Sư tầm một bản án của tòa án xác định giao dịch dân sự vô hiệu và nêu quan điểm của cá nhân về hậu quả pháp lý của giao dịch này được giải quyết trong bản án...1 2.1.. Sưu tầm một bản án
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu 1
1.1 Khái quát về giao dịch dân sự 1
1.2 Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự dân sự vô hiệu 1
II Sư tầm một bản án của tòa án xác định giao dịch dân sự vô hiệu và nêu quan điểm của cá nhân về hậu quả pháp lý của giao dịch này được giải quyết trong bản án 1
2.1 Bản án của tòa án xác định giao dịch dân sự vô hiệu 1
2.2 Nêu quan điểm của cá nhân về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được giải quyết trong bản án 1
KẾT LUẬN 1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 2MỞ ĐẦU
Giao dịch dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu cho cá nhân, pháp nhân,
hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập và thực hiện các quyền nghĩa vụ dân sự nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng và trong sản xuất kinh doanh Giao dịch dân sự càng có ý nghĩa qua trọng trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Thực tế cho thấy việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiều và giải quyết hậu quả pháp lí khi giao dịch dân sự vô hiệu vẫn là vấn đề phức tạp, gây ra nhiều vướng mắc Việc nắm vững và hiểu rõ về giao dịch dân sự vô hiệu có ý nghĩa rất quan trọng với mỗi người trong xã hội hiện nay Vì vậy, em xin
chọn và phân tích đề 1: Phân tích hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu Sưu tầm một bản án của tòa án xác định giao dịch dân sự vô hiệu và nêu quan điểm của cá nhân về hậu quả pháp lý của giao dịch này được giải quyết trong bản án Để có thêm
sự hiểu biết rõ và sâu sắc hơn về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu Từ đó có hướng giải quyết đúng đắn trong từng trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu Lượng kiến thức của em còn nhiều hạn chế, trong quá trình làm không thể tránh khỏi những thiếu sót em rất mong được sự góp ý từ thầy (cô) để bài em được hoàn thiện hơn, em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I Hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu
1.1 Khái quát về giao dịch dân sự
1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của giao dịch dân sự
Khái niệm: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (điều 116 BLDS năm 2015)
Ý nghĩa:
- Giao dịch luôn thể hiện ý chí của người tham gia
- Là căn cứ hình thành pháp luật dân sự
- Là căn cứ để chủ thể xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự
- Là phương tiện để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể
1.1.2 Phân loại giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự bao gồm: Hợp đồng dân sự; hành vi pháp lý đơn phương; giao dịch dân sự có điều kiện
Hợp đồng dân sự là sự thể hiện ý chí của hai hay nhiều biên tham gia làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Hợp đồng giao dịch dân sự là loại giao dịch phổ biến nhất trong đời sống hàng ngày “thỏa thuận” vừa là nguyên tắc vừa là đặc trưng của hợp đồng dân sự và được thể hiện trong tất cả các giai đoạncủa quan hệ hợp đồng – từ giao kết đến thực hiện hoặc sửa đổi, chấm dứt hợp đồng dân sự
Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Hành vi pháp lý đơn
Trang 3phương là một giao dịch cho nên nội dung và hình thức phải phù hợp với các điều kiện
có hiệu lực của giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự có điều kiện là giao dịch mà hiệu lực của nó phát sinh hoặc hủy
bỏ phụ thuộc vào sự kiện nhất định Khi giao dịch đó xảy ra thì giao dịch phát sinh hoặc hủy bỏ Giao dịch có điều kiện phát sinh là giao dịch đã được xác lập nhưng chỉ phát sinh hiệu lực khi có sự kiện được coi là điều kiện xảy ra Giao dịch có điều kiện hủy bỏ
là giao dịch được xác lập và phát sinh hiệu lực nhưng khi có điều kiện xảy ra thì giao dịch bị hủy bỏ
1.1.3 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Được quy định tại điều 117 BLDS năm 2015 là:
- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập.
- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện.
- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội.
- Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
1.2 Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự dân sự vô hiệu.
1.2.1 Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu.
Theo điều 122 BLDS năm 2015 “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại điều 117 của bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp bộ luật này có quy định khác”
Chỉ những giao dịch dân sự hợp pháp mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên
và được Nhà nước bảo đảm thực hiện Một giao dịch dân sự hợp pháp phải tuân thủ ba điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (trong một số trường hợp cụ thể phải tuân thủ thêm điều kiện về hình thức) Vì vậy, về nguyên tắc giao dịch không tuân thủ một trong các điều kiện kiện có hiệu lực của giao dịch dan sự sẽ bị vô hiệu Những quy định về sự
vô hiệu của giao dịch dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập trật tự kỉ cương
xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và Nhà nước; bảo đảm
an toàn pháp lý cho các chủ thể trong giao dịch dân sự
1.2.2 Các loại giao dịch dân sự vô hiệu
Theo cách phân loại truyền thống thì chia thành hai nhóm chính: vô hiệu tuyệt đối (hay còn gọi là vô hiệu đương nhiên) và vô hiệu tương đối (hay còn gọi là vô hiệu bị tuyên)
Giao dịch vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức của xã hội.(điều 123)
Trang 4Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm các quy định bắt buộc về hình thức của giao dịch (điều 129)
Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (điều 124)
Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (điều 125)
Giao dịch dân sự vô dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (điều 126)
Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (điều 127)
Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (điều 127)
1.2.3 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được quy định trong điều 131 BLDS năm 2015:
1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
3 Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả laijhoa lợi, lợi tức đó.
4 Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại.
5 Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự liên quan đến quyền nhân thân do
bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.
Các căn cứ xác định giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ điều 122 đến điều 129 và giao dịch dân sự từng phần được quy định tại điều 130 BLDS năm 2015
Khi một giao dịch bị tuyên bố là vô hiệu, thì giao dịch này không thể làm phát sinh hiệu lực Về khoa học pháp lý, giao dịch vô hiệu được xác định hoặc là vô hiệu tương đối hoặc là vô hiệu tuyệt đối và đều là vô hiệu từ thời điểm xác lập, đều là giao dịch vô hiệu toàn bộ Với lập luận này, những giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối là giao dich vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức của xã hội theo quy định tại điều 123 BLDS Giao dịch vô hiệu do giả tạo theo quy định tại điều 124 BLDS cũng là giao dịch
vô hiệu tuyệt đối Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối do giao dịch do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội và giao dịch giả tạo đương nhiên bị coi là vô hiệu toàn bộ
và vô hiệu từ thời điểm xác lập Giao dịch vô hiệu tương đối là những giao dịch do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (điều 129); giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (điều 126); giao dịch dân sự do bị
Trang 5lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (điều 127); giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi của mình (điều 129) Tính chất của giao dịch dân sự vô hiệu tương đối là phải có yêu cầu của đương sự thì toàn án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
Tuy nhiên cần xác định giao dịch không tuân thủ quy định về hình thức theo quy
định tại điều 129 BLDS quy định: “giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu” Nếu xét về các điều kiện có hiệu lực của giao dịch, giao
dịch vi phạm về hình thức luật định cũng là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối, Chỉ trừ những trường hợp ngoại lệ theo quy định tại khoản 1 và 2 điều 129 như đã phân tích tại phần trên
Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại điều 131 BLDS năm
2015 gồm các nội dung sau:
- Về thời điểm vô hiệu của giao dịch: giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch dân sự được xác lập (khoản 1) Điều này có nghĩa là nghĩa vụ của các bên phát sinh từ chính giao dịch vô hiệu, chứ không phải phát sinh từ giao dịch Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì quyền và nghĩa vụ của các bên không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Nếu hợp đồng chỉ mới xác lập mà chưa thực hiện thì các bên không được phép thực hiện, còn trường hợp đang thực hiện thì không tiếp tục thực hiện nữa, nếu hợp đồng đã thực hiện thì các bên xử lý tài sản
- Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả Về nguyên tắc, đối tượng của giao dịch dịch là vật, thì khi giao dịch vô hiệu bên nhận vật có nghĩa vụ hoàn trả lại vật (hoàn nguyên) mà mình đã nhận cho bên có quyền Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn tả Giá của hiện vật được xác định vào thời điểm xét xử sơ thẩm Hoàn trả tiền trong trường hợp này tương tự bồi thường thiệt hại về tài sản (vật là đối tượng của giao dịch không còn) Về nguyên tắc, người có lỗi gây ra thiệt hại phải bồi thường Trong đó, có thể tồn tại lỗi của một bên hoặc lỗi của hai bên
- Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức đó Điều này có nghĩa là việc hoàn trả hay không hoàn trả hoa lợi, lợi tức phụ thuộc vào sự ngay tình hay không ngay tình của bên nhận tài sản như các quy định về hoàn trả tài sản
do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.Giao dịch có các đối tượng là động sản pháp luật không quy định phải đăng ký quyền sở hữu, mà bên thuê, bên mượn, bên mua tài sản này từ bên cho thuê, cho mượn, bên bán, , sau đó giao dịch bị tuyên vô hiệu, thì bên mua, bên thuê, bên mượn động sản không có nghĩa vụ trả lại hoa lợi, lợi tức thu được do khai thác tài sản đó
- Bên có lỗi gây ra thiệt hại thì phải bồi thường Khi buộc một bên bồi thường thì chúng
ta phải xác định đủ hai yếu tố: một là yếu tố có lỗi, hai là thực tế phải tồn tại thiệt hại Bên có lỗi trong quan hệ giao dịch như lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, người khác tham gia giao dịch, khi giao dịch bị tuyên vô hiệu, bên bị tham gia giao dịch trái ý chí tự nguyện
Trang 6bị thiệt hại, thì bên có hành vi lừa dối, đe dọa, cưỡng ép phải bồi thường Khi giao dịch dân sự vô hiệu, nếu các bên có yêu cầu giải quyết bồi thường thì Tòa án có trách nhiệm xác định thiệt hại về nguyên tắc, một bên chỉ phải bồi thường cho bên kia khi có thiệt hại xảy ra, không có thiệt hại thì không có trách nhiệm bồi thường.Việc xác định giá của tài sản trong giao dịch cũng là một vấn đề đáng lưu ý để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại Về nguyên tắc, người có lỗi gây ra thiệt hại phải bồi thường Trong đó,
có thể tồn tại lỗi của một bên hoặc lỗi của hai bên Trong trường hợp tồn tại lỗi của hai bên làm cho giao dịch dân sự vô hiệu thì phải xác định mức độ lỗi của các bên để thấy được thiệt hại cụ thể để quy trách nhiệm bồi thường tương ứng theo lỗi của mỗi bên
- Theo quy định tại khoản 5 điều 131 BLDS thì việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do bộ luật này, luật khác có liên quan quy định Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, quyền của người biểu diễn được pháp luật bảo hộ, nhưng một người lừa dối, dọa nạt để người biểu diễn tham gia giao dịch biểu diễn, giao dịch bị tuyên là vô hiệu, thì quyền nhân thân của người biểu diễn bị xâm phạm được bồi thường theo trách nhiệm bồi thường thiệt hại
II Sư tầm một bản án của tòa án xác định giao dịch dân sự vô hiệu và nêu quan điểm của cá nhân về hậu quả pháp lý của giao dịch này được giải quyết trong bản án.
2.1 Bản án của tòa án xác định giao dịch dân sự vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
BẢN ÁN 10/2018/DS-PT NGÀY 03/07/2018 VỀ TRANH CHẤP YÊU CẦU TUYÊN
BỐ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU VÀ GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
Ngày 03 tháng 7năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (số 11 Tôn Đức Thắng, thành phố Huế) mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công Khi vụ án dân sự thụ
lý số: 19/2017/TLPT-D ngày 05/12/2017 về Tranh chấp yêu cầu tuyên bố giao dịch dân
sự vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu Do bản án dân sự sơ thẩm số 36/2017/DSST ngày 23/10/2017 của Tòa án nhân thành phố Huế bị kháng cáo
và kháng nghị Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 02/2018/QĐ-PT ngày
05 tháng 3 năm 2018, quyết định hoản phiên tòa, thông báo về việc mở lại phiên tòa và thông báo về việc mở lại phiên tòa lần 2 giữa các đương sự:
1 Nguyên đơn:Bà Hồ Thị Th
Nơi ĐKNKTT: đường Ph, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trú tại: đường Ph, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế Có mặt
2 Bị đơn: Ông Nguyễn Thượng Ph và à Phạm Thị Thu H
Nơi ĐKNKTT: đường Q, phường N, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế Trú tại: đường
Ph, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế Có mặt
Trang 73 Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Kim T
Trú tại: đường Ph, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Có mặt
- Ông Nguyễn Duy Kh và bà Dương Thị Tr;
Trú tại: khu vực 5, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhưng họ đều vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn bà Hồ Thị Th trình bày:
Vào ngày 03/9/2005, bà Hồ Thị Th và chồng là ông Trần Kim T có đặt cọc cho ông Nguyễn Duy Kh và bà Dương Thị Tr và đến ngày 15/8/2006, sau khi trả hết tiền thì lập Giấy thỏa thuận mua bán để mua toàn bộ thửa đất diện tích 36,5m2 thuộc tờ bản đồ số
14, thửa số 114 (sau này là thửa 291), tại đường Ph, phường V, thành phố H của vợ chồng ông Kh, bà Tr Thửa đất nàyliền kề với thửa số 115, trong đó có 16,5m2 nằm trong diện quy hoạch mở đường Ph Vợ chồng ông Kh và vợ chồng bà Th không thực hiện công chứng hợp đồng mà chỉ thỏa thuận mua bán với nhau bằng giấy viết tay Ngày 29/11/2005, bà Th và ông T tiếp tục mua của các bà Nguyễn Thị Th và bà Nguyễn Thị B 01 thửa đất với diện tích 65m2 thuộc tờ bản đồ số 14, thửa số 115, tọa lạc tại đường Ph, phường V, thành phố H Sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất trên, vợ chồng bà Th chuyển nhượng cho vợ chồng ông Huỳnh Quang Ph và bà Trương Thị Th 25m2 cũng vào ngày 29/11/2005
Ngày 15/3/2006, vợ chồng bà Th được Ủy ban nhân dân thành phố Huế cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên có diện tích 65m2
Trước đó, ngày 25/01/2006, vợ chồng bà Th nhận số tiền cọc 160.000.000 đồng của vợ chồng ông Nguyễn Thượng Ph và bà Phạm Thị Thu H để bán một lô đất và ngôi nhà cấp 4 gồm 40m2 của thửa 115 và 20m2của thửa 114 do vợ chồng bà mua của ông Nguyễn Duy Kh và bà Dương Thị Tr (16,5m2 nằm trong diện quy hoạch mở đường Đường Ph nên ông Ph, bà H không mua) Tổng diện tích vợ chồng bà Th bán cho vợ chồng ông Phong là 60m2 gồm 2 thửa đất tại đường Ph, thành phố H với giá 8.000.000đồng/m2, thành tiền là 480.000.000đồng, có lưu chủ 6.000.000đồng nên còn lại là 474.000.000đồng Trên diện tích đất vợ chồng bà Th bán cho ông Ph, bà H có 01 ngôi nhà cấp 4 do vợ chồng bà Th xây Đến ngày 25/8/2006, hai bên lậpGiấy thỏa thuận mua bán nhà, đất, vợ chồng ông Ph, bà H giao tiếp cho vợ chồng bà Th 140.000.000đồng Tổng cộng 02 đợt là 300.000.000đồng Số tiền còn lại 174.000.000đồng, hai bên thỏa thuận khi nào bên bán hoàn thành thủ tục tách, hợp thửa
và công chứng hợp đồng bên mua sẽ thanh toán hết
Trang 8Sau khi 2 bên ký giấy thỏa thuận mua bán thì vợ chồng Bà đã giao đất và nhà cho ông
Ph, bà H sử dụng Vợ chồng Bà đã tiến hành làm thủ tục tách thửa và hợp thửa cho 02 thửa đất tại 107 và đường Ph, thành phố H theo đúng thỏa thuận Tuy nhiên, khi vợ chồng Bà tìm hiểu mới biết được là thửa đất tọa lạc tại số 107 Đường Ph không thể tách thửa để hợp với thửa đất tại 107/1 vì chưa đủ diện tích theo quy định của pháp luật và chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không thể tách thửa và gộp thửa được Sau nhiều lần vợ chồng Bà yêu cầu vợ chồng ông Ph, bà H trả số tiền còn lại, nhưng vợ chồng ông Ph lấy lý do chưa làm được giấy tờ, nên không trả mà yêu cầu vợ chồng Bà phải thực hiện thỏa thuận mà 02 bên đã cam kết Sau nhiều lần thương lượng, đưa ra nhiều phương án để giải quyết, vợ chồng ông Ph, bà H cũng không thống nhất và không chịu trả tiền cho Bà Vợ chồng Bà nhận thấy việc không làm được giấy tờ là do khách quan, chứ không phải lừa dối vợ chồng ông Phong vì không đúng quy định của pháp luật.Vì vậy, Bà yêu cầu Tòa án hủy Giấy đặt cọc mua bán đất ngày 25/01/2006 và Giấy thỏa thuận mua bán nhà, đất ngày 25/8/2006 vì giao dịch này vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật Vợ chồng Bà thống nhất trả lại tiền chuyển nhượng đất đã nhận, đồng thời thanh toán giá trị tài sản mà vợ chồng ông Phong đã xây dựng trên đất theo giá trị mà Hội đồng định giá đã định giá
Bị đơn – ông Nguyễn Thượng Ph, bà Phạm Thị Thu H trình bày:
Vào ngày 25/01/2006 vợ chồng Ông, Bà đồng ý mua lô đất gồm 02 thửa tại số nhà 107
và 107/1 và Đường Ph, phường Phước Vĩnh, thành phố Huế (trước 25m2 sau 40m2 tổng diện tích là 60m2 với giá 8.000.000đồng/m2) Vợ chồng Ông, Bà đã đặt cọc số tiền là 160.000.000 đồng, tại thời điểm đó 01m2 có thẻ đỏ chỉ có 6.000.000 đồng Nhưng do cần đất để ở và mặt tiền để kinh doanh nên Ông, Bà không tính toán chỉ với điều kiện là
có giấy tờ hợp pháp mang tên mình nên vợ chồng Ông, Bà mới đồng ý mua với giá 8.000.000đồng/m2, với tổng số tiền là480.000.000 đồng, lưu chủ 6.000.000đồng, số tiền còn lại là 474.000.000đồng
Lúc đầu vợ chồng Ông, Bà có ý định là ra công chứng sang tên của mình rồi mới nhận đất để làm nhà, nhưng do bà H có thai ngoài dự định và ở nhà thuê chật chội quá nên vợ chồng Ông, Bà đành phải giao thêm số tiền là 140.000.000đồng để nhận đất làm nhà và sinh con Vì giấy tờ chưa xong và bà Th hứa chắc chắn sẽ sang tên, nhập thửa trong vòng vài tháng và để lại cho vợ chồng Ông, Bà 174.000.000đồng gọi là niềm tin để lúc làm xong giấy tờ sẽ lấy hết Vợ chồng Ông, Bà lúc đó quá cần nhà để ở và buôn bán nên mặc dù giấy tờ còn mang tên vợ chồng bà Th, nhưng vẫn nhận đất làm nhà và tin lời bà
Th hứa sẽ sang tên nhập thửa cho vợ chồng Ông, Bà để nhận số tiền còn lại Từ khi vợ chồng Ông, Bà làm nhà đến nay không có ai tranh chấp gì, vợ chồng Ông, Bà cũng đã ở
ổn định và hiện không có chỗ ở nào khác Nên, Vợ chồng Ông, Bà không đồng ý hủy hợp đồng, đề nghị Tòa án xem xét cho vợ chồng Ông, Bà tiếp tục thực hiện hợp đồng Đối với số tiền174.000.000 đồng còn lại theo thỏa thuận, do bà Th không làm giấy tờ tách, nhập thửa được thì vợ chồng Ông, Bà sẽ tự làm giấy tờ
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Ông Trần Kim T thống nhất như ý kiến của bà Th và không bổ sung gì thêm
Trang 9- Ông Trần Kim Kh và bà Dương Thị Tr: Tòa án đã triệu tập nhiều lần đến tham gia tố tụng nhưng ông Kh, bà Tr đều cố tình vắng mặt nên không có lời khai
Tại bản án số 36/2017/D - T ngày 23/10/2017, Tòa án nhân dân thành phố Huế đã quyết định:
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 Áp dụng Điều 121, Điều 122, Điều 127, Điều 128, Điều 134, Điều 137, Điều 450 và Điều 689 Bộ luật dân
sự năm 2005; Điều 106 Luật Đất đai 2003; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Quyết định số 32/2014/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế; khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh án phí,
lệ phí Toà án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; điểm b khoản 3 Điều 17 Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 25/01/2006 và hợp đồngchuyển nhượng nhà, đất lập ngày 25/8/2006 giữa ông, bàTrần Kim T, Hồ Thị Th và ông, bà Nguyễn Thượng Ph, Phạm Thị Thu H vô hiệu toàn bộ [2] Buộc ông Nguyễn Thượng Ph và bà Phạm Thị Thu H phải thanh toán cho ông Trần Kim T, Hồ Thị Th số tiền 197.000.000 đồng (trong đó tiền nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất chưa thanh toán 174.000.000 đồng và 23.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại)
[3] Giao cho ông, bà Nguyễn Thượng Ph, Phạm Thị Thu H sở hữu, sử dụng ngôi nhà và tạm giao 40m2 quyền sử dụng đất tại thửa đất sổ 115, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại 107/1 Đường Ph, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (được Ủy ban nhân dân thành phố Huế cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 909313 ngày 15/3/2006)
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí giám định, quyền yêu cầu thi hành
án, lãi suất chậm trảvà quyền kháng cáocho các đương sự theo luật định
Ngày 06/11/2017, bà Hồ Thị Th có đơn kháng cáo và ngày 07/11/2017 kháng cáo bổ sung toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả lại nhà, đất đang tranh chấp và nguyên đơn sẽ trả lại tiềnđã nhận chuyển nhượng và thanh toán lại giá trị tài sản trên đất cho bị đơn
Ngày 02/11/2017, bị đơn Ông Nguyễn Thượng Ph kháng cáo một phần bản án sơ thẩm với nội dung không chấp nhận việc Tòa án tuyên xác định mức lỗi của vợ chồng ông là 50% mà lỗi hoàn toàn do phí nguyên đơn; ngoài ra đề nghị công nhận cho vợ chồng ông
Ph, bà H được sở hữu 20m2 đất tranh chấp
Tại Quyết định kháng nghị số 385/QĐKNPT-VKS-DS ngày 07/11/2017, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã kháng nghị đối với bản án sơ thẩm số 36/2017/D T ngày 23/10/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Huế với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng hủy Bản án sơ thẩm nêu trên do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và nội dung, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm
Trang 10Trước khi mở phiên tòa, tại buổi làm việc vào ngày 19 tháng 6 năm 2018 vợ chồng ông Trần Kim T bà Hồ Thị Th và vợ chồng ông Nguyễn Thượng Ph, bà Phạm Thị Thu H đã thỏa thuận như sau: Ông Nguyễn Thượng Ph và bà Phạm Thị Thu H có nghĩa vụ trả cho
bà Hồ Thị Th và ông Trần Kim T tổng số tiền: 185.000.000 đồng Ngoài ra không có ý kiến gì thêm
Tại phiên tòa, các bên đương sự; đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnhcó ý kiến:
Ý kiến của vợ chồng ông T, bà Th: Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 25/01/2006 và hợp đồngchuyển nhượng nhà, đất lập ngày 25/8/2006 giữa vợ chồng chúng tôi với ông, bà Nguyễn Thượng Ph, Phạm Thị Thu H vô hiệu toàn bộ thì chúng tôi đồng ý Phía vợ chồng ông Nguyễn Thượng Phvà bà Phạm Thị Thu H có nghĩa vụ trả cho chúng tôi số tiền: 185.000.000 đồng, trong đó tiền còn thiếu là 174.000.000 đồng và tiền bồi thường thiệt hại do có lỗi là 11.000.000 đồng.Vợ chồng chúng tôi thỏa thuận cung cấp các giấy tờ tài liệu liên quan đến hai thửa đất cho vợ chồng ông Ph bà H và cùng phối hợp để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Ý kiến của vợ chồng ông Ph ,bà H: Vợ chồng chúng tôi hoàn toàn nhất trí như ý kiến của vợ chồng anh T, chị Th đã trình bày Chúng tôi có nghĩa vụ trả lại cho vợ chồng anh
T, chị Th số tiền 185.000.000 đồng trong đó tiền còn thiếu là 174.000.000 đồng và tiền bồi thường thiệt hại do có lỗi là 11.000.000 đồng Vợ chồng chúng tôi tự nguyện làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất khi có quy định mới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh như sau:
Về kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị
án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các bên đương sự đều tuân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên không có kiến nghị gì cần khắc phục
Về nội dung vụ án: Tai phiên tòa hôm nay các bên đương sự đều thống nhất thỏa thuận các hợp đồng đặt cọc ngày 25/01/2006 và hợp đồngchuyển nhượng nhà, đất lập ngày 25/8/2006 giữa ông, bàTrần Kim T, Hồ Thị Th và ông, bà Nguyễn Thượng Ph, Phạm Thị Thu Hlà vô hiệu toàn bộ.Ông Nguyễn Thượng Phvà bà Phạm Thị Thu H có nghĩa
vụ trả cho bà Hồ Thị Th và ông Trần Kim T tổng số tiền: 185.000.000 đồng trong đó tiền còn thiếu là 174.000.000 đồng và tiền bồi thường thiệt hại do có lỗi là 11.000.000 đồng Vợ chồng ông Ph, bà H tự nguyện làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất khi có quy địnhmới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Vợ chồng ông T, bà Th thỏa thuận cung cấp các giấy tờ tài liệu liên quan đến hai thửa đất cho vợ chồng ông Ph, bà H và cùng phối hợp để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Do đó, để tôn trọng sự tự định đoạt của các bên đương sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự và rút toàn bộ nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế và căn cứ vào khoản 3 Điều 284 và khoản 3 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự để đề nghịHội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với toàn bộ nôi dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế