GIỚI THIỆU: Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu có tác dụng to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước ta chính vì thế việc đổi mới phương pháp dạy học t
Trang 1MỤC LỤC
IV/ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ trang 11
Trang 2I TÓM TẮT:
Hoá học là bộ môn khoa học thực nghiệm, có tầm quan trọng trong trường phổ thông Đây là môn học được nhiều học sinh yêu thích và cảm thấy hứng thú, say mê trong tiết học Tuy nhiên đó lại là môn học khô khan, nhàm chán thậm chí là sợ của một nhóm học sinh Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của học sinh Như vậy nguyên nhân của những bất cập trên là do đâu?
Giải các bài tập hóa học là một biện pháp rất quan trọng để củng cố và nắm vững các định luật, các khái niệm và tính chất hóa học của các chất Nhưng thực tế ở các trường, thời gian giải bài tập trên lớp của các em rất ít, bản thân học sinh chưa nắm vững cách giải và hệ thống hóa được các dạng bài tập, vì thế các em không thể tự học ở nhà nhất là các học sinh lớp 9 Dẫn đến việc ít làm bài tập, chỉ học những lí thuyết suôn, không đáp ứng được yêu cầu do môn hóa học đề ra, từ từ các em cảm thấy sợ học môn Hóa Là giáo viên dạy hóa 8-9, tôi luôn băng khoăn, trăn trở về vấn đề này?
II GIỚI THIỆU:
Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu có tác dụng to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước ta chính vì thế việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông theo tinh thần nghị quyết IX của đảng được chỉ rõ
“phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Để đạt được những điều đó cùng với sự thay đổi về nội dung, hình thức tổ chức dạy học, cần hình thành cho học sinh kỹ năng phân tích, tổng hợp, tạo cho học sinh năng lực tự học, tự rèn luyện bồi bổ kiến thức cho mình là việc vô cùng quan trọng
Giáo dục rất quan trọng vì vậy tất cả những người làm giáo dục mang một trọng trách rất lớn cho nên phải luôn luôn học hỏi tìm kiếm kiến thức, phương pháp giáo dục sao cho phù hợp làm cho người được giáo dục dễ hiểu, dễ tiếp thu
Đối với nhà trường THCS việc tự rèn cho mình khả năng phân tích tổng hợp là rất cần thiết đối với tất cả các bộ môn trong đó có bộ môn hoá học, bởi hoá học là bộ môn khoa học có rất nhiều ứng dụng đối với các ngành khoa học khác Góp phần đẩy mạnh sự thay đổi của đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đất nước đang đổi mới
Học hoá học không những học sinh học lý thuyết mà còn đòi hỏi học sinh vận dụng lý thuyết được học vào giải quyết các bài tập lý thuyết, thực tiễn và thực hành thí nghiệm Hiện nay việc giải các dạng bài tập hoá học của học sinh ở trường THCS ninh Hòa gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các dạng bài tập tính toán Đa số học sinh không tự giải quyết được các bài tập này, một số học sinh chỉ biết làm bài tập một cách máy móc
mà không hiểu được bản chất Để thay đổi hiện trạng trên kinh nghiệm này kết hợp nhiều
phương pháp dạy học trong tiết dạy, quan trọng hơn là“ Rèn luyện kỹ năng giải bài tập
Trang 3hoá học cho học sinh ở trường THCS” góp phần nhỏ nhằm khắc phục tình trạng trên
của học sinh trong nhà trường
1 THỰC TRẠNG:
Đa phần mức sống người dân ở các ấp thuộc xã Ninh Hòa còn nghèo cho nên chưa thật sự chú trọng đến việc học của con em, một số học sinh chưa chú tâm vào việc học
