gia đình đối với quá trình phát triển của đất nước, những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã

có nhiều nghị quyết, chỉ thị về vấn đề gia đình, đặc biệt là xây dựng gia đình mới hiện nay Tại Đại hội

XI, Đảng ta nhấn mạnh: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội” Trên cơ sở đó, ngày 29-5-2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nêu rõ: “Xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh trong mỗi gia đình, góp phần giáo dục, rèn luyện con người

về nhân cách, đạo đức, lối sống Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh”

Quan điểm của Đảng cho thấy, muốn có một xã hội phát triển lành mạnh thì trước hết từng “tế bào” phải phát triển bền vững Gia đình không chỉ là “tế bào” tự nhiên mà còn là một đơn vị kinh tế của xã hội Gia đình không chỉ giữ vai trò nền tảng, tế bào của xã hội, duy trì nòi giống, mà quan trọng hơn, gia đình phải trở thành môi trường tốt, đầu tiên để giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách con người

Hơn 30 năm đổi mới, xã hội và con người Việt Nam đã có những đổi thay đáng kể Kinh tế hộ gia đình

đã có bước phát triển mạnh, trở thành bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần không nhỏ vào quá trình xoá đói giảm nghèo Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc giáo dục trẻ em

đã tích cực góp phần xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, xã hội ngày càng ổn định và phát triển Vai trò của phụ nữ trong xã hội và gia đình được đề cao Các hoạt động cưới xin, tang lễ cũng có nhiều tiến bộ Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đã làm cho xã hội ngày càng có nhiều gia đình văn hoá, gia đình hiếu học, tộc họ văn hoá, thôn bản văn hoá, góp phần tạo dựng cuộc sống bình yên, văn hoá hơn, hướng thiện hơn trong mỗi gia đình và trong cộng đồng xã hội Các phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công thu hút sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn của dân tộc và tô đậm thêm giá trị nhân văn của gia đình Việt Nam

+ Để có một gia đình hạnh phúc chúng ta phải làm gì

Xây dựng gia đình mới XHCN trên cơ sở kế thừa những giá trị tốt đẹp nhất của gia đình truyền thống, đồng thời tiếp thu những tiến bộ của thời đại về gia đình đó là, phải biết "gạn đục khơi trong" gạt bỏ và hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm tạo sự phát triển của từng gia đình và xã hội, phải dựa trên cơ sở

"Hôn nhân tiến bộ" coi tình yêu chân chính là cơ sở tinh thần chủ yếu Hôn nhân "một vợ một chồng"

Trang 17

đồng thời phải xây dựng mối quan hệ bình đẳng, thương yêu, có trách nhiệm giữa các thành viên trong gia đình Xây dựng mối quan hệ giữa gia đình và cộng đồng với các tổ chức chính trị, xã hội khác, đảm bảo các quyền lợi cho phụ nữ và bảo đảm sự tôn trọng lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, gia đình ở nước ta hiện nay còn bộc lộ một số hạn chế cần được khắc phục như: mặt trái của cơ chế thị trường đã và đang tác động tiêu cực đến đạo đức xã hội, nhiều tệ nạn xã hội "tấn công" vào các gia đình, ảnh hưởng lớn đến lối sống, đến việc hình thành nhân cách của con người và các mối quan hệ trong gia đình; quan hệ vợ chồng, anh em, họ hàng, làng xóm bị phai mờ, giá trị tinh thần bị xem nhẹ; những thay đổi của xã hội đã kéo theo sự thay đổi của gia đình, khiến cho các quan hệ trong gia đình trở nên lỏng lẻo; nhiều gia đình có điều kiện, cha mẹ mải lo làm

ăn, công tác, không có thời gian quan tâm giáo dục con cái dẫn đến con cái hư hỏng, sa vào tệ nạn xã hội

Tình trạng ly hôn, ly thân ngày càng gia tăng kéo theo những hệ lụy không nhỏ đối với từng gia đình và toàn xã hội: trẻ em hư hỏng, tiếp thu văn hóa phẩm tiêu cực, bỏ học lang thang kiếm sống, vi phạm pháp luật… Bạo lực gia đình có xu hướng tăng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà nạn nhân chủ yếu là phụ

nữ, người già, trẻ em Một trong những nguyên nhân đó là: do sự tác động của mặt trái xu thế toàn cầu hoá, nhận thức về vị trí, vai trò của gia đình chưa đầy đủ vì thế mà những giá trị của gia đình truyền thống chưa thật sự được quan tâm, chưa thấy hết và khai thác tốt tiềm lực kinh tế gia đình

Vì vậy xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững là trách nhiệm chung của mỗi cá nhân, của các gia đình và của toàn xã hội Trong đó cần chú ý một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và sự chỉ đạo của chính quyền các cấp đối với công tác gia đình Cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp cần xác định công tác gia đình là một trong những nội dung quan trọng trong các kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; xem đây là nhiệm vụ thường xuyên; xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể giải quyết những thách thức khó khăn về gia đình và công tác gia đình; xoá bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đình; phòng chống các tệ nạn xã hội, bạo lực trong gia đình; đấu tranh chống lối sống thực dụng, vị kỷ, đồi truỵ; tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ sự ổn định và phát triển của gia đình Quan tâm một cách thiết thực và toàn diện hơn nữa đối với phụ nữ, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người

mẹ, người thầy đầu tiên của con người để xây dựng gia đình "No ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc bền vững"

Thứ hai: Đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục, vận động nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, cộng đồng và các thành viên gia đình về vị trí, vai trò của gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; thực hiện chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về hôn nhân và gia đình; giúp các gia đình có kiến thức và kỹ năng sống, chủ động phòng chống sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào gia đình, kế thừa và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội phát triển

Thứ ba: Quan tâm đến phát triển kinh tế gia đình, xây dựng và hoàn thiện hệ thống dịch vụ có liên quan

để góp phần củng cố, ổn định và phát triển kinh tế gia đình; có chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển kinh tế gia đình cho các gia đình chính sách, gia đình các dân tộc thiểu số, gia đình nghèo, gia đình đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn

Ngày đăng: 26/03/2022, 00:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

• Trang bị nhận thức chính trị-xh và phương pháp lập luận về quá trình tất yếulịch sử dẫn đến sự hình thành phát triển hình thái kte xh cộng sản chủ nghĩa , giải phóng xã hội giảiphóng con người vì cnxhkh - Câu hỏi chủ nghĩa khoa học xã hội
rang bị nhận thức chính trị-xh và phương pháp lập luận về quá trình tất yếulịch sử dẫn đến sự hình thành phát triển hình thái kte xh cộng sản chủ nghĩa , giải phóng xã hội giảiphóng con người vì cnxhkh (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm