ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ *** Đề tài nghiên cứu khoa học đặc biệt cấp Đại học Quốc gia NGHIÊN CỨU CÁCH DIỄN ĐẠT GIỐNG VÀ MỘT SỐ BIỂU HIỆN CỦA SỰ KỲ THỊ GIỚI TÍNH
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
***
Đề tài nghiên cứu khoa học đặc biệt
cấp Đại học Quốc gia
NGHIÊN CỨU CÁCH DIỄN ĐẠT GIỐNG
VÀ MỘT SỐ BIỂU HIỆN CỦA SỰ KỲ THỊ GIỚI TÍNH
TRONG TIẾNG PHÁP VÀ TIẾNG VIỆT
Mã số : QG.07.41
Chủ trì đề tài : Nguyễn Hữu Thọ
Đơn vị công tác : Trung tâm Đào tạo Từ xa Trường Đại học Ngoại ngữ
Đại học Quốc gia Hà Nội
Cộng tác viên : Ths Bùi Văn Từ, Khoa NN và VH Pháp
Ths Nguyễn Việt Quang, Khoa NN và VH Pháp
Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Hà Nội - 2009
Trang 2
Ce que femme veut, Dieu le veut.
Ý của phụ nữ là ý Chúa.
Trang 3kỳ thị giới tính
sự nổi trội của giống đựcdanh từ giống đực và giống cáidanh từ giống đực
danh từ giống cáichuyển thành
từ hoặc câu (đặt ở sau) không phù hợp với chuẩn tiếng Pháp
Trang 4Mục lục
Lời nói đầu ………
Chương 1: Những vấn đề chung 1 Một số khái niệm ………
2 Sự phân biệt ngôn ngữ và lời nói ………
3 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước ………
3.1 Cách diễn đạt giống ………
3.2 Sự kỳ thị giới tính ………
Chương 2 Tìm hiểu về hình thức diễn đạt giống trong tiếng Pháp I Danh từ A Các phương thức diễn đạt giống trong tiếng Pháp ………
1 Giống tự nhiên ………
2 Giống ngữ pháp ………
3 Giống của danh từ chỉ động vật ………
4 Một số trường hợp dùng ở hai giống ………
B Sự nổi trội của giống đực trong tiếng Pháp ………
1 Về tỷ lệ danh từ giống đực/danh từ giống cái ………
2 Về khả năng đại diện ………
II Quán từ ………
III Tính từ ………
1 Tính từ chỉ tính chất 1.1 Cách diễn đạt giống của tính từ chỉ tính chất ………
1.2 Sự nổi trội của giống đực trong tính từ chỉ tính chất ………
2 Tính từ sở hữu ………
3 Tính từ chỉ số ………
4 Tính từ chỉ định ………
5 Tính từ nghi vấn ………
6 Tính từ không xác định ………
IV Đại từ 1 Đại từ nhân xưng ………
1.1 Đại từ nhân xưng làm chủ ngữ ………
1.2 Đại từ nhân xưng làm bổ ngữ trực tiếp ………
1.3 Đại từ nhân xưng làm bổ ngữ gián tiếp ………
1.4 Đại từ nhấn mạnh ………
2 Đại từ chỉ định ………
7
11 14 17 17 21
30 30 35 39 39 44 45 46 49 50
50 56 57 58 59 59 60
60 60 61 62 62 62
Trang 53 Đại từ sở hữu ………
4 Đại từ nghi vấn ………
5 Đại từ liên hệ ………
6 Đại từ không xác định ………
V Động từ ………
Chương 3 Tìm hiểu về giống trong tiếng Pháp dưới góc độ ngữ nghĩa 1 Sắc thái ý nghĩa của giống cái ………
1.1 Sự nhỏ bé và nghĩa xấu (péjoratif) ………
1.2 Xu hướng « trọng dương khinh âm »
2 Thử tìm một cách giải thích ………
Chương 4 Tìm hiểu về giống trong tiếng Việt 1 Cách nhìn tổng thể của người Việt ………
2 Phân biệt giống ở động, thực vật và vị thế ý nghĩa của « cái » ……
3 Phân biệt giới tính ở người : các cặp giới tính ………
4 Sự nổi trội của « giống cái » ………
4.1 Bàn thêm về chữ « cái » ………
4.1.1 Các loại « cái » ………
4.1.2 Mối quan hệ của « cái » loại từ và « cái » giống cái ……
4.2 Về sự xuất hiện của nam, nữ trong một số tổ hợp ………
5 Hình ảnh người phụ nữ trong tâm thức của người Việt ………
5.1 Trong ca dao, tục ngữ ………
5.2 Hình ảnh người phụ nữ dưới góc độ tôn giáo : Đạo Mẫu …
5.2 Hình ảnh người phụ nữ dưới góc độ nghệ thuật tạo hình …
6 Về một số biểu hiện kỳ thị giới tính ………
Tổng hợp 1 Cách nhìn tổng hợp và cách nhìn phân tích ………
2 Sự kỳ thị giới nữ và hệ thống ngữ pháp ………
3 Sự kỳ thị giới nữ trong các ngạn ngữ ………
4 Phản ứng của người Pháp và người Việt trước sự kỳ thị giới tính …
Kết luận ………
Tài liệu tham khảo ………
Phụ lục ………
63 63 64 64 65
68 68 71 77
80 82 85 86 86 86 90 92 94 94 98 99 101
105 106 108 109
114 118 121
Trang 6Lời nói đầu
Trang 7Lời nói đầu
Con người và con vật sinh ra, trong những trường hợp bình thường,đều thuộc về một giới: hoặc đực hoặc cái Vạn vật trong tự nhiên cũng tồntại trong những cặp đối lập: đất/trời, mặt trăng/mặt trời, nước/lửa… Ngônngữ, vốn là phương tiện giao tiếp của một cộng đồng người, đều mang dấu
ấn sự phân định này của tạo hoá Nhưng có phải mọi ngôn ngữ đều đối xửvới các giới một cách công bằng, bình đẳng ? Thực tế không phải như vậy
Sự kỳ thị giới tính tồn tại ở các mức độ khác nhau giữa các ngôn ngữ Rấttiếc là trong nghiên cứu còn có sự đánh đồng, đặc biệt là giữa các ngôn ngữphương Tây và tiếng Việt
1 Lý do chọn đề tài
Đề tài này được chọn với hai lý do sau:
Một là cách nghiên cứu sự kỳ thị giới tính Ta biết rằng vấn đề giống
trong ngôn ngữ đã ít nhiều được nói tới Trước hết là trong các sách ngữpháp, đặc biệt là sách ngữ pháp tiếng Pháp; ở phần danh từ, hầu hết các tácgiả đều đưa ra các đuôi của danh từ, và một số quy tắc nhận biết giống củadanh từ giống đực và danh từ giống cái
Sự kỳ thị giới tính là một chủ đề thuộc lĩnh vực nghiên cứu chuyênsâu hơn, trước hết là ở châu Âu Ở Việt Nam, sự kỳ thị giới tính trong ngônngữ cũng được đề cập Xin nêu một số tác giả:
Trang 8- Cẩm Tú Tài: Luận văn thạc sĩ Nhìn nhận văn hóa Trung Hoa qua biểu hiện bất bình đẳng giới tính trong từ vựng tiếng Hán và chữ Hán, 2004.
