BÀI TẬP LỚN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC ĐỀ TÀI: DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI, NÂNG CAO ĐỜI SỐNG ĐỒNG BÀO HOA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY, Theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề dân tộc luôn là một nội dung quan trọng có ý nghĩa chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vấn đề dân tộc được khái quát qua các nội dung: khái niệm dân tộc, hai xu hướng của vấn đề dân tộc và cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin. Khái niệm dân tộc thường được dùng với hai nghĩa: theo nghĩa thứ nhất, dân tộc là bộ phận của quốc gia, là cộng đồng xã hội theo nghĩa là các tộc người, còn theo nghĩa thứ hai thì dân tộc là toàn bộ nhân dân một nước, là quốc gia dân tộc. Dân tộc có hai xu hướng phát triển là: xu hướng tách ra và xu hướng liên hiệp lại. Sau khi phân tích hai xu hướng của vấn đề dân tộc, V.I.Lênin đã nêu ra "Cương lĩnh dân tộc" với ba nội dung cơ bản: “các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết; liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc. Đây được coi là cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin”. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin là một bộ phận không thể tách rời đã trở thành cơ sở lý luận cho chủ trương, đường lối và chính sách dân tộc của các đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đối chiếu quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin so với vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay. Nước ta có 54 dân tộc anh em. Dân tộc Kinh chiếm 86% dân số, 53 dân tộc còn lại chiếm 14% dân số (trong đó có đồng bào người Hoa), phân bố rải rác trên phạm vi cả nước. Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ngày càng tăng, tuy trong từng khu vực nhất định có những dân tộc sống tương đối tập trung, nhưng không thành địa bàn riêng biệt. Do đó, các dân tộc nước ta không có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng và sự thống nhất hữu cơ giữa các dân tộc và quốc gia trên mọi mặt của đời sống xã hội ngày càng được củng cố. Các dân tộc ở nước ta còn có sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Về phương diện xã hội, trình độ tổ chức đời sống, quan hệ xã hội của Tiểu Luận PRO(123docz.net,0343252360) các dân tộc thiểu số khác nhau. Về phương diện kinh tế, có thể phân loại các dân tộc thiểu số Việt Nam ở những trình độ phát triển rất khác nhau. Một số ít các dân tộc còn duy trì kinh tế chiếm đoạt, dựa vào khai thác tự nhiên; tuy nhiên, đại bộ phận các dân tộc ở Việt Nam đã chuyển sang phương thức tiến bộ, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Về văn hoá trình độ dân trí, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhiều dân tộc thiểu số còn thấp. Điển hình đối với dân tộc Hoa, tuy đã mang lại nhiều thành tựu nhất định cho nền kinh tế nước ta về bản sắc văn hóa và ẩm thực. Bên cạnh đó vẫn còn gặp phải một số khó khăn nhất định về kinh tế như: trình độ chuyên môn còn kém hoặc có một số bộ phận có chuyên môn cao nhưng không được đào tạo chính quy, hình thức kinh doanh chủ yếu tập trung vào hộ gia đình chưa phát triển theo loại hình doanh nghiệp lớn, chủ yếu với quy mô vừa và nhỏ, tính bảo thủ vẫn còn tồn tại trong đời sống xã hội. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, nhóm chọn đề tài: “Dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào Hoa ở nước ta hiện nay” để nghiên cứu. 2. Đối tượng nghiên cứu Thứ nhất, dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thứ hai, thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào Hoa ở nước ta hiện nay. 3. Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào Hoa ở nước ta hiện nay. 4. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Thứ nhất, làm rõ lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng bào Hoa. Thứ hai, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào Hoa ở nước ta thời gian qua.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH
Giảng viên hướng dẫn: THS ĐOÀN VĂN RE
Thành phố Hồ Chí Minh – 2021
Trang 3MỤC LỤC
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI, NÂNG
2.1.3 Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam phân bố chủ yếu ở địa bàn có vị trí chiến
Trang 4đồng dân tộc - quốc gia thống nhất 192.1.6 Mỗi dân tộc có bản sắc văn hoá riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, đa
2.3 Thực trạng phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống đồng bào Hoa ở nước ta
2.4 Giải pháp phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống đồng bào Hoa ở nước ta
Trang 5I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề dân tộc luôn là một nội dung quan trọng có ý nghĩa chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa Vấn đề dân tộc được khái quát qua các nội dung: khái niệm dân tộc, hai xu hướng của vấn đề dân tộc và cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin
Khái niệm dân tộc thường được dùng với hai nghĩa: theo nghĩa thứ nhất, dân tộc
là bộ phận của quốc gia, là cộng đồng xã hội theo nghĩa là các tộc người, còn theo nghĩa thứ hai thì dân tộc là toàn bộ nhân dân một nước, là quốc gia dân tộc
