CHƯƠNG 4 (5): KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Xác định điều kiện vụ án điều 117 118 …. 143 Tổng có 5 điều kiện Xuất biên lai, đóng tạm ứng án phí (đặc biệt thì miễn đóng) mức đóng là 300k nộp toà tỉnh thì tại cục thi hành án Chuyển mình vẫn đc bảo vệ lợi ích hợp pháp còn ... Đáp ứng hết tất cả điều kiện hết thời hiệu khởi kiện thì Toà án có thụ lý không? Khi hết thời hiệu thì toà vẫn sẽ thụ lý nhưng ra đình chỉ giải quyết vụ án Điểm g điều 143 Sáng hôm nay đi kiện chiều mang đơn khiếu nại làm 2 việc khởi kiện và khiếu nại vậy được không cách giải quyết? Theo điều 33 toà án lựa chọn người giải quyết, trả lại toàn bộ hồ sơ vụ án cho ông. Ổng k biết chọn đường nào thì….. Kiện quyết định phân công công việc? Toà có thụ lý xác định vụ án hành chính không? Ông ko đc quyền tại nó là quyết định nội bộ điều 30 phạm vi giải quyết mang tính cá biệt chứ không nội bộ bí mật Khiếu nại đúng 20 ngày mang đơn ra kiện? Toà sẽ không thụ lý khoản 3 điều 116 từ chối và trả lại đơn khởi kiện NHẬN ĐỊNH: 1. Người thực hiện việc khởi kiện VAHC, phải là người có quyền về lợi ích hợp pháp khi bị xâm phạm bởi các khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo TTHC Nhận định SAI CSPL: khoản 3 Điều 117 Luật TTHC 2015 + Trong một số trường hợp người khởi kiện không thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện mà họ phải thực hiện thông qua một chủ thể khác. + Căn cứ khoản 3 Điều 117 Luật TTHC 2015 thì trong những trường hợp sau quyền khởi kiện được thực hiện thông qua chủ thể khác. Cụ thể: Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án.Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ. Như vậy, trong một số trường hợp, người khởi kiện là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi... thì quyền khởi kiện được thực hiện thông quan chủ thể khác. 2. Chỉ có cá nhân mới được quyền khởi kiện VAHC Nhận định SAI CSPL: khoản 1 Điều 115 Luật TTHC 2015 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó. Như vậy thì không chỉ có cá nhân mới được quyền khởi kiện VAHC mà còn cá cơ quan, tổ chức theo luật định được quyền khởi kiện VAHC 3. Trong trường hợp cá nhân khiếu nại QĐKLBTV theo đúng quy định của pháp luật đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trước khi khởi kiện, thời điểm cá nhân nhận được hoặc biết được QĐKLBTV đó không là căn cứ để xác định thời hiệu khởi kiện. => Nhận định đúng. CSPL: khoản 3, điều 116 Luật TTHC 2015 Trường hợp cá nhân khiếu nại QĐKLBTV theo đúng quy định của pháp luật đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trước khi khởi kiện thì căn cứ để xác định thời hiệu khởi kiện là thời điểm cá nhân nhận được hoặc biết được QĐGQKN chứ không phải QĐKLBTV. 4. Nếu tổ chức, cá nhân khởi kiện QĐGQKN về QĐXLVVCT, thời hiệu khởi kiện luôn là 30 ngày kể từ ngày nhận được QĐGQKN đó. => Nhận định sai. CSPL: khoản 4, điều 116 Luật TTHC 2015 Thời hiệu khởi kiện QĐGQKN về QĐXLVVCT không phải luôn là 30 ngày kể từ ngày nhận được QĐGQKN đó. Trường hợp tổ chức, cá nhân vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác, không thể khởi kiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được QĐGQKN về QĐXLVVCT thì thời gian trở ngại đó không tính vào thời hiệu khởi kiện; tổ chức, cá nhân vẫn có thể khởi kiện trong thời hạn được bù do sự kiện bất khả kháng gây ra. 5. Nếu vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn theo quy định của pháp luật thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác luôn không được tính vào thời hiệu khởi kiện Đây là nhận định sai. CSPL: khoản 4 Điều 116 Luật TTHC: " Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện." Chính vì thế chỉ áp dụng trường hợp vì sự bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đối với điểm a, b khoản 2 điều 116. Còn nếu trường hợp này rơi vào điểm c khoản 2 thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan vẫn tính vào thời hiệu khởi kiện. 6. Sau khi khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, cá nhân chỉ có quyền khởi kiện VAHC đối với QĐKLBTV trong trường hợp khiếu nại được giải quyết mà không đồng ý với việc giải quyết đó. Đây là nhận định sai. CSPL: khoản 1 Điều 115 Luật TTHC. Bởi vì trong trường hợp khiếu nại được giải quyết mà không đồng ý với việc giải quyết đó, cá nhân không chỉ có quyền khởi kiện VAHC đối với QĐKLBTV mà còn có quyền khởi kiện VAHC đối với QĐHC, HVHC. 7. Trong trường hợp cá nhân, tổ chức khiếu nại đối với QĐXLVVCT nhưng hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện VAHC. Nhận định sai. CSPL: k2 Điều 115, Luật TTHC BÀI TẬP: BT1: Ngày 12/11/2017, ông TTL gửi đơn đề nghị UBND thành phố HA, tỉnh QN cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.051 m2, thuộc một phần diện tích thửa đất số 103, tờ bản đồ số 2, tại khối An Phong, phường Tân An, thành phố HA, tỉnh QN. Ngày 08/4/2018, UBND thành phố HA ban hành Công văn số 970/UBND trả lời đơn ông L. với nội dung không có cơ sở giải quyết việc xin cấp Giấy chứng nhận của ông. Không đồng ý, ngày 25/5/2018, ông L khiếu nại đối với Công văn trên. Ngày 23/6/2018, UBND thành phố HA thông báo thụ lý giải quyết đơn khiếu nại lần đầu của ông L. Đến ngày 10/8/2019, Chủ tịch UBND thành phố HA ban hành Quyết định số 1707/QĐ-CTUBND giải quyết khiếu nại cho ông L với nội dung không công nhận quyền sử dụng đất và nhà trên diện tích đã mà ông đã đề nghị công nhận. Cùng ngày, ông L nhận được quyết định trên. a. Xác định đối tượng khởi kiện trong vụ án trên. → Đối tượng khởi kiện trong vụ án trên là quyết định số 1707 QD hành chính của Chủ tịch UBND thành phố HA, công văn 970/UBND. → Cspl: k1, 2 điều 3; điều 30 Luật TTHC. b. Xác định thời hiệu khởi kiện. Cspl: k2 điều 116 Chỉ xác định khởi kiện công văn 1707 quyết định cá biệt xâm phạm đến lợi ích ông L 1 năm → Thời hiệu khởi kiện của ông T.T.L đối với công văn số 970/UBND của UBND thành phố HA là ngày 10/8/2020. c. Ngày 05/8/2020, tỉnh QN có một trận bão lớn làm cho Tòa án phải tạm dừng hoạt động trong 15 ngày để khắc phục hậu quả. Ngày 20/08/2020
Trang 1CHƯƠNG 4 (5): KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
NHẬN ĐỊNH:
1 Người thực hiện việc khởi kiện VAHC, phải là người có quyền về lợi ích hợp pháp khi bị xâm phạm bởi các khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án theo TTHC
Nhận định SAI
CSPL: khoản 3 Điều 117 Luật TTHC 2015
+ Trong một số trường hợp người khởi kiện không thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện mà họ phải thực hiện thông qua một chủ thể khác
+ Căn cứ khoản 3 Điều 117 Luật TTHC 2015 thì trong những trường hợp sau quyền khởi kiện được thực hiện thông qua chủ thể khác Cụ thể: Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án.Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ
Như vậy, trong một số trường hợp, người khởi kiện là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi thì quyền khởi kiện được thực hiện thông quan chủ thể khác
2 Chỉ có cá nhân mới được quyền khởi kiện VAHC
Nhận định SAI
CSPL: khoản 1 Điều 115 Luật TTHC 2015
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, trong trường hợp không đồng
ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó
Như vậy thì không chỉ có cá nhân mới được quyền khởi kiện VAHC mà còn cá cơ quan, tổ chức theo luật định được quyền khởi kiện VAHC
3 Trong trường hợp cá nhân khiếu nại QĐKLBTV theo đúng quy định của pháp luật đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trước khi khởi kiện, thời điểm cá nhân nhận được hoặc biết được QĐKLBTV đó không là căn cứ để xác định thời hiệu khởi kiện
=> Nhận định đúng CSPL: khoản 3, điều 116 Luật TTHC 2015
Trang 2Trường hợp cá nhân khiếu nại QĐKLBTV theo đúng quy định của pháp luật đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trước khi khởi kiện thì căn cứ để xác định thời hiệu khởi kiện là thời điểm cá nhân nhận được hoặc biết được QĐGQKN chứ không phải QĐKLBTV