- Hoàng Thị Yến: Bài viết Về nhóm danh từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Hàn đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 12-2002.
- Đặc biệt phải kể tới bốn bài viết của tác giả Trần Xuân Điệp trên tạp chíNgôn ngữ số 6, 9 năm 2001 và số 3, 11 năm 2002 Tiếp theo lại có một nhàngôn ngữ Đức cũng đăng bài hưởng ứng Cảm nhận của chúng tôi là điềunày được coi như một phổ niệm Cái mà chúng tôi thấy không ổn ở đây, đó
là cách đặt vấn đề của tác giả thể hiện một sự áp đặt sự kỳ thị giới tính trongcác ngôn ngữ phương Tây vào tiếng Việt; theo cách nói của cố Gs Cao Xuân
Hạo, đây là cách nhìn dĩ Âu vi trung.
Hai là cách ứng xử trước sự phân biệt về giới Tiếng Việt và tiếng
Pháp cũng như các tiếng khác đều phân biệt giống đực/giống cái theo cáchriêng của mình Sự khác biệt này gây không ít khó khăn cho người mới họctiếng Pháp, thêm vào đó nhiều danh từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ… trongtiếng Pháp hiện nay đã có thêm giống Tìm ra sự khác biệt và những thay đổitrong lĩnh vực này sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy-học tiếng Pháp
Ngoài ra, những cách diễn đạt thể hiện sự kỳ thị giới tính trong tiếngViệt hiện nay cũng đáng quan tâm Làm thế nào để giảm thiểu chúng? Chỉ ranguyên nhân của tình trạng này sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu phát triển vănhoá - xã hội nói chung, và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt nói riêng
2 Mục tiêu của đề tài
Xuất phát từ các lý do trên, đề tài đặt ra các mục tiêu sau:
- Góp thêm một cách nhìn về sự kỳ thị giới tính nói chung ;
- Góp thêm một cách nhìn về những biểu hiện của sự kỳ thị giới tính
trong khi sử dụng tiếng Việt, cụ thể là cần phân biệt hai vấn đề:
Trang 9a) Cấu trúc nội tại của ngôn ngữ;
b) Những biểu hiện của sự kỳ thị giới tính trong việc sử dụngngôn ngữ
- Cung cấp một số thông tin về xu hướng nữ hóa hiện nay trong tiếngPháp phục vụ cho việc dạy-học
Như vậy, đề tài mang tính đa ngành Để triển khai, cần sử dụng kiếnthức của ba lĩnh vực: ngôn ngữ học, triết học và phương pháp dạy-học Cụthể là:
- Ngôn ngữ học tiếng Pháp và Ngôn ngữ học tiếng Việt
- Triết học phương Đông (thuyết âm dương)
- Phương pháp dạy-học tiếng Pháp
3 Phương pháp luận
Phương pháp luận sử dụng trong đề tài là xuất phát từ thực tế của cáchiện tượng ngôn ngữ để miêu tả và rút ra kết luận Nói cách khác là không ápđặt các hiện tượng của ngôn ngữ phương Tây vào tiếng Việt Các thủ phápđược sử dụng là: quan sát, miêu tả, thống kê, đối chiếu, rút ra kết luận
Đây là một vấn đề lớn, phức tạp Hy vọng kết quả thu được sẽ cungcấp thêm một tư liệu về giống trong tiếng Pháp, một lĩnh vực đang có nhiềubiến đổi hiện nay, và một cách nhìn mới về sự kỳ thị giới tính trong việc sửdụng tiếng Việt
Trang 10Chương 1: Những vấn đề chung
Trang 11Chương 1: Những vấn đề chung
1 Một số khái niệm
a) Khái niệm về giống
- Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) đã định nghĩa « giống » như sau:
Nghĩa 7: Từ chỉ giới tính của động vật Thí dụ: Động vật giống đực.
Gà mái là gà thuộc giống cái.
Nghĩa 8: Phạm trù ngữ pháp của danh từ, tính từ, đại từ trong một sốngôn ngữ, dựa trên sự phân biệt của các giống trong tự nhiên hoặc
theo quy ước Thí dụ: Danh từ giống cái trong tiếng Pháp Đại từ giống đực Giống trung Sự tương hợp về giống của tính từ và danh từ.
Như vậy, khái niệm giống trong tiếng Việt chỉ tồn tại trong thế giới động vật,
và vận hành theo sự phân biệt tự nhiên giống đực/giống cái Nó không tồntại với tư cách phạm trù ngữ pháp, bởi vì chúng ta không có danh từ giốngđực, giống cái, và cũng không có sự tương hợp về giống của tính từ và danhtừ
Nếu như tiếng Việt sử dụng cùng một từ (giống) để chỉ hiện tượng
Trang 12sinh học và hiện tượng ngôn ngữ, thì tiếng Pháp sử dụng hai từ: sexe và genre
- Từ điển Multimédia/Hachette Livre, 1999 định nghĩa hai từ này như sau:
Từ sexe : Ensemble des caractéristiques physiques qui permettent de
différencier le mâle de la femelle, l’homme de la femme Enfant du sexe
Sự phân loại về từ pháp của một vài phạm trù ngữ pháp (danh từ, đại
từ, v.v.) chia thành, trong tiếng Pháp, giống đực và giống cái
- Từ điển Le Petit Robert giới thiệu hai từ này chi tiết hơn, đặc biệt là với từ
genre :
Sexe : Ensemble des caractères et des fonctions qui distinguent le mâle
de la femelle en leur assignant un rôle spécifique dans la reproduction, par
la production de gamètes mâles ou femelles.
Toàn bộ các đặc tính và chức năng phân biệt cá thể đực với cá thể cáithông qua việc dành cho chúng một chức năng riêng trong việc sinhsản bằng việc sản sinh ra các giao tử đực hoặc cái
Genre : En français, Catégorie de certains mots (nom, pronom, adjectif, article, participe passé) qui est soit le masculin, soit le féminin, et qui est
exprimée soit par leur propre forme (au féminin, elle, la, recouverte, son amie), soit par la forme de leur entourage, par l'accord (le sort, la mort, des manches longues, une dentiste, l'acrobate brune).
Trang 13Trong tiếng Pháp, phạm trù của một số từ (danh từ, đại từ, tính từ,quán từ, quá khứ phân từ) hoặc là thuộc giống đực, hoặc là thuộcgiống cái, và được diễn đạt hoặc là bởi dạng thức riêng của chúng (ở
giống cái, elle, la, recouverte, son amie), hoặc là bởi dạng thức của các từ đi cùng, bởi việc tương hợp ((le sort, la mort, des manches longues, une dentiste, l'acrobate brune)
Từ các phân tích trên, ta thấy tiếng Việt không coi giống là một phạm trù
ngữ pháp của từ; khi diễn đạt hiện tượng này người ta dùng luôn từ giống.
Trong khi đó tiếng Pháp sử dụng hai từ, một chỉ giới (sexe), một chỉ phạmtrù ngữ pháp (genre)
b) Khái niệm về sự kỳ thị giới tính
Như ta biết kỳ thị là phân biệt đối xử do thành kiến, kỳ thị giới tính tức
là có thái độ cư xử khác giữa giới này với giới kia Tương đương với khái
niệm này trong tiếng Pháp có sexisme với nghĩa là thái độ phân biệt đối xử
dựa theo giới, hầu như là luôn chống lại phụ nữ (attitude de discrimination fondée sur le sexe, s’exerçant presque toujours à l’encontre des femmes,
Hachette Multimédia).
Lưu ý là ngoài phần định nghĩa chung, từ điển Hachette còn cung cấpthông tin về việc chống lại phụ nữ Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên)không đưa mục từ này, mà chỉ dừng lại ở « kỳ thị », sau phần định nghĩa cóđưa thêm thông tin, nhưng lại nói về « phân biệt chủng tộc » Như vậy theocác từ điển, nếu như « giống » không phải là một phạm trù ngữ pháp trong
tiếng Việt, thì sự kỳ thị giới tính cũng chưa có đủ sức nặng để có mặt trong
từ điển như một mục từ
Câu hỏi đặt ra là sự kỳ thị giới tính với nghĩa là chống lại giới nữ đượcbiểu hiện như thế nào ? Theo chúng tôi, nó được thể hiện qua:
Trang 14- các khoảng trống từ vựng, thí dụ : sự thiếu vắng các từ, ngữ để biểuđạt phụ nữ trong những nghề nghiệp nhất định ;
- tính đại diện ;
- vị trí các từ chỉ nam/nữ ;
- dấu ấn văn hóa trong từ vựng ;
- các thành kiến thể hiện qua các ngạn ngữ và các phát ngôn tìnhhuống (énoncé lié)
Đến đây, cần phải phân biệt hai cấp độ ngôn ngữ và lời nói trước khi
đi sâu nghiên cứu các biểu hiện này
2 Sự phân biệt ngôn ngữ và lời nói
Như chúng ta đều biết, mọi đứa trẻ sinh ra đều đã có sẵn một khả nănggiao tiếp bằng lời Khả năng này trở thành hiện thực khi trẻ được sống trongmột cộng đồng ngôn ngữ, trẻ sống ở đâu thì nói ngôn ngữ ở đó Khả năng
này của loài người là bẩm sinh (inné) và mang tính phổ quát (universel), nó được gọi là ngữ ngôn (langage) Khả năng chung đó được hiện thực hóa trong từng cộng đồng người dưới dạng ngôn ngữ (langue) Và tới lượt mình, ngôn ngữ lại được cụ thể hóa thành lời nói (parole) bởi các cá thể Nếu ngữ
ngôn chỉ có một, thì trên thế giới hiện nay có khoảng 4.000 ngôn ngữ, còn
hoạt động lời nói là một tập hợp vô hạn (ensemble infini).
2.1 Ngôn ngữ là một tập hợp các tín hiệu ngôn ngữ và các quy tắc kếthợp các tín hiệu với nhau tạo nên phương tiện giao tiếp của một cộng đồng
Theo Saussure, ngôn ngữ vừa là một sản phẩm xã hội của khả năng ngữ ngôn, vừa là một tập hợp các quy ước cần thiết được toàn bộ xã hội chấp nhận để cho phép thực hiện khả năng đó giữa các cá thể (la langue est « à la fois un produit social de la faculté du langage et un ensemble de conventions nécessaires, adoptées par le corps social pour permettre l’exercice de cette faculté chez les individus»)
Trang 15Cần lưu ý tới hai yếu tố trong khi nghiên cứu, đó là tín hiệu ngôn ngữ
và quy ước cần thiết Ngôn ngữ là một hệ thống, trong hệ thống có các yếu
tố và các quy tắc gắn kết các yếu tố, các quy tắc này được hình thành trên cơ
sở các quy ước của toàn xã hội Khi đã là sản phẩm của toàn xã hội thì nóvận hành theo quy tắc chung, không bị chi phối bởi từng cá nhân cụ thể
Người ta đã nói về tính bất biến của ngôn ngữ (immuabilité), ngôn ngữ luôn
tiến triển, nhưng tiến triển trên cơ sở của một sự ổn định
2.2 Lời nói (parole) là việc cụ thể hóa ngôn ngữ trong một cộng đồng phục vụ cho mục đích giao tiếp (utilisation, mise en acte du code qu’est la langue par les sujets parlants, dans les situations concrètes de communication) Nếu như ngôn ngữ mang tính xã hội và trừu tượng (social- abstrait), thì lời nói mang tính cá nhân và cụ thể (individuel-concret) Vì là
sản phẩm cá nhân nên lời nói không bất biến
Trở lại với ngôn ngữ, như ta đều biết thể chế xã hội này gồm ba thànhphần chính: hệ thống âm vị, ngữ pháp và từ vựng Các đơn vị của hai bộ
phận đầu là hữu hạn (ensemble fermé) và ít thay đổi, trong khi đó thành tố thứ ba là một tập hợp mở (ensemble ouvert) chịu nhiều biến đổi Trong từ
vựng cũng có một bộ phận cần lưu ý, đó là các thành ngữ Bộ phận này cóthể được chia thành 3 phần nhỏ :
a) đơn vị tương đương với từ (có khả năng đảm nhiệm một chức năngtrong câu);
Trang 16trình được gọi là từ vựng hóa : cụm từ tự do → quá trình từ vựng hóa → thành ngữ Nhưng chúng khác nhau về độ bền vững
Các đơn vị a) có độ bền vững lớn Thí dụ, tổ hợp đẹp như tiên vận
hành như một khối, và không có một phiên bản khác (với nghĩa là đẹp ở mứccao nhất)
Phát ngôn tình huống (b) là những phát ngôn có thể được dùng trongmột tình huống nhất định Khi được tặng quà, người nhận phải đáp lại bằng
một câu nào đó như: Cám ơn!Lần sau đừng thế nữa!Bác chu đáo quá, v.v.
Thường có nhiều cách diễn đạt cho một tình huống, và mỗi phát ngôn có thểbị thay đổi tùy theo hoàn cảnh, tùy theo người dùng
Ngạn ngữ, ca dao, tục ngữ (c) là những cách diễn đạt một « ý hay »,
có thể là kinh nghiệm, nhận xét, lời khuyên… Chúng tồn tại như một câuhoàn chỉnh nên dễ bị phá vỡ, nhất là khi người ta muốn chơi chữ Một ngạnngữ có thể có hơn một phiên bản, và người ta sẽ lãng quyên những câu nàokhông phù hợp, đồng thời tạo ra các ngạn ngữ mới để diễn tả những ý haymới Thí dụ, gần đây trong tiếng Pháp có câu: Không nên đánh phụ nữ, ngay
cả bằng một bông hoa (il ne faut pas battre une femme même avec une fleur).
Trong tiếng Việt, bên cạnh ca dao cũ, ta có ca dao mới, ca dao kháng chiến
Nhận xét này quan trọng khi nghiên cứu sự KTGT trong ngôn ngữ, nócho phép ta phân biệt đâu là thuộc cấu trúc của ngôn ngữ mang tính bềnvững, đâu là thuộc lời nói mang tính nhất thời Và trong bản thân các yếu tốthuộc ngôn ngữ, cũng có các cấp độ bền vững khác nhau (ngữ pháp ít thayđổi hơn từ vựng, các đơn vị tương đương với từ (a) ít thay đổi hơn phát ngôntình huống (b) và ngạn ngữ, ca dao, tục ngữ (c)
Ta có thể sơ đồ hóa như sau:
Trang 17Khả năng ngữ ngônFaculté du langage
Độbền chặtDegré defigement
Từ vựng Lexique phát ngôn tình huống énoncé lié ngạn ngữ proverbe
+
Lời nói
Parole (mang tính cá nhân)
3 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước
Trang 18- Giống cái được cấu tạo từ giống đực;
- Trước hết đưa ra một quy tắc chung kèm theo thí dụ;
- Phần tiếp theo là các ngoại lệ của quy tắc chung, trong ngoại lệ lại cóngoại lệ
Để minh họa, chúng tôi xin trích dưới đây phần trình bày giống cái trong
grammaire francaise trên mạng www.yahoo.com:
LE FÉMININ DES NOMS
La règle générale:
1) NOM masculin + –E = NOM féminin un étudiant–une étudiante
2) –er, –ier => –ère, –ière un étranger–une étrangère
un écolier–une écolière 3) –f => –ve un veuf–une veuve
4) –et => –ette un cadet–une cadette
5) –x => –se un époux–une épouse
6) –en, –ien, –on => –enne, –ienne, –onne un patron–une patronne
un musicien–une musicienne 7) –in, –ain, –an => –ine, –aine, –ane un voisin–une voisine
un Persan–une Persane
Mais ! un paysan–une paysanne
8) –eur => –euse un vendeur–une vendeuse
un acheteur–une acheteuse 9) –teur => –trice un directeur–une directrice
10) –e => –e un artiste –une artiste,
un secrétaire–une secrétaire 11) Quelques mots en –e => –esse un prince–une princesse
Trang 19un poète–une poétesse
un tigre–une tigresse
un dieu–une déesse
12) Un mot spécial:
un homme – une femme
un garçon – une fille
un mari – une femme
un père – une mère
un oncle – une tante
un frère – une sœur
un neveu – une nièce
un vieillard – une vieille
un héros – une hérọne
un copain – une copine
un roi – une reine
un monsieur – une dame
un coq – une poule
un cheval – une jument
un sot – une sotte 13) Les mots qui n’ont pas la forme du féminin:
- Ở mục 12) Un mot spécial, tác giả trình bày các trường hợp tiếng Pháp
dùng hai từ riêng để chỉ một cặp đực/cái Điều này đúng với các trường hợp:
un homme – une femme
un garçon – une fille
un mari – une femme
un père – une mère
un oncle – une tante
Nhưng khơng phù hợp với:
un vieillard – une vieille
Trang 20un héros – une hérọne
un copain – une copine
Bởi vì trong mỗi vế của một cặp đều cĩ một phần chung; đối với un sot – une sotte thì chỉ cĩ thêm phụ âm (t) khi đọc, và nĩ được thể hiện bằng việc
thêm hai con chữ (te) khi viết
- Ở mục 13) cũng cĩ một số điểm cĩ thể tranh luận: trong các từ mà tác giả
coi là chỉ cĩ một dạng ở giống đực, ta thấy cĩ hai ngoại lệ, đĩ là historien và compositeur Hai từ này đã từ lâu đều cĩ giống cái trong các từ điển sau: Hachette Multimédia
- historien, enne n Personne qui écrit des ouvrages d’histoire, qui enseigne ou étudie l’histoire
- compositeur, trice n Personne qui écrit des œuvres musicales
Le Petit Robert
- historien, ienne n du lat historia
Auteur d'ouvrages d'histoire, de travaux historiques
- compositeur, trice n de composer
Personne qui compose des œuvres musicales
- Ở mục 11) cĩ vấn đề liên quan tới sự kỳ thị giới tính: trong các danh từ
giống cái tận cùng bằng –esse cĩ cặp un poète–une poétesse Tác giả đã chấp nhận sự tồn tại của poétesse mà khơng giải thích gì, trên thực tế từ này
khơng phải được tất cả mọi người chấp nhận Từ điển Le Petit Robert coi
poète đại diện chung cho cả hai giống, và đưa thí dụ: M me de Noailles était donc un grand poète (Colette) Cịn poétesse cũng được đưa thành một mục
từ riêng, nhưng với lưu ý là từ này mang ý nghĩa xấu (Poétesse est considéré comme péjoratif On dira plutơt: Cette femme est une grand poète, parfois un grand poète).
Trang 21Qua phân tích ở trên ta thấy giống là một vấn đề rất phức tạp trongtiếng Pháp, điều đó liên quan tới nội bộ tiếng Pháp và tới phong trào đòi bình
đẳng giới hiện nay Từ điển wikipedia cũng đã nhấn mạnh sự phức tạp của
phạm trù giống trong tiếng Pháp như sau :
Giống là một đặc tính của danh từ Có hai giống trong tiếng Pháp :giống đực và giống cái Đối với hầu hết danh từ, giống mang tính võđoán Chỉ có một bộ phận danh từ động vật mới có mối liên hệ giữagiới tính và giống ngôn ngữ Vì có quá nhiều ngoại lệ nên sẽ là vô íchnếu muốn miêu tả giống của các danh từ bất động vật Giống củachúng phụ thuộc vào nguồn gốc và chịu ảnh hưởng của nhiều tácđộng Nhiều danh từ thay đổi giống trong quá trình lịch sử
Le genre est une propriété du nom Il y a deux genres en français le
masculin et le féminin Pour la plupart des noms, le genre est arbitraire
(La virilité Une sentinelle) Ce n’est que pour une partie des noms animés
qu’il existe un lien entre le sexe et le genre.
Il serait inutile, les règles souffrent de trop nombreuses exceptions, de tenter une description du genre des noms représentant des inanimés Ce genre est dû à leurs origines et aux nombreuses influences qu’ils ont subies De nombreux noms changeant de genre au cours de l’histoire
Chúng tôi xin nói thêm là khi miêu tả giống trong tiếng Pháp không thểkhông chú ý tới vấn đề kỳ thị giới tính
3.2 Sự kỳ thị giới tính
3.2.1 Ở Pháp
Sự kỳ thị giới tính trong tiếng Pháp nói riêng và trong các tiếng Châu
Âu nói riêng đã được bàn luận các góc độ khác nhau Thí dụ :
Trang 22- ROCHÉ Michel đã bàn về sự nổi trội của giống đực (Le masculin est-ilplus productif que le féminin ?) trong tạp chí Langue francaise no 96, 12 -
1992, p 115
- Giống và giới tính đã được MARTINET André đề cập trong tạp chí Lalinguistique 35, 1999-2, pp 5-9
- Khi nghiên cứu các cụm từ hình ảnh trong khuôn khổ của Luận án tiến sĩ
đệ tam, Nguyễn Hữu Thọ đã phát hiện sự chống lại giới nữ (misogynie)trong nhiều thành ngữ tiếng Pháp vào năm 1986
Trước hết, người ta nhận thấy sự KTGT được thể hiện trong một sốcách dùng:
- Các chức tước và tên một số nghề nghiệp không có danh từ giốngcái
- Sử dụng họ của bố, điều này trở thành quy tắc khi không có sự thốngnhất giữa hai vợ chồng mặc dù được phép chọn họ của cả hai
- Sử dụng từ vựng với nghĩa xấu đối với phụ nữ
- Khi có cả hai giống thì giống đực sẽ đại diện
- Có một sự mập mờ trong cách dùng các từ chỉ đàn ông và đàn bà ở
các độ tuổi khác nhau Thí dụ, từ homme = đàn ông lúc thì chỉ người
nói chung (homo sapiens) lúc thì chỉ người thuộc nam giới (sexemasculin) Xét về mặt từ nguyên, homme đi từ tiếng la-tinh homo, có
nghĩa là loài người (humain), bên cạnh đó lại có tính từ viril bắt nguồn
từ vir, có nghĩa là tính đàn ông Trong khi đó phụ nữ chỉ có danh
từ femme Sự mất cân đối đó được thể hiện trong bảng sau:
Trang 23Để khắc phục tình trạng này, năm 1984 theo sáng kiến của YvettePoudy thành viên của Đảng Xã hội một ủy ban về thuật ngữ đã được thànhlập với nhiệm vụ nghiên cứu dùng giống cái đối với các danh từ chỉ nghềnghiệp, chức vụ, chức tước
Năm 1986, Laurent Fabus lúc bấy giờ là thủ tướng chính phủ đã banhành một chỉ thị khẳng định việc chỉ dùng giống đực là phân biệt đối xử.Năm 1990, Ủy ban bộ trưởng của Hội đồng châu Âu khuyến cáo nên loại bỏ
sự kỳ thị giới tính trong ngôn ngữ
Các quyết định ở tầm « vĩ mô » trên đã ít nhiều làm thay đổi cách diễnđạt giống trong tiếng Pháp Tuy nhiên cần lưu ý rằng mặc dù nằm trongkhuôn khổ của việc giải phóng phụ nữ, cuộc đấu tranh chống lại sự kỳ thị
giới tính trong ngôn ngữ này cũng bị một số người phản đối Tạp chí le Figaro Magazine đã gọi sáng kiến này là phủ váy lên từ vựng
Trang 24(enjuponnement du vocabulaire), còn tờ báo France Soir thì gọi là sự bướm trị (clitocratie) Đây cũng không phải là cuộc đấu tranh giữa nam giới và nữ
giới Nhiều phụ nữ không thấy gì trở ngại trong cách dùng hiện nay, ngượclại một số người đàn ông thì lại phản đối Dẫu sao, xu hướng đòi bình đẳnggiới trong ngôn ngữ là không cưỡng lại được
Trong văn viết chính thức, nhìn chung người ta chấp nhận sự đại diệncủa giống đực “để cho nhẹ văn bản” Nhưng trong các diễn văn thì rất hay
gặp các cặp đôi nữ-nam như: Québécoises và Québécois, tous và toutes, Ordre des infirmières và infirmiers du Québec, v.v.
Một thí dụ điển hình của việc đòi bình đẳng này là tạo ra các từ mớichỉ cả hai giống (épicène) nhưng có dấu ấn của nữ theo mô hình của fidèle,
Thí dụ, professionnèle chỉ cả professionnel và professionnelle, người ta sẽ
nói Fédération des professionnèles, nhưng giải pháp này gây ra nhiều phảnứng khác nhau
3.2.3 Ở Bỉ
Người Bỉ tham gia ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước vào cáccuộc thảo luận về việc nữ giới hóa từ vựng nổ ra ở Pháp
Ngày 21 tháng 6 năm 1993, chính phủ của Cộng đồng nói tiếng Pháp
đã thông qua Sắc lệnh về việc nữ hóa các danh từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ,
Trang 25cấp bậc và học vị để thực hiện trong các tổ chức hành chính và trong các cơ
sở đào tạo Một nghị định đã cụ thể hóa Quy định trên theo đề nghị của Hộiđồng cấp cao tiếng Pháp, do nhà ngôn ngữ Jean-Marie Klinkenberg làm chủtịch
Cơ quan phụ trách tiếng Pháp (Service de la langue française) củaCộng đồng tiếng Pháp cũng xuất bản vào dịp này một cuốn giáo khoa với
tiêu đề Mettre au féminin chỉ dẫn các quy tắc việc nữ hóa Tài liệu này không
phải là một văn bản hành chính, mà chỉ mang tính khuyến khích
Ngày nay, việc nữ hóa đã khá phổ biến trong số những người nói tiếngPháp ở Bỉ, nhưng có sự khác biệt giữa các tầng lớp xã hội Phải nói thêmrằng sự phân chia hành chính rất phức tạp ở Bỉ đã làm cho việc áp dụng cácquy định trên không đồng nhất trong tất cả các cơ quan hành chính Ở đạihọc nơi mà người ta chờ đợi một sự nhất quán, vẫn có những nữ giáo sư
không ngần ngại tự gọi mình bằng directeur de recherche hay promoteur de mémoire, bởi vì Sắc lệnh 1993 không quy định bắt buộc việc nữ hóa ở khu vực ngoài hành chính (l'esprit de liberté d'usage qu'a voulu conserver le
Décret en dehors du champ administratif)
Các quy tắc nữ hóa không mang tính yêu sách Người ta mong muốn
sự có mặt của nữ giới chứ không phải là chữa chạy bệnh nam trị đang bị tốcáo Vì quan tâm tới sự trong sáng của văn bản, sự dễ đọc (l'intelligibilité dutexte et sa lisibilité sur le souci de féminisation), nên không lạm dụng nhữngcách viết không được thể hiện ở dạng nói như “employé-e-s”
Các quy định mới hạn chế sự áp đặt dùng các từ mới và các cải biếnngôn ngữ, thay vào đó là dùng các định từ Thí dụ, đối với các trường hợp
như professeur và docteur, chỉ cần dùng une/la đứng trước là đủ: une professeur ou une docteur ; không cần phải thay đổi cả ở danh từ:
Trang 26professeure, docteure, như ở Québec và Thụy sĩ (bắt buộc phải dùng dạng giống cái –eure).
3.2.4 Các thứ tiếng khác ở châu Âu
a) Ở Đức
Cuộc tranh luận về việc nữ hóa ngôn ngữ khá sôi nổi trong các nướcnói tiếng Đức, đặc biệt trong các tầng lớp thuộc phái tả Người ta có thể tạo
ra giống cái bằng cách thêm vào danh từ hậu tố -in, nhưng số lượng danh từ
giống cái được sử dụng vẫn còn ít Cũng như tiếng Pháp, giống đực có khảnăng đại diện ở số nhiều ; đây là điểm mà người ta công kích nhiều nhất Đểkhắc phục điều này, những người thuộc trường phái nữ hóa ngôn ngữ đề
nghị dùng số nhiều với -Innen (Binnen-I), một loại số nhiều giống cái, nhưng được viết hoa để chỉ ra đây là một số nhiều hỗn hợp (die StudentInnen, die KollegInnen, v.v.) Cách dùng này cũng khá phổ biến ở Áo.
b) Ở Anh
Danh từ tiếng Anh không có giống Giống chỉ được thể hiện qua đại từnhân xưng ở ngôi thứ ba, gồm 3 loại (giống đực, giống cái và giống trung):
he, she, it Giống đực và cái chỉ người (và các loài vật) tương ứng với giới
tính tự nhiên, giống trung chỉ vật Trong phong trào chống lại sự kỳ thị giới
tính trong ngôn ngữ, mới xuất hiện they số ít để chỉ một người mà người ta
không rõ giới tính (they singulier)
Về từ vựng, cũng giống như tiếng Pháp, từ man với nghĩa là đàn ông được dùng để tạo ra từ mankind (nhân loại) Như vậy là đàn ông lại đại diện
cho cả nữ giới
3.2.5 Ở Việt Nam
Như đã nói ở trên, từ năm 2001 tạp chí Ngôn ngữ đã đăng một loạt bài
về sự kỳ thị giới tính trong ngôn ngữ (chủ yếu là của tác giả Trần XuânĐiệp) Điều đáng trân trọng trong các nghiên cứu trên là tác giả đã đi sâu
Trang 27vào một hiện tượng ngôn ngữ đang được thế giới quan tâm, từ đó có những
đề xuất góp phần vào sự bình đẳng giới trong sử dụng ngôn ngữ nói riêng vàcông cuộc giải phóng phụ nữ nói chung Xin trích phần cuối kết luận của bài
Vấn đề kỳ thị giới tính trong ngôn ngữ trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và
tư duy (số 9-2001, tr.55) : “Việc nghiên cứu sự kỳ thị giới tính trong ngôn
ngữ có ý nghĩa rất lớn Kết quả của việc nghiên cứu ấy chắc chắn sẽ đónggóp một phần tích cực vào việc quy hoạch hóa ngôn ngữ (languageplanning) Kết quả ấy cũng giúp vào sự nghiệp vừa hiện đại hóa vừa giữđược sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ Trong thực tế nó đóng góp một phầntích cực vào việc xóa đi sự thiếu bình đẳng nam nữ trong xã hội Đồng thời
nó rất có ý nghĩa trong việc dạy tiếng.”
Và
“Khoảng trống từ vựng chỉ rõ tính vô hình của nữ giới trong ngôn ngữ, gópphần khẳng định sự tồn tại của hiện tượng KTGT trong ngôn ngữ Nhữngđặc điểm và biểu hiện như vậy sẽ là một nguồn động lực thiết thực để sớm
có được một hình thức cải cách ngôn ngữ theo hướng bình đẳng giới tínhtrong ngôn ngữ, giúp vào việc thúc đẩy quá trình thực hiện quyền bình đẳngnam nữ trong xã hội” (số 11-2002, tr 59)
Để phục vụ mục đích trên, tác giả đã bắt đầu bằng việc nêu lại giảthuyết Sapir-Whorf : quan điểm cho rằng ngôn ngữ quy định tư duy Ba lậpluận sau đã được nhắc lại:
- Thói quen về ngôn ngữ của một cộng đồng đã quy định sẵn những sự lựachọn trong cách lý giải của con người trong cộng đồng đó
- Con người không sống một cách riêng biệt trong thế giới khách quan, hoặccũng không sống một cách riêng biệt trong một thế giới quan hệ xã hội nhưngười ta vẫn thường quan niệm
Trang 28- Con người chịu rất nhiều sự khống chế của một ngôn ngữ nhất định đã trởthành phương tiện diễn tả của xã hội của những con người đó.
Theo tác giả, giả thuyết Sapir-Whorf có tác dụng nhất định trong việckhẳng định lại vai trò của ngôn ngữ đối với tư duy Ngôn ngữ không chỉphản ánh tư duy một cách thụ động Trong thực tế cách sử dụng ngôn ngữ cóthể định hình cách nhìn của người nói và người nghe đối với những ngườiđược nói đến Từ đó tác giả áp dụng vào tiếng Anh để tìm ra những biểu hiệncủa sự kỳ thị giới tính Những thí dụ mà tác giả dẫn của Miller & Swift(1972) là không thể bác bỏ được
Chỉ tiếc rằng khi áp dụng vào tiếng Việt, tác giả đã làm một cách rậpkhuôn, không thấy được đặc thù riêng của ngôn ngữ chúng ta Thí dụ:
- Khi nhìn nhận từ cái tác giả đã gán cho nó chỉ có chức năng sinh sản:
“Trong tiếng Việt ta cũng dùng từ đực, cái để áp đặt sự phân biệt giới tính như trong tre đực, đu đủ cái v.v., thực ra là để phân biệt đặc điểm của các loại đối tượng được miêu tả mà thôi (tre đực: loại tre nhỏ, đặc, khỏe: đu đủ cái: có khả năng cho quả lớn v.v.” (Ngôn ngữ số 6-2001, tr 51).
- Về trật tự từ, chỉ thấy những trường hợp nam đứng trước: anh chị Điệp, ông bà Tiến…
- Hoặc khi nói về ảnh hưởng của thuyết âm dương, tác giả đã có một cáchgiải thích đặc biệt: “giới nữ, do ảnh hưởng của thuyết Âm-Dương từ TrungQuốc, bị quan niệm là gắn liền với Âm - đó là những gì mang tính tiêu cực:dốt nát, thụ động, thiên về thể xác v.v.” (Ngôn ngữ số 3-2002, tr 46)
Thuyết Âm-Dương từ Trung Quốc đâu phải như vậy Đây là nhữngcách nhìn về tiếng Việt mang đầy tính định kiến và áp đặt Tất cả chỉ nhằmmục đích chứng minh tiếng Anh ra sao thì tiếng Việt cũng vậy
Trang 29Chương 2 Tìm hiểu về hình thức diễn đạt
giống
trong tiếng Pháp
Trang 30Chương 2
Tìm hiểu về hình thức diễn đạt giống trong tiếng Pháp
Như đã nói ở trên, trong tiếng Pháp giống là phạm trù ngữ pháp củamột số từ: chúng hoặc là thuộc giống đực, hoặc là thuộc giống cái Khi quansát mối quan hệ giữa hai giống đực và cái, chúng tôi còn thấy một hiệntượng khác, đó là sự nổi trội của giống đực so với giống cái
Chương 2 này được dành để tìm hiểu cách diễn đạt giống, trên cơ sở
đó làm nổi bật sự nổi trội của giống đực so với giống cái ở các loại từ sau :danh từ, quán từ, tính từ, đại từ, động từ
I Danh từ
A Các phương thức diễn đạt giống trong tiếng Pháp
Danh từ tiếng Pháp có hai giống:
- giống đực (le masculin)
- giống cái (le féminin)
Giống đực ở số ít được dùng với quán từ le hoặc un, giống cái với la hoặc une.
1 Giống tự nhiên
Giống của danh từ chỉ người tương ứng với giới tính:
un étudiant một nam sinh viên une étudiante một nữ sinh viên
un écolier một nam học sinh une écolière một nữ học sinhNhìn chung, muốn tạo danh từ giống cái ở dạng viết người ta thêm « e » vàođuôi của danh từ giống đực:
un ami → une amie một người bạn
Trang 31un enseignant → une enseignante một giáo viên
un marchand → une marchande một người buôn bán
1.1 Một số danh từ khi chuyển sang giống cái thì thay đổi cả phần đuôi: a) Thêm phụ âm cuối + « e »
un musicien → une musicienne một nhạc công, nhạc sĩ
un champion → une championne một nhà vô địch
Ngoại lệ : artisan-e, courtisan-e, partisan-e, faisan-e, sultan-e, Persan-e
b) -eur → -euse
un vendeur → une vendeuse một người bán hàng
Ngoại lệ : pécheur → pécheuresse, vengeur → vengeresse
c) -teur -trice
un acteur → une actrice một diễn viên
un agriculteur → une agricultrice một nông dân
Trường hợp đặc biệt : ambassadeur → ambassadrice, empereur →impératrice
d) -e → -esse
maître → maîtresse thầy/cô giáo
comte → comtesse công tước
Trường hợp đặc biệt : abbé → abbesse, duc → duchesse, dieu → déese
e) -er → -ère
berger → bergère người chăn cừu
ouvrier → ouvrière công nhân
f) -t → tte
Trang 32cadet → cadette con thứ
Ngoại lệ : préfet → préfète
g) -el → -lle, -eau → -elle
colonel → colonelle đại tá
1.2 Một số danh từ kết thúc bằng « e » có một dạng chung cho cả hai gống:
un concierge → une concierge một người gác cổng
un secrétaire → une secrétaire một thư ký
un journaliste → une journaliste một nhà báo
1.3 Một số danh từ có dạng giống cái khác hoàn toàn:
un fils → une fille một cậu con trai → một cô con gái
le mari → la femme người chồng → người vợ
un monsieur → une dame một ông → một bà
un copain → une copine một bạn trai → một bạn gái
un roi → une reine một ông vua → một bà hoàng hậu
un prince → une princesse một hoàng tử → một công chúa
1.4 Một số danh từ có hai giống và được thể hiện qua quán từ :
un / une artiste nghệ sĩ
Trang 33un / une aide người giúp
un / une adversaire kẻ địch
un / une journaliste nhà báo
un / une touriste khách du lịch
un / une bibliothécaire thủ thư
un / une libraire người bán sách
un / une locataire người cho thuê / thuê nhà
un / une secretaire thư ký
un / une camarade đồng chí
un / une collègue đồng nghiệp
un / une complice tòng phạm
un / une concierge người gác cổng
1.5 Một số danh từ chỉ có một giống duy nhất:
a) Những từ sau trước đây chỉ có dạng giống đực:
professeur giáo viên architecte kiến trúc sư
médecin bác sĩ ingénieur kỹ sư
témoin nhân chứng juge thẩm phán, quan toà
guide hướng dẫn viên écrivain nhà văn
assassin kẻ sát nhân chef người đứng đầu, trưởng
auteur tác giả agent nhân viên
défenseur người bảo vệ sculpteur nhà điêu khắc
Trong trường hợp này, nếu muốn nói rõ đó là một phụ nữ, người ta
thêm từ femme đằng trước danh từ đó Thí dụ: la femme professeur nữ giáo viên, la femme médecin nữ bác sĩ, la femme ingénieur nữ kỹ sư.
Ngày nay, phần lớn đã có giống cái, trừ assassin (Elle est un assassin):
Trang 34Giống đực Giống cái Lưu ý
agent Le féminin agente s'emploie surtout pour
les agents secrets
un auteur une autrice On trouve aussi une auteure sur le modèle
du français du Canada
un architecte une architecte
le chef Le féminin la chef est employé par familiarité
ou pour des fonctions techniques En Suisse, le
féminin cheffe est courant.
le docteur la docteur On trouve aussi docteure sur le modèle du
français du Canada
un écrivain une écrivaine
le gouverneur la gouverneuse On trouve aussi gouverneure sur le modèle
du français du Canada
le guide la guide
un ingénieur une ingénieur
le juge la juge
le maire Le féminin, rare, est la maire
le médecin Le féminin, rare, est la médecin.
le professeur la professeur On écrit aussi professeure sur le modèle du
français du Canada
le témoin Le féminin, rare, est la témoin.
le ministre la ministre
le défenseur la défenseur On trouve aussi défenseure et parfois
défenseuse (mal formé).
Nguồn: Le Petit Robert 2009
b) chỉ có dạng giống cái:
vedette ngôi sao sentinelle lính gác, lính canh
personne người hôtesse de l’air nhân viên hàng không1.6 Trường hợp « gens »
Trang 35Đây là một danh từ số nhiều và ở giống đực, nhưng có những cáchdùng « kỳ quặc »; có thể coi đây là điển hình của sự phức tạp về giống củatiếng Pháp.
Ces gens sont heurreux Những người này hạnh phúc
Nhưng nó đòi hỏi tính từ đứng trước phải dùng ở giống cái trong các trườnghợp sau :
de bonnes gens những người tốt
de vieilles gens simples et bons những người già giản dị và tốt bụngtoutes ces bonnes gens tất cả những người tốt bụng này
Nhưng :
tous ces braves gens tất cả những người can đảm này
Quels honnêtes gens ! Họ thật trung thực !
de nombreux gens de lettres nhiều nhà văn
certains gens d’affaires một vài thương gia
2 Giống ngữ pháp
Giống của danh từ chỉ đồ vật hoặc khái niệm là võ đoán
une table cái bàn une armoire tủ đứng
un placard tủ tường une chambre buồng
Nhìn chung người ta phải nhớ máy móc giống của danh từ chỉ đồ vật hoặc
khái niệm, tuy nhiên phần đuôi danh từ (la terminaison des noms) cũng có
thể giúp chúng ta nhận biết tương đối chính xác giống của một số danh từ
a) Danh từ giống đực thường có kết thúc bằng:
Trang 36le mouvement phong trào
le monument tượng đài
le téléphone điện thoại
le magnétophone máy ghi âm
la lecon bài học, la facon cách thức
-scope le télescope kính viễn vọng
le microscope kính hiển vi
b) Danh từ giống cái thường kết thúc bằng:
Trang 37la connaissance hiểu biết
la naissance sự ra đời, sinh đẻ
-itude
une attitude thái độ
la solitude sự cô đơn
la certitude sự tin chắc
la beauté sắc đẹp
Trang 38-té la nécessité sự cần thiết
la vérité sự thật
-tion
la production sản xuấtune inflation lạm phát
la réalisation sự thực hiện
-sion
-xion
la télévision vô tuyến
la décision quyết địnhune évasion sự thoát ra
la fluxion chứng xung huyết
la réflexion sự suy nghĩ
-ure
la culture văn hoá, canh tác
la nourriture thức ănune agriculture nông nghiệp
3 Giống của danh từ chỉ động vật
Giống của danh từ chỉ động vật là rất đặc biệt
- Thay đổi phần đuôi:
le chat → la chatte con mèo le chien → la chienne con chó
le canard → la cane con vịt le dindon → la dinde con gà tây
- Thay đổi hoàn toàn:
le coq → la poule con gà le bœuf, le taureau → la vache con bò
le cheval → la jument con ngựa le bouc → la chèvre con dê
- Chỉ có một giống duy nhất:
la mouche con ruồi la souris con chuột
un éléphant con voi le moineau chim sẻ
Trang 39Trong trường hợp này, để diễn đạt giống của con vật, người ta dùng hai từ
mâle (đực) và femelle (cái) Thí dụ:
un éléphant mâle con voi đực la souris mâle con chuột đực
un éléphant femelle con voi cái la souris femelle con chuột cái
4 Một số trường hợp dùng ở hai giống
Ngoài « gens » có cách dùng kỳ quặc nói trên, tiếng Pháp có một số danh từ
có hai giống với hai cách dùng khác nhau :
Aigle
- với nghĩa « đại bàng » từ này dùng ở giống đực và giống cái ;
- chỉ dùng ở giống cái khi dùng ở nghĩa bóng với nghĩa là « cờ hiệu cóhình đại bàng » : les aigles romaines
Amour
- giống đực ở số ít : un grand amour
- giống cái ở số nhiều : On revient souvent à ses premières amours.(Người ta thường trở lại với những mối tình đầu tiên)
Délice
- giống đực với nghĩa « sự ngon lành » : Cette poire est un délice
- giống cái ở số nhiều với nghĩa « sự vui thú »
Orgue
- giống đực với nghĩa «một đàn oóc và nhiều đàn oóc khi ở số nhiều»
- giống cái khi ở số nhiều với nghĩa « một đàn oóc của một nơi nào » :Les grandes orgues de Notre-Dame (đàn oóc của nhà thờ Đức Bà)
Aune
- giống đực với nghĩa « một loại cây »
- giống cái với nghĩa « đơn vị đo »
Barbe
Trang 40- giống đực với nghĩa « ngựa ».
- giống cái với nghĩa « râu »
Barde
- giống đực với nghĩa « nhà thơ »
- giống cái với nghĩa « thịt mỡ : tranche de lard »
Cache
- giống đực với nghĩa « mặt nạ »
- giống cái với nghĩa « nơi giấu »
Carpe
- giống đực với nghĩa « xương cổ tay »
- giống cái với nghĩa « cá chép »
Cartouche
- giống đực với nghĩa « khung để vẽ chữ »
- giống cái với nghĩa « đạn »
Couple
- giống đực với nghĩa « cặp nam-nữ »
- giống cái với nghĩa « sự liên kết hai loại giống nhau »
Crêpe
- giống đực với nghĩa « vải kếp »
- giống cái với nghĩa « bánh xèo »
Critique
- giống đực với nghĩa « người phê bình »
- giống cái với nghĩa « sự phê bình »
Enseigne
- giống đực với nghĩa « sĩ quan »
- giống cái với nghĩa « ngọn cờ, biển hiệu »