Dân tộc có hai xu hướng phát triển là: xu hướng tách ra và xu hướng liên hiệp lại Sau khi phân tích hai xu hướng của vấn đề dân tộc, V.I.Lênin đã nêu ra "Cương
lĩnh dân tộc" với ba nội dung cơ bản: “các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc
được quyền tự quyết; liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc Đây được coi là cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin” Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin là
một bộ phận không thể tách rời đã trở thành cơ sở lý luận cho chủ trương, đường lối và chính sách dân tộc của các đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa
Đối chiếu quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin so với vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay
Nước ta có 54 dân tộc anh em Dân tộc Kinh chiếm 86% dân số, 53 dân tộc còn lại chiếm 14% dân số (trong đó có đồng bào người Hoa), phân bố rải rác trên phạm vi cả nước
Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ngày càng tăng, tuy trong từng khu vực
nhất định có những dân tộc sống tương đối tập trung, nhưng không thành địa bàn riêng biệt Do đó, các dân tộc nước ta không có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng và
sự thống nhất hữu cơ giữa các dân tộc và quốc gia trên mọi mặt của đời sống xã hội ngày càng được củng cố
Các dân tộc ở nước ta còn có sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Về phương diện xã hội, trình độ tổ chức đời sống, quan hệ xã hội của
Trang 6các dân tộc thiểu số khác nhau Về phương diện kinh tế, có thể phân loại các dân tộc thiểu số Việt Nam ở những trình độ phát triển rất khác nhau Một số ít các dân tộc còn duy trì kinh tế chiếm đoạt, dựa vào khai thác tự nhiên; tuy nhiên, đại bộ phận các dân tộc ở Việt Nam đã chuyển sang phương thức tiến bộ, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Về văn hoá trình độ dân trí, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhiều dân tộc thiểu số còn thấp
Điển hình đối với dân tộc Hoa, tuy đã mang lại nhiều thành tựu nhất định cho nền kinh tế nước ta về bản sắc văn hóa và ẩm thực Bên cạnh đó vẫn còn gặp phải một
số khó khăn nhất định về kinh tế như: trình độ chuyên môn còn kém hoặc có một số bộ phận có chuyên môn cao nhưng không được đào tạo chính quy, hình thức kinh doanh chủ yếu tập trung vào hộ gia đình chưa phát triển theo loại hình doanh nghiệp lớn, chủ yếu với quy mô vừa và nhỏ, tính bảo thủ vẫn còn tồn tại trong đời sống xã hội
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, nhóm chọn đề tài: “Dân tộc trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào Hoa ở nước ta hiện nay” để nghiên cứu
2 Đối tượng nghiên cứu
Thứ nhất, dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thứ hai, thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng
bào Hoa ở nước ta hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào Hoa ở nước ta hiện nay
4 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Thứ nhất, làm rõ lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng bào Hoa
Thứ hai, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng
bào Hoa ở nước ta thời gian qua
Trang 7Thứ ba, đề xuất giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào
Hoa ở nước ta thời gian tới
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu nhất là các phương pháp: phương pháp thu thập số liệu; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp lịch sử - logic;…
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương: Chương 1: Dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Chương 2: Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào Hoa ở nước ta hiện nay
Trang 8II PHẦN NỘI DUNG Chương 1 DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1.1 Khái niệm, đặc trưng cơ bản của dân tộc
1.1.1 Khái niệm dân tộc
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao gồm: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Sự biến đổi của phương thức sản xuất chính là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc
Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập thay thế phương thức sản xuất phong kiến Ở phương Đông, dân tộc được hình thành dựa trên cơ sở một nền văn hóa, một tâm lý dân tộc đã phát triển tương đối chín muồi và một cộng đồng kinh tế tuy đã đạt tới một mức độ nhất định, song nhìn chung còn kém phát triển và ở trạng thái phân tán
Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp:
Theo nghĩa rộng, “dân tộc là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước có lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch
sử lâu dài dựng nước và giữ nước” 1 Với nghĩa này, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một quốc gia nghĩa là toàn bộ nhân dân của một nước Ví dụ dân tộc Ấn Độ, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Việt Nam, …
Theo nghĩa hẹp, “dân tộc là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng tộc người được hình thành trong lịch sử có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý thức tự giác dân tộc, ngôn ngữ và văn hóa Cộng đồng này xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc, kế thừa và
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học Hà Nội: NXB Chính trị quốc
gia Sự thật, tr.196.
Trang 9phát triển cao hơn những nhân tố tộc người của các cộng đồng đó” 1 Với nghĩa này, dân tộc là một bộ phận hay thành phần của quốc gia Chẳng hạn Việt Nam là quốc gia
có 54 dân tộc, tức 54 cộng đồng tộc người Sự khác nhau giữa các cộng đồng tộc người
ấy biểu hiện chủ yếu ở đặc trưng văn hóa, lối sống, tâm lý, ý thức tộc người
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của dân tộc
Theo nghĩa rộng dân tộc có một số đặc trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất, có chung một vùng lãnh thổ nhất định
Lãnh thổ là dấu hiệu xác định không gian sinh tồn, vị trí địa lý của một dân tộc, biểu thị vùng đất, vùng trời, vùng biển mà mỗi dân tộc được quyền sở hữu Lãnh thổ là yếu tố thể hiện chủ quyền của một dân tộc trong tương quan với các quốc gia - dân tộc khác Trên không gian đó, các cộng đồng tộc người có mối quan hệ gắn bó với nhau, cư trú đan xen với nhau Vận mệnh của cộng đồng tộc người gắn bó với việc xác lập và bảo
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, quá trình di cư khiến cư dân của một quốc gia lại có thể cư trú ở nhiều quốc gia, châu lục khác Vậy nên khái niệm dân tộc, lãnh thổ, hay đường biên giới không chỉ bó hẹp trong biên giới hữu hình, mà đã được mở rộng thành đường biên giới “mềm”, ở đó dấu ấn văn hóa chính là yếu tố để phân định ranh giới giữa các quốc gia - dân tộc
Thứ hai, có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế
Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc, là cơ sở để gắn kết các bộ phận, các thành viên trong dân tộc, tạo nên tính thống nhất, ổn định bền vững của dân tộc Mối quan hệ kinh tế là nền tảng cho sự vững chắc của cộng đồng dân tộc Nếu thiếu tính cộng đồng chặt chẽ, bền vững về kinh tế thì cộng đồng người chưa thể trở thành dân tộc
Thứ ba, có chung một ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp
Trang 10Mỗi một dân tộc có ngôn ngữ riêng, bao gồm cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, làm công cụ giao tiếp giữa các thành viên trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và tình cảm,… Trong một quốc gia có nhiều cộng đồng tộc người, với các ngôn ngữ khác nhau, nhưng bao giờ cũng sẽ có một ngôn ngữ chung, thống nhất Tính thống nhất trong ngôn ngữ dân tộc được thể hiện trước hết ở sự thống nhất về cấu trúc ngữ pháp và kho
từ vựng cơ bản Ngôn ngữ dân tộc là một ngôn ngữ đã phát triển và sự thống nhất về ngôn ngữ là một trong những đặc trưng chủ yếu của dân tộc
Thứ tư, có chung một nền văn hóa và tâm lý
Văn hóa dân tộc được biểu hiện thông qua tâm lý, tính cách, phong tục, tập quán, lối sống dân tộc, tạo nên bản sắc riêng của từng dân tộc Văn hóa dân tộc gắn bó chặt chẽ với văn hóa của các cộng đồng tộc người trong một quốc gia Văn hóa là một yếu tố đặc biệt quan trọng của sự liên kết cộng đồng Mỗi dân tộc có một nền văn hóa độc đáo của dân tộc mình Trong sinh hoạt cộng đồng các thành viên của dân tộc thuộc những thành phần xã hội khác nhau tham gia vào sự sáng tạo giá trị văn hóa chung của dân tộc, đồng thời hấp thụ các giá trị văn hóa chung đó
Cá nhân hoặc nhóm người nào từ chối những giá trị văn hóa dân tộc thì họ đã tự mình tách khỏi cộng đồng dân tộc Văn hóa của một dân tộc không thể phát triển nếu không giao lưu với văn hóa của các dân tộc khác Tuy nhiên, trong giao lưu văn hóa, các dân tộc luôn có ý thức bảo tồn và phát triển bản sắc của mình, tránh nguy cơ đồng hóa về văn hóa
Thứ năm, có chung một nhà nước (nhà nước dân tộc)
Các thành viên cũng như các cộng đồng tộc người trong một dân tộc đều chịu sự quản lý, điều khiển của một nhà nước độc lập Đây là yếu tố phân biệt dân tộc - quốc gia và dân tộc - tộc người Dân tộc - tộc người trong một quốc gia không có nhà nước với thể chế chính trị riêng Hình thức tổ chức, tính chất của nhà nước do chế độ chính trị của dân tộc quyết định Nhà nước là đặc trưng cho thể chế chính trị của dân tộc, là đại diện cho dân tộc trong quan hệ với các quốc gia dân tộc khác trên thế giới
Các đặc trưng cơ bản nói trên gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định Các đặc trưng ấy có quan hệ nhân quả, tác
Trang 11động qua lại, kết hợp với nhau một cách chặt chẽ và độc đáo trong lịch sử hình thành
và phát triển của dân tộc, tạo nên tính ổn định, bền vững của cộng đồng dân tộc
Theo nghĩa hẹp, dân tộc - tộc người có một số đặc trưng cơ bản sau:
Cộng đồng về ngôn ngữ (bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết hoặc chỉ riêng
ngôn ngữ nói) Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc người khác nhau và là vấn đề luôn được các dân tộc coi trọng giữ gìn Tuy nhiên, trong quá trình phát triển tộc người,
vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có những tộc người không còn ngôn ngữ mẹ đẻ mà sử dụng ngôn ngữ khác làm công cụ giao tiếp
Cộng đồng về văn hóa Văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể ở
mỗi tộc người, phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo của tộc người đó Lịch sử phát triển của các tộc người gắn liền với truyền thống văn hóa của họ Ngày nay cùng với xu thế giao lưu văn hóa vẫn song song tồn tại xu thế bảo tồn
và phát huy bản sắc dân tộc của mỗi tộc người
Ý thức tự giác tộc người Đây là tiêu chí quan trọng nhất để phân định một tộc
người và có vị trí quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người Đặc trưng nổi bật là các tộc người luôn tự ý thức về nguồn gốc, tội danh của dân tộc mình đó còn
là ý thức tự khẳng định sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người dù cho có những tác động làm thay đổi địa bàn cư trú, lãnh thổ, hay tác động ảnh hưởng của giao lưu kinh tế, văn hóa, Sự hình thành và phát triển của ý thức tự giác tộc người liên quan trực tiếp đến các yếu tố của ý thức, tình cảm, tâm lý tộc người
1.2 Chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc
1.2.1 Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc
Khi nghiên cứu về dân tộc và phong trào dân tộc trong chủ nghĩa tư bản, Lênin đã phân tích và chỉ ra hai xu hướng phát triển có tính khách quan của dân tộc
Xu hướng thứ nhất, xu hướng phân lập Ở những quốc gia, khu vực tư bản chủ
nghĩa gồm nhiều cộng đồng dân cư có nguồn gốc tộc người khác nhau làm ăn, sinh sống Đến một thời kì nào đó, sự trưởng thành của ý thức dân tộc, sự thức tỉnh đầy đủ về quyền sống của mình mà các cộng đồng dân cư đó muốn tách khỏi nhau để thành lập các dân tộc độc lập Bởi họ hiểu rằng, chỉ trong cộng đồng độc lập họ mới có quyền tự quyết
Trang 12định vận mệnh của mình, mà cao nhất là sự tự do lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình
Xu hướng thứ hai, xu hướng liên kết Các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí
các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hóa trong xã hội tư bản đã làm xuất hiện nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, tạo nên mối liên hệ giữa các quốc gia và quốc tế rộng lớn giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau
Biểu hiện của hai xu hướng phát triển khách quan của dân tộc trong thời đại ngày nay xét trong phạm vi các quốc gia xã hội chủ nghĩa có nhiều dân tộc
Ở các nước này, xu hướng thứ nhất biểu hiện trong sự nỗ lực của từng dân tộc để
đi tới sự tự chủ và phồn vinh của dân tộc mình Xu hướng thứ hai tạo nên sự thúc đẩy mạnh mẽ để các dân tộc trong cộng đồng quốc gia xích lại gần nhau hơn nữa, hòa hợp với nhau ở mức độ cao hơn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống
Trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, hai xu hướng phát huy tác động cùng chiều,
bổ sung, hỗ trợ nhau và diễn ra trong từng dân tộc, trong cả cộng đồng quốc gia và đụng chạm đến tất cả các quan hệ dân tộc Sự tự chủ, phồn vinh của từng dân tộc sẽ tạo điều kiện cho dân tộc đó có thêm những điều kiện vật chất và tinh thần để hợp tác chặt chẽ hơn với các dân tộc anh em Sự xích lại gần nhau hơn của các dân tộc trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng sẽ tạo điều kiện cho từng dân tộc đi nhanh tới sự phát triển, phồn vinh
Xét trên phạm vi thế giới, sự tác động của hai xu hướng khách quan thể hiện rất nổi bật
Thời đại ngày nay là thời đại các dân tộc bị áp bức đã vùng dậy, xoá bỏ ách đô hộ của chủ nghĩa đế quốc và giành lấy sự tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình, bao gồm quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc, quyền bình đẳng với các dân tộc khác Đây là một trong những mục tiêu chính trị chủ yếu của thời đại – mục tiêu độc lập dân tộc Xu hướng này biểu hiện trong phong trào giải phóng dân tộc thành sức mạnh chống chủ nghĩa đế quốc và chính sách thực dân dưới mọi hình thức;
Trang 13biểu hiện trong cuộc đấu tranh của các dân tộc nhỏ bé hiện còn đang là nạn nhân của sự
kỳ thị dân tộc phân biệt chủng tộc, vẫn đang bị coi là đối tượng chính sách đồng hóa cưỡng bức ở nhiều nước tư bản
Ngược lại, trong thời đại ngày nay, còn có xu hướng các dân tộc muốn xích lại gần nhau để trở lại hợp nhất thành một quốc gia thống nhất theo nguyên trạng đã được hình thành trong lịch sử Xu hướng đó tạo nên sức hút các dân tộc vào các liên minh được hình thành trên những cơ sở lợi ích nhất định Có những lợi ích mang tính khu vực, dựa trên yếu tố gần nhau về địa lý, giống nhau về môi trường thiên nhiên, tương đồng nhau
về một số giá trị văn hóa, trùng hợp nhau về lịch sử và hiện tại trong cuộc đấu tranh chống một kẻ thù chung nào đó Lợi ích toàn cầu có tác dụng sâu xa gắn bó loài người trong một quá trình vận động thống nhất: các dân tộc, quốc gia trên thế giới còn đang ở những trình độ phát triển khác nhau, cần sự giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ
1.2.2 Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin
Dựa trên thực tiễn tình hình các dân tộc trên thế giới, mối quan hệ dân tộc trên thế giới và dựa trên thực tiễn tình hình dân tộc ở nước Nga lúc bấy giờ, Lênin đã nêu ra Cương lĩnh dân tộc bao gồm các nguyên tắc để giải quyết vấn đề dân tộc theo cả góc độ mối quan hệ giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc cũng như theo cả góc độ mối quan hệ dân tộc quốc tế
Thứ nhất, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc trong mối quan hệ giữa các dân tộc Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng có nghĩa là: các dân tộc dù lớn hay nhỏ (kể cả các bộ tộc
và chủng tộc) không phân biệt trình độ cao thấp đều có nghĩa vụ và quyền lợi như nhau, không dân tộc nào có đặc quyền đặc lợi và đi áp bức các dân tộc khác
Trong quốc gia có nhiều dân tộc, pháp luật phải bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc, từng bước khắc phục sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc
Trên phạm vi giữa các quốc gia, dân tộc, đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các dân tộc gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, gắn với cuộc đấu
Trang 14tranh xây dựng một trật tự kinh tế mới, chống sự áp bức, bóc lột của các nước tư bản phát triển với các nước chậm phát triển
Thứ hai, các dân tộc có quyền tự quyết
Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh của dân tộc mình, quyền dân tộc tự quyết bao gồm quyền tự do phân lập thành cộng đồng quốc gia dân tộc độc lập và quyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng
Cuối cùng, liên hiệp giai cấp công nhân giữa tất cả các dân tộc lại
Đây là tư tưởng cơ bản và quan trọng trong cương lĩnh dân tộc của Lênin, nó phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân, phản ánh sự nghiệp giải phóng dân tộc với sự nghiệp giải phóng giai cấp, nó đảm bảo cho dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắng lợi
Đây là cơ sở vững chắc để đoàn kết nhân dân lao động trong các dân tộc để chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội Vì vậy, nội dụng liên hiệp giai cấp công nhân giữa tất cả các dân tộc đóng vai trò liên kết cả ba nội dung của cương lĩnh thành một chỉnh thể
Tóm tắt chương 1
Tóm lại, dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bao gồm các nội dung
như sau: khái niệm và đặc trưng cơ bản của dân tộc, chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc
Khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa: dân tộc - quốc gia và dân tộc - tộc người, với những đặc trưng cơ bản khác nhau tương ứng với từng khái niệm Hai cách hiểu trên tuy không đồng nhất nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau, không tách rời nhau Dân tộc quốc gia bao gồm dân tộc - tộc người, dân tộc - tộc người là bộ phận hình thành dân tộc - quốc gia Dân tộc - tộc người ra đời trong những quốc gia nhất định và thông thường những nhân tố hình thành dân tộc - tộc người không tách rời với những nhân tố hình thành quốc gia Và đây cũng là lý do mà khi nói đến Việt Nam thì không thể bỏ qua 54 cộng đồng tộc người, trái lại, khi nói đến 54 cộng đồng tộc người ở Việt Nam phải gắn liền với sự hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam
Trang 15Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc bao gồm: hai xu hướng khách quan của
sự phát triển dân tộc và cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin
Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc, gồm: xu hướng tách ra và xu hướng liên hiệp lại Hai xu hướng này có sự thống nhất biện chứng với nhau trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia và của toàn nhân loại Trong mọi trường hợp hai xu hướng đó luôn có tác động qua lại với nhau, hỗ trợ cho nhau, mọi sự vi phạm mối quan
hệ biện chứng này đều dẫn tới hậu quả tiêu cực, khó lường Trên thế giới hiện nay, xu hướng tách ra đang diễn biến khá phức tạp, tuy nhiên, xu hướng liên hiệp lại phát triển
đa dạng, phong phú
Cuối cùng dựa vào khái niệm cũng như kết hợp phân tích hai xu hướng khách quan trong sự phát triển của dân tộc Dựa vào kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới
và thực tiễn cách mạng mạng Nga, Lênin đã cho ra đời “Cương lĩnh dân tộc của chủ
nghĩa Mác-Lênin” với nội dung khái quát như sau: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công dân tất cả các dân tộc” Cương lĩnh
dân tộc chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời là cơ sở lý luận quan trọng để các Đảng Cộng Sản vận dụng thực hiện chính sách dân tộc trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc
và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trang 16Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI, NÂNG CAO ĐỜI SỐNG ĐỒNG BÀO HOA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Đặc điểm dân tộc Việt Nam
2.1.1 Có sự chênh lệch về số dân giữa các tộc người
Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng 54 dân tộc trong đó dân tộc kinh chiếm 86% dân số, 53 dân tộc còn lại chiếm 14% dân số, phân bố rải rác trên địa bàn cả nước 10 dân tộc có số dân trên 300 ngàn người là: Tày, Nùng, Thái, Mường, Hoa, Khơme, Mông, Dao, Giarai, Êđê; 20 dân tộc có số dân từ dưới 300 ngàn người đến trên 25 ngàn người, 16 dân tộc có số dân từ dưới 25 ngàn người đến trên 2 ngàn 500 người; 7 dân tộc có số dân dưới 2 ngàn 500 người (Bố Y, Cống, Sila, Pu Péo, Rơ Măm, Ơ đu, Brâu).1
Tuy có sự chênh lệch đáng kể về đời sống vật chất cũng như tinh thần, nhưng các dân tộc vẫn coi nhau như anh em đùm bọc lẫn nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc Ở nước ta không có tình trạng dân tộc đa số cưỡng bức, đồng hoá, thôn tính các dân tộc ít người, do đó cũng không có tình trạng dân tộc ít người chống lại dân tộc đa số
2.1.2 Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau
Ở một số vùng nhất định có dân tộc cư trú tương đối tập trung Song nhìn chung các dân tộc nước ta sống xen kẽ nhau, không có lãnh thổ riêng biệt như một số nước trên thế giới
Ðịa bàn cư trú của người Kinh chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du; còn các dân tộc ít người cư trú chủ yếu ở các vùng miền núi và vùng cao, một số dân tộc như Khơ me, Hoa, một số ít vùng Chăm sống ở đồng bằng
Các dân tộc thiểu số có sự tập trung ở một số vùng, nhưng không cư trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện,
1 Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương (2009) Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số
và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Hà Nội: NXB Thống kê, tr.134.