4 Nếu tổ chức, cá nhân khởi kiện QĐGQKN về QĐXLVVCT, thời hiệu khởi kiện luôn là 30 ngày kể từ ngày nhận được QĐGQKN đó
=> Nhận định sai
CSPL: khoản 4, điều 116 Luật TTHC 2015
Thời hiệu khởi kiện QĐGQKN về QĐXLVVCT không phải luôn là 30 ngày kể từ ngày nhận được QĐGQKN đó Trường hợp tổ chức, cá nhân vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác, không thể khởi kiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được QĐGQKN về QĐXLVVCT thì thời gian trở ngại đó không tính vào thời hiệu khởi kiện; tổ chức, cá nhân vẫn có thể khởi kiện trong thời hạn được bù do
sự kiện bất khả kháng gây ra
5 Nếu vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn theo quy định của pháp luật thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác luôn không được tính vào thời hiệu khởi kiện
Đây là nhận định sai CSPL: khoản 4 Điều 116 Luật TTHC: " Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện." Chính vì thế chỉ áp dụng trường hợp vì sự bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đối với điểm a, b khoản 2 điều 116 Còn nếu trường hợp này rơi vào điểm c khoản 2 thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan vẫn tính vào thời hiệu khởi kiện
6 Sau khi khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, cá nhân chỉ
có quyền khởi kiện VAHC đối với QĐKLBTV trong trường hợp khiếu nại được giải quyết mà không đồng ý với việc giải quyết đó
Đây là nhận định sai CSPL: khoản 1 Điều 115 Luật TTHC
Bởi vì trong trường hợp khiếu nại được giải quyết mà không đồng ý với việc giải quyết đó, cá nhân không chỉ có quyền khởi kiện VAHC đối với QĐKLBTV mà còn
có quyền khởi kiện VAHC đối với QĐHC, HVHC
Trang 37 Trong trường hợp cá nhân, tổ chức khiếu nại đối với QĐXLVVCT nhưng hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện VAHC
Nhận định sai
CSPL: k2 Điều 115, Luật TTHC năm 2015
Theo quy định tại K2 Điều 115 tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối QĐXLVVCT trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó Do đối tượng khởi kiện trong trường hợp này đã là quyết định giải quyết khiếu nại về QĐXLVVCT nên
tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện quyết định này khi không đồng ý mà không cần đặt ra quy định về thủ tục khiếu nại
8 Nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân khiếu nại QĐHC theo quy định của pháp luật khiếu nại thì ít nhất sau 30 ngày kể từ ngày khiếu nại được thụ lý, cơ quan, tổ chức, cá nhân mới có quyền khởi kiện VAHC
Nhận định SAI
CSPL: Khoản 1 Điều 115 Luật TTHC 2015
Ta thấy quyền khởi kiện vụ án Hành chính của cơ quan, tổ chức, cá nhân đi khiếu nại QĐHC dù pháp luật khiếu nại có quy định “ít nhất sau 30 ngày kể từ ngày khiếu nại được thụ lí cơ quan tổ chức, cá nhân mới có quyền khởi kiện VAHC’ thì ta không quan tâm là chỉ quan tâm đến Luật TTHC quy định “Quyền khởi kiện vụ án" của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó thì có quyền khởi kiện VAHC
9 Người khởi kiện VAHC không thể khởi kiện bằng hình thức trực tiếp trình bày nội dung khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền
Nhận định này là Đúng
CSPL: Khoản 1 Điều 117 Luật TTHC 2015
Khi khởi kiện vụ án hành chính thì cơ quan, tổ chức, cá nhân phải làm đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 118 của Luật TTHC chứ không thể khởi kiện bằng hình thức trực tiếp trình bày nội dung khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tòa án được yêu cầu giải quyết vụ án hành chính;
Trang 4c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
d) Nội dung quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, nội dung giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri hoặc tóm tắt diễn biến của hành vi hành chính;
đ) Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có);
e) Yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết;
g) Cam đoan về việc không đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
10 Người ký tên vào đơn khởi kiện có thể không phải là người khởi kiện trong VAHC
Nhận định Đúng
CSPL: khoản 3 Điều 117 Luật TTHC 2015
Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Như vậy, ta có thể thấy người ký tên vào đơn khởi kiện có thể không phải là người khởi kiện trong VAHC
11 Cá nhân, tổ chức có thể ủy quyền khởi kiện VAHC
Nhận định đúng
CSPL: Đ54, 60 Luật TTHC 2015
Đối với cá nhân: người chưa thành niên, người mất NLHVDS, do họ không thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng và họ cũng không có khả năng ủy quyền cho người khác nên việc khởi kiện VAHC được thực hiện thông qua người đại diện theo PL, quy định tại K4 Đ54 Những người được coi là đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên, người mất NLHVDS theo quy định tại điểm a, b K2 Đ60 gồm: cha, mẹ đối với con chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ
Đối với cơ quan, tổ chức: việc thực hiện quyền, nghĩa vụ TTHC phải thông qua người đại diện theo PL, quy định tại K5 Đ54 Những người được coi là đại diện theo PL của cơ quan, tổ chức là người đứng đầu cơ quan, tổ chức hay người được người đứng đầu cơ quan, tổ chức ủy quyền nhân danh mình tham gia tố tụng
12 Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm, nếu người khởi kiện không nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ này, Tòa án sẽ trả lại đơn kiện
Nhận định sai
Trang 5 CSPL: K1 Đ123 Luật TTHC 2015
Theo K1 Đ123 Luật TTHC 2015 về trả lại đơn khởi kiện không có quy định
về trường hợp trả lại đơn khởi kiện nếu người khởi kiện không đính kèm theo tài liệu, chứng chứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện
bị xâm phạm
Đối với trường hợp người khởi kiện không nộp hoặc nộp không đầy đủ kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì được xử lý theo quy định tại K2 Đ118 Luật TTHC 2015 Thẩm phán không được căn cứ điểm g K1 Đ123 để trả lại đơn khởi kiện Bởi Đ123 quy định về trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện, nếu:
“g) Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của
Luật này mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 122 của Luật này;”
Trường hợp người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm kèm theo đơn khởi kiện, Tòa vẫn phải xem xét, thụ lý vụ án theo quy định
13 Khi khởi kiện bằng phương thức trực tuyến qua cổng thông tin điện tử của Tòa án, người khởi kiện chỉ cần có địa chỉ thư điện tử được chứng thực bằng chứng thư điện tử đang còn hiệu lực do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, công nhận
Nhận định sai
Cspl: điều 5 NQ 04/2016/NQ-HĐTP
Không chỉ cần có địa chỉ thư điện tử được chứng thực bằng chứng thư điện tử còn hiệu lực do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, công nhận Người khởi kiện còn cần phải đáp ứng những điều kiện như đã được quy định tại điểm a,
c và d khoản 1 điều 5 NQ 04/2016/NQ-HĐTP Bên cạnh đó, người khởi kiện phải đáp ứng việc đăng kí giao dịch thành công theo hướng dẫn tại điều 15
NQ này Như vậy, thì người khởi kiện, người tham gia tố tụng lựa chọn chỉ nhận thông báo dữ liệu điện tử do TA tống đạt, thông báo phải đáp ứng những điều trên thì mới được coi là hợp lệ
14 Ngày, tháng, năm trong đơn khởi kiện không là căn cứ để xác định ngày khởi kiện VAHC
Nhận định đúng
Cspl: điều 120 LTTHC 2015
Theo đó, với trường hợp người khởi kiện nộp trực tiếp đơn tại TA có thẩm quyền thì ngày khởi kiện sẽ là ngày nộp đơn Ngoài ra, với trường hợp người khởi kiện gửi đơn qua dịch vụ bưu chính thì ngày khởi kiện là ngày có dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi Xem thêm các trường hợp tại điều 120 Như vậy, ngày, tháng, năm trong đơn khởi kiện không được coi là căn cứ để
Trang 6xác định ngày khởi kiện mà tùy vào từng trường hợp người khởi kiện nộp đơn khởi kiện như thế nào và từ đó có thể xác định chính xác ngày khởi kiện
15 Trường hợp người khởi kiện gửi đơn đến Tòa án qua dịch vụ bưu chính, ngày có dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi đến cũng có thể được xác định
là ngày khởi kiện
Nhận định Sai
Cơ sở pháp lý: khoản 3 điều 120 LTTHC 2015
Theo đó, ngoài trường hợp xác nhận ngày khởi kiện của người khởi kiện gửi đơn đến tòa án qua dịch vụ bưu chính là ngày có dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi thì còn có các trường hợp xác định ngày khởi kiện khác:
Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính Đương sự phải chứng minh ngày mình gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính
Trường hợp đương sự không chứng minh được ngày mình gửi đơn tại
tổ chức dịch vụ bưu chính thì ngày khởi kiện được xác định là ngày Tòa
án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến
16 Khi xem xét đơn khởi kiện, nếu phát hiện thời hiệu khởi kiện đã hết, Thẩm phán được phân công xem xét đơn phải trả lại đơn kiện cho người khởi kiện
Nhận định sai
Cơ sở pháp lý: khoản 5 điều 38, khoản 1 điều 123, điểm g khoản 1 điều 143 LTTHC 2015
Theo đó trong các trường hợp quy định tại khoản 1 điều 123 về trả lại đơn khởi kiện thì không có trường hợp là do thời hiệu khởi kiện đã hết Vì vậy Thẩm phán phải tiếp tục xem xét đơn khởi kiện, nếu đủ điều kiện thụ lý vụ án thì phân công Thẩm phán tiến hành thụ lý vụ án Sau khi thụ lý thì sẽ tiến hành các bước tố tụng tiếp theo: Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập đương sự, thu thập các tài liệu chứng cứ, thẩm định tại chỗ, công khai chứng cứ và đối thoại Trên cơ sở đó thì Thẩm phán xét thấy vụ án đã hết thời hiệu khởi kiện, sẽ căn
cứ vào khoản 5 Điều 38, điểm g khoản 1 Điều 143, tự mình ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định này được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và các đương sự
17 Trong quá trình xem xét đơn khởi kiện, nếu thấy vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mình, Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện phải trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện
Nhận định SAI
CSPL: điểm c khoản 3 điều 121
Trong thời hạn xem xét đơn khởi kiện nếu thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác thì Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện
Trang 7phải chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện
18 Chánh án TANDTC không có quyền giải quyết khiếu nại văn bản trả lại đơn khởi kiện
Nhận định ĐÚNG
CSPL: khoản 5 Điều 124 LTTHC 2015, Điều 27 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014
Mặc dù theo K5 Đ124 LTTHC 2015 thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết Nhưng Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp ở đây không phải là Chánh án TANDTC vì trong Đ27 LTCTAND 2014 thì nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh
án TANDTC không bao gồm nhiệm vụ giải quyết khiếu nại văn bản trả lại đơn khởi kiện
19 Trong trường hợp người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí, TA thụ ý thụ án vào thời điểm người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí
- sai, k2 Điều 125, thẩm phán sẽ thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí chứ không phải thời điểm người khởi kiện nộp tiền tạm ứng
án phí
20 Trong trường hợp người khởi kiện từ đủ 60 tuổi trở lên, TA phải thụ lý VAHC ngay sau khi nhận đơn khởi kiên
- sai, k2 Điều 125, điểm d K1, Điều 12 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 Theo K2 Điều 125 Thẩm phán thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí Trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày TP thông báo cho người khởi kiện biết việc thụ lý Theo nghị quyết 326/2016, tại Điều 12 quy định một số trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí thì trường hợp nêu trên nằm trong những trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí quy định trong nghị quyết
BÀI TẬP:
BT1: Ngày 12/11/2017, ông TTL gửi đơn đề nghị UBND thành phố HA, tỉnh
QN cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.051 m2, thuộc một phần diện tích thửa đất số 103, tờ bản đồ số 2, tại khối An Phong, phường Tân An, thành phố HA, tỉnh QN Ngày 08/4/2018, UBND thành phố HA ban hành Công văn số 970/UBND trả lời đơn ông L với nội dung không có cơ sở giải quyết việc xin cấp Giấy chứng nhận của ông Không đồng ý, ngày 25/5/2018, ông L khiếu nại đối với Công văn trên Ngày 23/6/2018, UBND thành phố HA
Trang 8thông báo thụ lý giải quyết đơn khiếu nại lần đầu của ông L Đến ngày 10/8/2019, Chủ tịch UBND thành phố HA ban hành Quyết định số 1707/QĐ-CTUBND giải quyết khiếu nại cho ông L với nội dung không công nhận quyền
sử dụng đất và nhà trên diện tích đã mà ông đã đề nghị công nhận Cùng ngày, ông L nhận được quyết định trên
a Xác định đối tượng khởi kiện trong vụ án trên
→ Đối tượng khởi kiện trong vụ án trên là quyết định số 1707 QD hành chính của Chủ tịch UBND thành phố HA, công văn 970/UBND
→ Cspl: k1, 2 điều 3; điều 30 Luật TTHC
b Xác định thời hiệu khởi kiện
Cspl: k2 điều 116
Chỉ xác định khởi kiện công văn 1707 quyết định cá biệt xâm phạm đến lợi ích ông
L
1 năm
→ Thời hiệu khởi kiện của ông T.T.L đối với công văn số 970/UBND của UBND thành phố HA là ngày 10/8/2020
c Ngày 05/8/2020, tỉnh QN có một trận bão lớn làm cho Tòa án phải tạm dừng hoạt động trong 15 ngày để khắc phục hậu quả Ngày 20/08/2020 ông L khởi kiện VAHC đối với Quyết định số 1707/QĐ-CTUBND thì vụ việc có được thụ
lý hay không? Vì sao?
→ Vụ việc ông L khởi kiện VAHC đối với Quyết định số 1707/QĐ-CTUBND được thụ lý
→ Cspl: Điểm a,b Khoản 2, khoản 4 điều 116 Luật TTHC 2015
→ Vì tỉnh QN bị cản trở khách quan làm cho người khởi kiện không khởi kiện được, đến ngày 20/8/2020 ông L khởi kiện VAHC đối với Quyết định số 1707/QĐ-CTUBND thì thời gian trở ngại khách quan khác không được tính vào thời hiệu khởi kiện
d Vì nhận thấy ông L tuổi già, sức yếu nên Ông T.T.M là cháu ruột của ông L
đã làm đơn, ký tên trong đơn khởi kiện VAHC đối với Quyết định số 1707/QĐ-CTUBND và gửi đến TAND có thẩm quyền Việc khởi kiện như trên có phù hợp theo quy định của Luật TTHC năm 2015 hay không? Vì sao?
→ Việc cháu ruột ông L đã làm đơn, ký tên trong đơn khởi kiện VAHC thay ông L
và gửi đơn đến TAND có thẩm quyền là không phù hợp với quy định của Luật TTHC
2015
→ Cspl: Khoản 8 Điều 3, Khoản 4 Điều 54, Điều 117 Luật TTHC 2015
Trang 9biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử
→ Theo quy định trên thì người khởi kiện phải là người bị tác động trực tiếp bởi khiếu kiện đó Cho nên ông L phải tự mình làm đơn khởi kiện QĐHC của Chủ tịch UBND thành phố HA
BT2: Ngày 14/01/2016 UBND thành phố B (tỉnh B) ban hành Quyết định số 164/QĐ-UBND thu hồi 295,6 m² đất của ông D Ngày 15/02/2016 UBND thành phố B ban hành Quyết định số 265/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ gia đình ông D Ngày 25/9/2016, Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Quyết định số 2252/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất Ông D
có đơn khiếu nại đối với Quyết định số 2252/QĐ-UBND Ngày 24/4/2017 ông D nhận được Quyết định số 1713/QĐ-UBND ngày 19/4/2017 của Chủ tịch UBND thành phố B có nội dung không chấp nhận khiếu nại của ông Không đồng ý, ngày 22/4/2018 ông D khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền yêu cầu hủy Quyết định số 1713/QĐ-UBND và Quyết định số 2252/QĐ-UBND
Xác định đối tượng khởi kiện mà ông D được quyền khởi kiện: 4 cái
-> QĐ 164 (vì đáp ứng khoản 1,2 Đ3 và Đ30); QĐ 265; QĐ 2252 (ông D chỉ đi khiếu nại QĐ này, ngta ban hành QĐ 1713) đều là quyết định hành chính cá biệt (điều 30)
- QĐ1713
Nếu ông kiện 2252 thì có kiện được 1713 nữa không?
Kiện được giải quyết khiếu nại lần 1 và lần 2 luôn khoản 3 điều 116 tại vì nó là giải
quyết khởi kiện lần đầu tính từ ngày 24/4/2017 ông D nhận được Quyết định số
1713/QĐ-UBND tới 24/4/2018 là hết rồi Viết hết khoản 3 điều 120
Mang đơn đến không xem xét luôn cho mình
a) Ngày 25/4/2018 đơn khởi kiện được xem xét Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện sẽ xử lý như thế nào nếu ông D nộp đơn khởi kiện (qua dịch vụ bưu chính) đến TAND thành phố B
Xác định ngày khởi kiện ở khoản 3 điều 120
Ngày khởi kiện nếu như là 22/4 ở bưu chính nhận được ( xác định dấu dịch vụ bưu chính)
Chia 3 TH:
Xác định đc dấu dịch vụ bưu chính
Không xác định được dấu dịch vụ bưu chính
Nếu ông D nộp đơn khởi kiện qua dịch vụ bưu chính đến TAND thành phố B thì Áp dụng bề phương thức khởi kiện, đ119 và thời hiệu khởi kiện ở điều 120
Trang 10Phân thành 2 quyết định
Ngày 24/04/2017 nhận QĐ 1713
Ngày 25/9/2016 QĐ 2252
b) Tòa án có thẩm quyền giải quyết đã ra Thông báo số 132/TB - TA trả lại đơn khởi kiện do cho rằng thời hiệu khởi kiện của ông D đã hết Anh (chị) có nhận xét gì về thông báo trên của Tòa án Nếu không đồng tình, ông D có thể thực hiện thủ tục gì để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình
Em không đồng ý với thông báo trên của Tòa án Vì ông D nhận được Quyết định số 1713/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND về việc không chấp nhận đơn vào ngày 24/4/2017 Ngày 22/4/2018 ông D khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện là 1 năm (theo điểm a K3 Đ116 Luật TTHC) Vì vậy, Tòa án ra thông báo số 132/TB-TA trả lại đơn khởi kiện vì cho rằng thời hiệu khởi kiện của ông D đã hết là sai
Ông D có thể không đồng ý với việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án và có thể khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện theo K1 Đ124 Luật TTHC
2015: “Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi
kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện.”
c) Ngày 12/5/2018 Tòa án có thẩm quyền ra Thông báo số 104/TB-TA về việc nộp tiền tạm ứng án phí nhưng đến ngày 24/5/2018, ông D vẫn không nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án nên Tòa án đã ra thông báo trả lại đơn khởi kiện Giả sử ngày 30/5/2018, ông D đã xuất trình chứng cứ chứng minh đã nộp tiền tạm ứng án phí vào ngày 15/5/2018 nhưng do bị tai nạn nên không thể đến Tòa án nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí Hãy nêu cách thức xử lý của Tòa án trong trường hợp trên, nếu ông D chưa đóng tiền tạm ứng án phí, Tòa
án sẽ xử lý như thế nào?
Giả sử ngày 30/5/2018, ông D đã xuất trình chứng cứ chứng minh đã nộp tiền tạm ứng án phí vào ngày 15/5/2018 nhưng do bị tai nạn nên không thể đến Tòa án nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí:
→ cspl: điểm h khoản 1 điều 123
→ Trong trường hợp trên, ông D đã nộp tiền tạm ứng án phí sau 3 ngày kể từ ngày TA có thẩm quyền nhưng chưa trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí bởi khi này ông D bị tai nạn Khi này, ông D có lý do chính đáng nên trong trường hợp này TA có thẩm quyền sẽ tiếp tục thụ lý đơn khởi kiện của ông D
Ông D chưa đóng tiền tạm ứng án phí, Tòa án sẽ xử lý:
→ cspl: khoản 1, 3 điều 125 và khoản 1 điều 123
→ Tuy nhiên với trường hợp ông D chưa đóng tiền tạm ứng án phí, sau thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, việc ông D không nộp tiền tạm ứng án phí thì TP sẽ trả lại đơn khởi kiện cho ông D do ông đã không chấp