mà lo làm những công việc khác Cơ sở vật chất chưa đầy đủ ví dụ như sách tham khảo chưa nhiều, môn hoá học là một môn học ở trường trung học cơ sở học sinh chỉ được gặp
ở lớp 8 và 9 nên không có điều kiện tiếp xúc nhiều, dễ gây cho học sinh chán trong học tập đặt biệt là bài tập tính theo phương trình hoá học
Đặc trưng của bộ môn hoá học là môn khoa học tự nhiên mà từ trước tới nay học sinh thường coi là môn khó học, khó gọi tên, viết công thức hóa học, phương trình hóa học, công thức tính toán trong hóa học
Từ khi có sự đổi mới về phương pháp dạy học trang thiết bị , đồ dùng và hoá chất được trang bị khá đầy đủ thì việc áp dụng phương pháp dạy học mới của giáo viên còn hạn chế Một số giáo viên chưa dành nhiều thời gian cho học sinh giải bài tập hoặc giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm bài tập cho mỗi tiết học
Hiện nay môn hoá học là một bộ môn rất quan trọng có nhiều ứng dụng trong đời sống, trong sản xuất chính vì vậy giáo viên có phương pháp giảng dạy cho phù hợp nhất
từ đó rèn luyện cho học sinh kĩ năng giải bài tập hóa học, học sinh có những phương pháp học tập cho phù hợp để đạt được kết quả cao
Học sinh:
- Đa số học sinh chưa say mê môn hoá học, đặc biệt là bài tập tính theo phương trình hoá học một số học sinh khi giải quyết bài tập dạng này còn gặp nhiều khó khăn
- Nhiều học sinh chưa nắm vững kiến thức cơ bản cũng như kỹ năng làm tập hóa học, nhiều học sinh không đủ sách vở để học tập, đặc biệt là sách tham khảo
- Mức độ tiếp thu kiến thức của học sinh không đồng đều, chán học ngay từ lớp dưới dẫn đến mất kiến thức ngay từ đầu từ đó làm ảnh hưởng không ít đến việc tiếp thu kiến thức mới
- Bài tập về nhà nhiều học sinh chưa ý thức cao trong việc làm bài ở nhà mà chủ yếu chép sách giải hoặc chép bài của bạn thiếu sự động nảo, suy nghỉ tìm ra lời giải bài tập
2 GIẢI PHÁP THAY THẾ:
- Trong quá trình giảng dạy giáo viên tự nghiên cứu tài liệu về rèn luyện học sinh
kỹ năng làm bài tập hóa học
Trong các tài liệu đó giáo viên cần lựa chọn các câu hỏi, bài tập các dạng từ đơn giản sau đó nâng dần cấp độ, qua đó giáo viên lên lớp hướng dẫn cho học sinh cụ thể nội dung và bài tập của từng phương pháp để các em có thể nắm được vấn đề thông qua từng tiết dạy Cụ thể các tài liệu có tác dụng tốt trong việc rèn luyện kỹ năng giải bài tập hóa học lớp 9 như:
Trang 4- Ôn luyện và kiểm tra hóa học 9 - Trần Trung Ninh, Nguyễn Thị Kim Thanh, Vũ Thị Lan, Phạm Ngọc Sơn, Bùi Thị Hạnh ( NXB đại học TP Hồ Chí Minh)
- Nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng hóa học 9 - Từ Vọng Nghi( NXB Giáo dục)
Tuy nhiên, các tài liệu đó chủ yếu viết cho học sinh khá và giỏi tự đọc và có thể hiểu ngay vấn đề và áp dụng vào các bài tập khác, còn đối với học sinh trường THCS Ninh Hòa các em tương đối yếu về kĩ năng cùng như kiến thức thì việc tự nghiên cứu các tài liệu để nắm kiến thức là vô cùng khó khăn chính vì vậy trong giảng dạy tôi hướng dẫn, rèn luyện học sinh kỹ năng giải bài tập kết hợp tham khảo tài liệu
- Qua việc nghiên cứu đề tài này, tôi muốn chứng minh rằng rèn luyện học sinh kỹ năng giải bài tập sẽ nâng cao chất lượng học tập môn hóa học, tạo hứng thú học tập cho học sinh
3 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Rèn luyện học sinh kỹ năng giải bài tập hóa học trong quá trình giảng dạy và học sinh tự làm ở nhà có nâng cao chất lượng học tập hóa học lớp 9 không?
