Vì sao?...2 Câu 2: Xác định các trường hợp người học nghề, người lao động phải chị trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo?...3 Câu 3: Giả sử anh Văn hoàn thành khóa đào tạo và sau khi đã l
Trang 1Các Chương trình đào tạo đặc biệt
Lớp CLC 45 QTL B
BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI
LUẬT LAO ĐỘNG CHƯƠNG II VIỆC LÀM VÀ ĐÀO TẠO VIỆC LÀM
Bộ môn: Luật Lao động
Giảng viên: Th.s Lê Ngọc Anh
Nhóm: 03
Thành viên:
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 13, tháng 3, năm 2022
Trang 2ĐÁNG GIÁ MỨC ĐỘ THAM GIA CỦA CÁC THÀNH VIÊN NHÓM
Bảng phân công công việc
Mức độ tham gia
Trang 3A-DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ST
Trang 4MỤC LỤC
TÌNH HUỐNG 01: 1 Câu hỏi: Chị Đỗ Thị có phải hoàn trả toàn bộ chi phí đào tạo nghề theo yêu cầu của Công ty H hay không? Vì sao? 1 TÌNH HUỐNG 02: 2 Câu 1: Thỏa thuận bảo lãnh và phạt vi phạm trong vụ việc trên đây là đúng hay trái pháp luật? Vì sao? 2 Câu 2: Xác định các trường hợp người học nghề, người lao động phải chị trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo? 3 Câu 3: Giả sử anh Văn hoàn thành khóa đào tạo và sau khi đã làm việc được 35% tổng thời gian cam kết làm việc theo hợp đồng đào tạo thì anh Văn chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật Vậy, anh Văn phải chịu trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo như thế nào? 3
Trang 5TÌNH HUỐNG 01:
Câu hỏi: Chị Đỗ Thị có phải hoàn trả toàn bộ chi phí đào tạo nghề theo yêu cầu của Công ty H hay không? Vì sao?
CSPL: khoản 3, Điều 34 và khoản 3, Điều 62, BLLĐ 2019.
Chị Đỗ Thị không phải hoàn trả toàn bộ chi phí đào tạo nghề theo yêu cầu Công ty H vì:
Việc chấm dứt HĐLĐ giữa chị Đỗ Thị và công ty H là phù hợp với quy định của pháp
luật căn cứ theo khoản 3, Điều 34, BLLĐ 2019, đây là trường hợp hai bên có sự thỏa thuận
về chấm dứt HĐLĐ, cụ thể: Chị Đỗ Thị được phép nghỉ việc với điều kiện hoàn trả tất cả khoản phí trong thời gian đào tạo cho công ty H
Sau khi hoàn trả cho Công ty H được 3 đợt, chị Đỗ Thị dừng việc hoàn trả với lý do
không chấp nhận khoản học phí như Công ty H đã yêu cầu Căn cứ theo khoản 3, Điều 62, BLLĐ 2019:
…Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người học trong thời gian đi học Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian đào tạo…
Như vậy, chị Đỗ Thị chỉ cần trả những khoản chi phí đào tạo có chứng từ hợp lệ Trong trường hợp này, khoản chi về đào tạo học phí do Công ty H đưa ra không có chứng
từ hợp lệ nên việc chị Đỗ Thị không đồng ý hoàn trả số tiền này là đúng Do đó, chị Đỗ Thị
có trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo nghề nhưng không bao gồm chi phí đào tạo là học phí Tổng số tiền này phải khấu trừ đi thời gian chị Đỗ Thị làm việc cho Công ty H và trừ đi
số tiền chị đã hoàn trả cho Công ty 3 đợt trước
Cụ thể, chị Đỗ Thị không phải hoàn trả khoản chi phí đào tạo là học phí là 117.137.885 đồng mà chỉ phải hoàn trả cho Công ty H tiền chi phí đào tạo nghề là 92.859.191 đồng, chị Đỗ Thị đã hoàn trả được 35.000.000 đồng, chị Đỗ Thị còn phải hoàn trả số tiền là 57.859.191 đồng (Năm mươi bảy triệu tám trăm lăm chín nghìn một trăm chín mốt đồng).1
1 Bản án số 01/2017/LĐ-ST ngày 07/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
1
Trang 6TÌNH HUỐNG 02:
Câu 1: Thỏa thuận bảo lãnh và phạt vi phạm trong vụ việc trên đây là đúng hay trái pháp luật? Vì sao?
CSPL: Điều 335, khoản 2 Điều 336, khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468, BLDS 2015
* Về thỏa thuận bảo lãnh:
Thỏa thuận bảo lãnh giữa ông Hoàng và công ty L là chưa đúng theo quy định của
pháp luật Cụ thể:
Thứ nhất, ông Hoàng cam kết anh Văn sẽ thực hiện đầy đủ nội dung của hợp đồng đào tạo và chính sách của Công ty L Tuy nhiên, căn cứ theo Điều 335 BLDS 2015 quy định:
“Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên
có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa
vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.”
Như vậy, căn cứ theo quy định trên, ông Hoàng (bên bảo lãnh) không có nghĩa vụ đảm bảo rằng anh Văn (bên được bảo lãnh) sẽ thực hiện đầy đủ nội dung của hợp đồng đào tạo
và chính sách của Công ty L liên quan đến đào tạo
Thứ hai, căn cứ theo Hợp đồng đào tạo số VH000315/2017 - ĐT của anh Văn và Công
ty L, anh Văn có nghĩa vụ:
1 Tham gia đầy đủ và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của khóa đào tạo, tự thanh toán mọi chi tiêu cá nhân ngoài các khoản mà Công ty L đã hỗ trợ
2 Có trách nhiệm hoàn trả cho Công ty L chi phí đào tạo khi không hoàn thành khóa đào tạo vì bất kỳ lí do nào hoặc đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong thời gian đào tạo, … 2
Như vậy, khi anh Văn không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả chi phí đào tạo thì ông Hoàng chỉ thực hiện thay nghĩa vụ cho anh Văn là hoàn trả chi phí đào tạo
*Về phạt vi phạm trong vụ việc:
Phạt vi phạm trong vụ việc là chưa đúng theo quy định của pháp luật, vì: khi 2 bên có
thoả thuận thì ông Hoàng sẽ chịu trách nhiệm của anh Văn, nhưng khi k có thoả thuận thì ông Hoàng k phải chịu Tn nào của anh Văn
Thứ nhất, Công ty L yêu cầu ông Hoàng và bà Phạm (vợ ông Hoàng) trả số tiền phạt
là 195.144.999đ là hợp lý căn cứ theo khoản 2 Điều 336 BLDS 2015:”…2 Nghĩa vụ bảo
lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác…”
2 Hợp đồng Đào tạo số VH000315/2017-ĐT ngày 25 tháng 2 năm 2017
2
Trang 7Thứ hai, về vấn đề trả lãi suất của số tiền chi phí đào tạo phải do ông Hoàng và bà
Phạm (bên bảo lãnh) chi trả chứ không phải anh Văn căn cứ theo khoản 2 Điều 336 BLDS
2015 quy định.
Thứ ba, căn cứ theo khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 BLDS 2015 quy định, nếu
các bên không có thỏa thuận rõ lãi suất “thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ” Như vậy, ông Hoàng và bà
Phạm phải thanh toán số tiền lãi của số tiền chi phí đào tạo là 10%/năm
Câu 2: Xác định các trường hợp người học nghề, người lao động phải chị trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo?
Bao gồm 03 trường hợp:
Thứ nhất, NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật.
Theo Điều 39 BLLĐ 2019, NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật là
trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng không thuộc các trường hợp
được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng tại Điều 35 BLLĐ 2019 Theo Khoản 3 Điều
40 BLLĐ 2019, NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo Điều 62 BLLĐ 2019.
Thứ hai, NLĐ chấm dứt HĐLĐ đúng theo pháp luật
Theo Điểm d, e Khoản 2 Điều 62 BLLĐ 2019, Khoản 3 Điều 428 BLDS 2015, nội
dung hợp đồng đào tạo nghề phải có thỏa thuận về việc hoàn trả chi phí đào tạo, trách nhiệm của NLĐ và thỏa thuận này vẫn có hiệu lực sau khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt Do đó, nếu NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng theo quy định của pháp luật lao
động tại Điều 35 BLLĐ 2019, nhưng trong hợp đồng đào tạo nghề của các bên có thỏa
thuận về việc trách nhiệm hoàn phí thì NLĐ vẫn phải hoàn trả chi phí đào tạo
Thứ ba, theo Khoản 2 Điều 61 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014, người tốt nghiệp
các khóa đào tạo do người sử dụng lao động cấp chi phí đào tạo phải làm việc cho họ theo thời hạn đã cam kết trong hợp đồng đào tạo, nếu không thực hiện đúng cam kết thì phải bồi thường
Câu 3: Giả sử anh Văn hoàn thành khóa đào tạo và sau khi đã làm việc được 35% tổng thời gian cam kết làm việc theo hợp đồng đào tạo thì anh Văn chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật Vậy, anh Văn phải chịu trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo như thế nào?
Anh Văn có trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo cho Công ty, cụ thể:
* Về căn cứ hoàn trả:
Theo Điểm d, e Khoản 2 Điều 62 BLLĐ 2019, Khoản 3 Điều 428 BLDS 2015 nội
dung hợp đồng đào tạo nghề phải có thảo thuận về việc hoàn trả chi phí đào tạo, trách nhiệm của NLĐ và thỏa thuận này vẫn có hiệu lực sau khi hợp đồng bị đơn phương chấm
3
Trang 8dứt Do đó, tuy anh Văn chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật, nhưng trong hợp đồng đào tạo nghề của các bên có thỏa thuận về trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo của anh Văn khi không làm đủ thời gian đã cam kết nên anh Văn vẫn phải hoàn trả chi phí đào tạo cho Công ty
* Về mức hoàn trả:
- Xét trong tình huống trên: Theo thỏa thuận thì anh Văn phải hoàn trả toàn bộ chi phí đào tạo là 165.352.199đ khi không hoàn thành khóa đào tạo vì bất kỳ lý do nào hoặc đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trong thời gian đào tạo, không đảm bảo thời gian làm việc cho Công ty L như cam kết Nhưng anh Văn đã làm việc cho Công ty được 35% tổng thời gian cam kết làm việc theo hợp đồng đào tạo, do đó xét đến cân bằng lợi ích giữa hai bên thì mức phí anh Văn phải hoàn trả sẽ theo thỏa thuận giữa hai bên Tuy nhiên, trong đề bài không qui định rõ mức hoàn trả nên nhóm em xem như mức phí hoàn trả sẽ dựa vào thời gian anh Văn chưa hoàn thành công việc theo cam kết là: 165.352.199 x 65% = 107.478.929,4đ
- Xét theo Bản án số 01/2017/TLST-LĐ ngày 21 tháng 6 năm 2017 về tranh chấp học nghề theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 698/2017/QĐXXST-LĐ ngày 22 tháng 8 năm
2017: “…Nếu thời gian làm việc dưới 50% thì chi trả 100% chi phí đào tạo, từ 51% đến 80% thời gian thì chi trả 70% chi phí đào tạo; từ 81% đến 100% thời gian thì chi trả 30% chi phí đào tạo.” Vì vậy, anh Văn đã làm việc cho Công ty được 35% tổng thời gian cam
kết làm việc theo hợp đồng đào tạo thì phải chi trả 100% chi phí đào tạo, tức là 165.353.199đ theo đúng cam kết trong bản án
4
Trang 9DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A Văn bản quy phạm pháp luật:
- Bộ luật Lao động (Bộ luật số: 45/2019/QH14) ngày 20/11/2019;
- Bản án số 01/2017/LĐ-ST ngày 07/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình;
- Bản án số 01/2017/TLST-LĐ ngày 21 tháng 6 năm 2017 về tranh chấp học nghề theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 698/2017/QĐXXST-LĐ ngày 22 tháng 8 năm 2017;
- Hợp đồng Đào tạo số VH000315/2017-ĐT ngày 25 tháng 2 năm 2017