4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU:
Việc rèn luyện học sinh kỹ năng giải bài tập trong giảng dạy và hướng dẫn học sinh tham khảo thêm ở nhà thì kết quả học tập sẽ nâng lên cho học sinh lớp 9 trường THCS Ninh Hòa
III PHƯƠNG PHÁP
1 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:
- Tôi lựa chọn học sinh lớp 9A và lớp 9B trường THCS Ninh Hòa để nghiên cứu vì hai lớp có lực học tương đương nhau, kết quả các bài kiểm tra học kì và kiểm tra một tiết
là gần tương đồng nhau
Dân tộc
Giáo viên giảng dạy: Ngô Hữu Nhiệm
- dạy lớp 9A lớp thực nghiệm
- dạy lớp 9B lớp đối chứng
2 THIẾT KẾ:
Trang 5- Chọn hai lớp 9A làm lớp thực nghiệm, lớp 9B là lớp đối chứng Tôi dùng bài kiểm tra chung đề toàn trường kiểm tra 1 tiết ( bài số 1 học kỳ I) môn hoá làm bài kiểm tra trước tác động Kết quả cho thấy điểm trung bình của hai lớp có sự khác nhau, do đó chúng tôi dùng phép kiểm chứng T- test để kiểm chứng sự chênh lệch trung bình về điểm
số của hai lớp trước khi tác động
Kết quả như sau:
S
T
T
Họ và tên lớp thực nghiệm Điểm lớp đối chứng Họ và tên Điểm
Trang 630 Võ Ý Như 7 Ngô Thảo Vi 8
Bảng so sánh điểm trung bình của bài kiểm tra sau tác động
Ta thấy p= 0,18 > 0,05 nên sự chênh lệch về điểm số trung bình của hai lớp không
có ý nghĩa, hai lớp được coi là tương đương
Tôi lựa chọn thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động với lớp tương tương
Lớp Kiểm tra trước tác động Tác động Kiểm tra sau tác động
Áp dụng rèn luyện học sinh
kỹ năng giải bài tập trong giảng dạy(tổ chức học chéo buổi)
03
Ít rèn luyện học sinh kỹ năng giải bài tập trong dạy học(tổ chức học chéo buổi) 04 Dùng phép kiểm chứng T-test độc lập
3 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU:
+ Lớp 9B ( lớp đối chứng) dạy theo phương pháp thông thường
+ Lớp 9A (lớp thực nghiệm) trong quá trình soạn giáo án, giảng dạy giáo viên cần tập trung những nội dung quan trọng, thời gian còn lại rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh
Để rèn luyện học sinh kĩ năng giải bài tập hóa học tôi đã thực hiện một số khâu quan trọng như sau:
- Giáo viên bộ môn hoá học cần hình thành ở các em một kỹ năng cơ bản, thói quen học tập và làm việc khoa học làm nền tảng để các em phát triển khả năng nhận
thức và năng lực hành động Hình thành cho các em những phẩm chất cần thiết như cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác, yêu thích khoa học
- Nghiên cứu, phân loại các dạng bài tập sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh và từng phần kiến thức cụ thể
Lớp Số HS Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn (SD) p
Trang 7- Thực hiện giảng dạy theo phương pháp mới, sử dụng tối đa đồ dùng học tập để học sinh nắm vững lý thuyết Trong quá trình giảng dạy quan tâm đến từng đối tượng học sinh, động viên khuyến khích các em học tập
- Trước tiên giáo viên phải có sự chuẩn bị bài dạy thật kĩ, nội dung bài tập phù hợp với kiến thức bài học, đối tượng học sinh Đặc biệt đối với dạng bài ôn tập, luyện tập giáo viên không nhất thiết phải bám theo sách giáo khoa mà có thể linh hoạt các bài tập cho phù hợp
Trên cơ sở thực tiễn và lý luận đã phân tích ở trên chúng tôi thấy việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua bài tập hoá học là cần thiết
Bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh là một quá trình liên tục, phức tạp trải qua nhiều giai đoạn, nhiều mức độ
Một mặt: Trong hoạt động học tập nhận thức cần nâng dần từng bước từ mức độ
thấp đến cao:
Tích cực động não
- Độc lập suy nghĩ
- Tích cực sáng tạo
Mặt khác: Cần rèn luyện học sinh nâng dần các dạng hoạt động từ dễ đến khó.
- Vận dụng kiến thức cơ bản
- Tổng hợp kiến thức
- Phát hiện xây dựng kiến thức mới
- Nâng cao kiến thức
Theo tôi để rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh trước hết phải:
* Hình thành cho học sinh một hệ thống kiến thức cơ bản vững vàng sâu sắc
Đó là hình thành các khái niệm, các định luật, các tính chất, các quy luật về cấu tạo chất
và về phản ứng hoá học
* Rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy logic chính xác:
Học sinh thông qua các thao tác: Quan sát, Phân tích , tổng hợp và dựa vào bản chất của vấn đề để tìm ra cách giải quyết ngắn gọn sáng tạo
Thí dụ:
Cho hỗn hợp X Gồm FeO, Fe2O3 và có khối lượng 30,4 g Nung hỗn hợp này trong một bình kín chứa 22,4 lít CO (ĐKTC), khối lượng hỗn hợp khí thu được là 36 g Xác định thành phần hỗn hợp khí Biết rằng X bị khử hoàn toàn tạo thành Fe
giải:
+ Gọi số mol FeO, Fe2O3 tham gia phản ứng lần lượt là a,b
(a,b > 0)
+ Viết 2 phương trình phản ứng
+ Tính số mol CO2 sinh ra
+ Lập phương trình bậc nhất 2 ẩn theo khối lượng 2 oxít
+ Lập phương trình bậc nhất 2 ẩn theo khối lượng khí tạo thành
+ Giải hệ phương trình tìm ra a = 0,2 mol; b = 0,1 mol
Trang 8+ Tính số mol CO dư ( nCO(dư) = 0,5 mol )
+ Tính số mol CO2tạo thành ( nCO2 = 0,5 mol )
*Cách khác: Học sinh đọc đề, phân tích đề, nhận xét:
Độ tăng khối lượng của khí = khối lượng oxi lấy ra từ 2 oxít
+ nCOban đầu = 1mol MCO = 28g
+ Độ tăng khối lượng khí = 36 - 28 = 8g = mO
+ Số mol 0 nO = = 0,5 mol
16 8
+ Cứ 0,5 mol CO kết hợp với 0,5 mol O tạo thành 0,5 mol CO2
+ Thành phần hỗn hợp khí sau khi phản ứng gồm:
0,5 mol CO dư
0,5 mol CO2
Phân tích: Nếu giáo viên hướng dẫn học sinh biết dùng nguyên lý bảo toàn nguyên tử, ta
có thể đơn giản cách tính mà không phải tính riêng lẻ cho từng phản ứng Như vậy tư duy logic, chính xác được phát triển, thể hiện học sinh đã biết dựa vào bản chất hoá học của bài toán chứ không chỉ chú trọng nhiều tính toán để tìm ra đáp số của bài
* Rèn luyện năng lực tư duy khái quát hoá trong giải bài tập hoá học
Năng lực khái quát cao là khả năng phát hiện phát hiện những nét chung bản chất của nhiều vấn đề, nhiều đối tượng để đưa vấn đề đó về một kiểu nhất định Trong giải bài tập hoá học khả năng khái quát thể hiện ở năng lực học sinh biết phân dạng bài tập hoá học, và biết tìm phương pháp giải chung cho từng dạng bài
* Rèn khả năng độc lập suy nghĩ :
Là khả năng biết tự đặt ra vấn đề, giải quyết vấn đề, kiểm tra cách giải quyết vấn
đề, không thoả mãn với những cái có sẵn, luôn luôn tìm ra cách giải quuyết mới ngay cả trong các bài tập quen thuộc
Thí dụ: Trong sách giáo khoa hoá 9 có bài tập
Từ 80 tấn quặng Firit chứa 40 S sản xuất được 92 tấn axit sunfuric Tính hiệu 0
suất của quá trình
giải
+ Viết 3 phương trình
t0
4FeS2 + 11O2 8SO2 + 2 Fe2O3 (1)
t 0
2SO2 + O2 2SO3 (2)
xúc tác
SO3 + H2O H2SO4 (3)
+Tính khối lượng S có trong 80 tấn quặng Firit
+Dựa vào phương trình (1) tính khối lượng SO2
Trang 9+Dựa vào phương trình (2) tính khối lượng SO3
+Dựa vào phương trình (3) tính khối lượng H2SO4
+Tính hiệu suất
*cách khác:
Học sinh nhận thấy quá trình sản suất H2SO4từ quặng Firit gồm nhiều phản ứng kế tiếp (sản phẩm của phản ứng này là chất tham gia của phản ứng kế tiếp )
Học sinh lập hồ sơ chuyển hoá từ 3 phản ứng trên
1mol FeS2 2 mol SO2 2 mol SO3 2 mol H2SO4
Hay 1mol FeS2 (chứa 2 mol S) 2 mol H 2SO4
+Tính lượng S có trong 80 tấn quặng Firit
+Tính khối lượng H2SO4 thu được theo lý thuyết
+Tính hiệu suất
Phân tích: Trong giảng dạy bài tập hoá học nếu giáo viên chú ý hướng dẫn các em thao tác so sánh, khái quát hoá, chú ý đến bản chất phản ứng, thấy rõ mối quan hệ giữa các đại lượng thì học sinh đã được rèn tốt tư duy sáng tạo
* Rèn luyện tư duy sáng tạo linh hoạt thông qua việc tìm các cách giải của một bài tập.
Thí dụ: Cho 10,8 g một kim loại hoá trị III tác dụng với Clo có dư thu được 53,8 g muối
Xác định kim loại theo phản ứng
Cách 1: Tính theo phương trình hoá học
Gọi kim loại hoá trị III là A, nguyên tử khối là a ( a>0 )
PTHH : 2A + 3Cl2 = 2ACl3
2 mol : 3 mol : 2 mol mol mol ACl3
a
8 , 10
3 5 , 35
4 , 53
x
a
Ta có:
5 , 106
4
,
53
8
,
10
a
a
a = 27 Kim loại đó là Al
Cách 2:
Dựa vào định luật bảo toàn khối lượng Vì kim loại phản ứng hết ta có:
mKim loại + mclo tham gia phản ứng = m muối mCl = 53,4 - 10,8 = 42,6 (g)
nCl = = 0,6 mol
71
6
,
42
Từ phương trình n A = = 0,4 (mol)
3
2 6 ,
0 x
a x 0,4 = 10,8
Trang 10a = 27 Kim loại đó là Al
Cách 3:
Khối lượng nguyên tố Clo có trong 53,4 g muối
54,3 - 10,8 = 42,6 g
Số mol nguyên tố Clo có trong muối
ncl = = 1,2 ( mol )
5 , 35
6 , 42
Số mol muối tạo thành = = 0,4 ( mol )
3
2 , 1
Ta có: 0,4 x ( a + 35,5 x 3 ) = 53,4
a = 27 Kim loại đó là Al
Phân tích:
Thực hiện yêu cầu này tuy tốn nhiều thời gian nhưng cùng một lúc nó giúp ta đạt được nhiều mục đích
+Phát huy năng lực sáng tạo của học sinh
+Tổng kết các phương pháp giải bài tập
+So sánh và đánh giá các phương pháp giải
* Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua việc hướng dẫn học sinh ra đề,
tự giải và tự kiểm định kết quả.
Việc tự ra một đề bài tập đặt học sinh vào vị trí phải sử lý nhiều tình huống khác nhau, theo các mức độ khác nhau
Thí dụ:
Từ sơ đồ mối quan hệ giữa các loại chất vô cơ hoặc hữu cơ, tôi thường yêu cầu học sinh:
+ Học sinh tự ra đề về một chuỗi biến hoá ( trong đó các chất đã biết CTHH ) sau
đó tự viết phương trình, rồi kiểm nghiệm đúng sai
+ Tự ra đề về một chuỗi biến hoá ở mức độ cao hơn ( trong chuỗi biến hoá đó chỉ
có một hoặc vài chất đã biết CTHH )
+ ở mức độ cao hơn nữa: Học sinh tự ra đề về chuỗi biến hoá thể hiện bằng các chữ cái yêu cầu học sinh xác định các chất ứng với các chữ đó trong dãy biến hoá, viết phương trình
- Kiểm định đúng sai
Phân tích: Nếu học sinh tự ra đề và tự giải thành công sẽ cuốn hút học sinh vào hoạt động học, kích thích óc sáng tạo, sự phát triển tư duy của các em
* Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh gắn liền với việc rèn luyện phong cách làm việc khoa học:
Giải bài tập hoá học là một hoạt động trí tuệ, kết quả hoạt đọng này phụ thuộc vào năng lực tư duy và năng lực tổ chức hoạt động trí tuệ một cachs khoa học
Giải bài tập hoá học gồm những bước chung: