Báo cáo môn Chính sách thương mại quốc tế (4)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
BẢN BÁO CÁO
NHÓM: 21 Nhận xét nhóm: 14 Lớp: TMA 301.1 Giảng viên: TS Vũ Hoàng Việt
Họ và tên: 1 Nguyễn Thị Ngọc Lan MSV: 0951010304
Hà Nội - 21/09/2011
Trang 2Họ và tên: Nguyễn Thị Ngọc Lan
Lớp : TAM301(1-1112).1_LT
Nhóm: 21
Mã sinh viên: 0951010304
BẢN BÁO CÁO
Câu 3 - Chương IV - Giáo trình Kinh tế ngoại thương
LỜI NÓI ĐẦU:
Khi nói về hiệu quả của hoạt động kinh doanh ngoại thương, chúng ta phải xem xét đến cả hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế- xã hội Trong khi hiệu quả tài chính mới chỉ xác định ở tầm
vi mô trên góc độ của doanh nghiệp với mục tiêu chính là tối đa hóa lợi nhuận thì hiệu quả kinh tế
- xã hội phải được xác định ở tầng vĩ mô xuất phát từ lợi ích của toàn xã hội, nhằm mụ tiêu tối đa hóa phúc lợi xét trên phạm vi nền kinh tế Việc tính toán hiệu quả tài chính được thực hiện trước
để làm cơ sở cho việc xác định hiệu quả kinh tế - xã hội Tuy nhiên khi sử dụng các kết quả của việc tính toán hiệu quả tài chính để tính toán hiệu quả kinh tế xã hội cần lưu ý sự khác biệt về lợi nhuận Quy mô của lợi nhuận có liên quan đến cách xác định giá cả và chi phí kinh doanh Chính
vì vậy, một câu hỏi đặt ra là phân biệt lợi nhuận tài chính và lợi nhuận kinh tế như thế nào? Cái nào mới là cái mà doanh nghiệp cần chú ý trong quá trình kinh doanh của mình, để biết được hoạt động kinh doanh có thực sự đạt hiệu quả hay không?
1. Câu hỏi : Phân biệt lợi nhận tài chính và lợi nhuận kinh tế.
2. Câu trả lời của đại diện nhóm 14 :
Ý 1: Có sự phân biệt giữa lợi nhuận tài chính và lợi nhuận kinh tế do sự khác nhau về cách
tiếp cận nhưng có chung các yếu tố đầu vào và đầu ra
Công thức tính lợi nhuận như sau:
Lợi nhuận tài chính= Tổng doanh thu tài chính - Tổng chi phí tài chính
Lợi nhuận kinh tế = Tổng doanh thu - Tổng chi phí kinh tế
= Tổng doanh thu - (Tổng chi phi tài chính + Chi phí cơ hội + Chi phí chìm) = Lợi nhuận tài chính - (Chi phí cơ hội + Chi phí chìm)
Sau đó bạn giải thích từng khía cạnh:
2
Trang 3 Chi phí cơ hội: là giá trị của lựa chọn tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiện phương án này.
Chi phí chìm: Là những chi phí không thu lại được do những quyết định sai lầm trong quá khứ
Ví dụ: Tháng 5, một doanh nghiệp đã hoạch định phương án, bỏ ra chi phí, nhân lực tìm hiểu dự
án, quyết định tháng 10 bắt đầu thực hiện dự án Nhưng đến tháng 10 do quy định của Chính phủ,
dự án này không được phép thực hiện Toàn bộ chi phí doanh nghiệp bỏ ra bị mất và được coi là chi phí chìm
Chính vì cách tiếp cận chi phí tài chính và chi phí kinh tế khác nhau dẫn tới lợi nhuận tài chính và lợi nhuận kinh tế cũng khác nhau
Ý 2: Quan điểm khách nhau của các nhà kinh tế và kế toán về thuế, tiền lương, tiền công
và các khoản trợ cấp bù giá
Với doanh nghiệp: Tiền lương, tiền công, thuế là chi phí; trợ giá, trợ cấp là thu nhập
Với xã hội: Tiền lương, tiền công, thuế là thu nhập; trợ giá, trợ cấp là chi phí xã hội phải
bỏ ra
Chính quan điểm khác nhau này nên đánh giá về lợi nhuận tài chính và lợi nhuận kinh tế cũng khác nhau
Bạn nhấn mạnh, tuy nhiên hai khái niệm này có mối quan hệ nhất định, tính toán lợi nhuận tài chính là cơ sở cho tính toán lợi nhuận kinh tế
3. Nhận xét:
Bạn trả lời chính xác câu hỏi, trong đó nhấn mạnh được nguyên nhân của sự khác nhau giữa lợi nhuận tài chính và lợi nhuận kinh tế là do quan điểm khác nhau về chi phí (về mặt kinh tế
và mặt xã hội) Đưa ra được công thức và phân tích được sự khác nhau đó trong từng khía cạnh, cho ví dụ cụ thể để người nghe dễ dàng tiếp cận vấn đề hơn Câu trả lời của bạn hoàn toàn đúng
và thỏa mãn được người nghe, có lẽ cũng bởi vì câu hỏi này chỉ đơn thuần là lý thuyết và không yêu cầu sự suy nghĩ cũng như liên hệ nhiều với thực tế, tất cả thông tin đều được trình bày rõ ràng trong sách giáo trình nên bạn cũng có một số thuận lợi nhất định khi trả lời câu hỏi này
Thầy giáo hài lòng với câu trả lời của bạn và không có câu hỏi phụ nào thêm :)
Trang 4KẾT LUẬN
Lợi nhận tài chính và lợi nhuận kinh tế khác nhau do quan điểm về thu nhập và chi phí là
có sự khác nhau dưới góc nhìn doanh nghiệp và xã hội Tuy nhiên giữa chúng có mối liên hệ nhất định do các yếu tố đầu vào và đầu ra là giống nhau Doanh nghiệp phải để ý đến cả hai vấn đề này
để vừa thu được lợi nhuận cho doanh nghiệp vừa mang lại lợi ích cho xã hội
Tài liệu tham khảo: Giáo trình Kinh tế ngoại thương, Trường Đại học Ngoại thương - GS,TS.Bùi
Xuân Lưu - PGS, TS Nguyễn Hữu Khải
4
Trang 5Họ và tên: Lương Văn Thắng
A2-TATM-K48
MSV: 0957010088
Nhóm 21
BÁO CÁO
(Câu hỏi số 6 chương 4, giáo trình Kinh tế Ngoại thương)
Nội dung câu hỏi:
Sự giống và khác nhau giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động ngoại thương? Cho ví dụ?
Nội dung câu trả lời:
Vì nội dung câu hỏi này theo thầy giáo là sai, do vậy bạn trả lời đã không thể đưa ra được câu trả lời
Câu hỏi phụ:
Câu 1: Hiệu quả là gì?
Câu 2 : Trong các chỉ tiêu hiệu quả tài chính, có chỉ tiêu nào là không dựa trên kết quả so sánh
giữa kết quả thu được và chi phí không?
Đối với câu hỏi phụ 1: Theo bạn trả lời thì hiệu quả là lợi ích mang lại sau khi trừ đi các khoản chi
phí để có được một sản phẩm nào đó
Câu hỏi phụ thứ 2: Bạn đã không trả lời được
Bổ sung và nhận xét của bản thân:
Về nội dung câu hỏi trong sách giáo khoa thì không có gì để nói bởi lẽ câu hỏi này là sai
Về các câu hỏi phụ:
Câu 1: Theo em câu này bạn trả lời có ý đúng, quả nhiên hiệu quả nó phải xuất phát từ việc có sự
chênh lệch giữa các khoản bỏ ra và khoản thu lại khi thực hiện một hành động nào đó, tất nhiên
Trang 6phần mang lại phải lớn hơn phần bỏ ra thì mới có thể có hiệu quả Tuy nhiên, hiệu quả không chỉ đơn thuần là việc thu về được nhiều hơn so với chi phí bỏ ra để thực hiện một hoạt động nào đó,
nó còn có nghĩa với khoản bỏ ra hay thu về đó chúng ta sử dụng như thế nào để tối đa hóa lợi ích
mà nó mang lại
Câu 2: Câu này là một câu hỏi khó và bạn ấy đã không trả lời được.
Hiệu quả tài chính là hiệu quả kinh tế được thể hiện thông qua đồng tiền Muốn tính được chính xác hiệu quả tài chính, chúng ta nhất thiết phải tính đúng và đầy đủ giá thành xuất và nhập khẩu, nghĩa là ta luôn phải tính khoản chênh lệch giữa cái bỏ ra và cái thu về Vậy không thể tính hiệu quả tài chính nếu không tính khoản chênh lệch giữa cái bỏ ra và cái thu về
Tài liệu tham khảo: Giáo trình Kinh tế ngoại thương, Trường Đại học Ngoại thương - GS,TS.Bùi
Xuân Lưu - PGS, TS Nguyễn Hữu Khải
Họ và tên: Nguyễn Thị Cẩm Ly
Mã sv:0951010639
6
Trang 7CÂU 4 CHƯƠNG IV Lời mở đầu
Quan niệm phổ biến cho rằng, ở dạng khái quát nhất hiệu quả kinh tế ngoại thương là kết quả của quá trình sản xuất trong nước, nó được biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được
và chi phí bỏ ra Trong thực tiễn cũng có người cho rằng hiệu quả kinh tế ngoại thương thực chất
là lợi nhuận và đa dạng giá trị sử dụng
Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả kinh tế ngoại thương được biểu hiện ở những dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trưng, ý nghĩa cụ thể của hiệu quả kinh tế ngoại thương Việc phân loại hiệu quả kinh tế ngoại thương theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực cho công tác quản lý ngoại thương Nó là cơ sở để xác đinh các chỉ tiêu và mức hiệu quả và xác định những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế ngoại thương
Hiệu quả kinh tế ngoại thương gồm có hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội Giữa 2 phạm trù này có mối quan hệ chặt chẽ đến nhau
1 Câu hỏi : Mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội của hiệu quả
kinh tế ngoại thương?
2 Câu trả lời của nhóm bạn :
a) Hiệu quả kinh tế cá biệt là hiệu quả kinh tế thu được từ hoạt động ngoại thương của từng doanh nghiệp, của từng thương vụ, mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu
b) Hiệu quả kinh tế - xã hội mà ngoại thương đem lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của hoạt động ngoại thương vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích lũy ngoại tệ, tăng thu cho ngân sách, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân…
c) Trong quản lý kinh doanh ngoại thương không những cần tính toán và đạt được hiệu quả trong hoạt động của từng người, từng doanh nghiệp, mà còn phải tính toán và quan trọng hơn, phải đạt được hiệu quả kinh tế xã hội đối với nền kinh tế quốc dân Hiệu quả kinh tế xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển Giữa hiệu quả kinh tế các biệt và hiệu quả kinh tế xã hội có mối quan hệ nhân quả và tác động qua lại lẫn nhau Để doanh nghiệp quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội chung của nền kinh tế quốc dân Nhà nước cần có các chính sách đảm bảo kết hợp hài hòa lợi ích của xã hội với lợi ích của doanh nghiệp và cá nhân người lao động
3 Nhận xét:
Trang 8 Câu trả lời đúng nhưng chưa đầy đủ Em nhận thấy bạn chỉ trả lời theo y nguyên trong giáo trình chứ chưa có sự chọn lọc các ý phù hợp làm nổi bật mối quan hệ và tổng hợp ý để
đi vào trọng tâm của đề
Cần mạnh dạn bỏ ý c mà thay bằng ý sau:
Hiệu quả kinh tế xã hội chính là tổng thể các hiệu quả kinh tế các biệt của toàn bộ nền kinh
tế Còn hiệu quả kinh tế cá biệt chính là 1 bộ phận của hiệu quả kinh tế xã hội Giữa chúng có mối quan hệ nhân quả tác động qua lại lẫn nhau Hiệu quả kinh tế xã hội chỉ có thể đạt được trên cơ sở các hiệu quả kinh tế cá biệt của các doanh nghiệp ngoại thương, cũng như hiệu quả kinh tế xã hội tạo điều kiện, tiền đề để các doanh ngiệp có thể thu được hiệu quả kinh tế cá biệt
4 Câu hỏi phụ
1) Nêu ra 1 trường hợp trong đó có hiệu quả kinh tế cá biệt nhưng lại không có hiệu quả kinh tế xã hội?
Nhóm bạn: Việc buôn bán các mặt hàng cấm, trái phép như ma túy, hàng giả, vũ khí…tạo ra
lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp nhưng không có lợi cho toàn xã hội
Câu trả lời này Sai Lý do vì các hoạt động buôn bán các mặt hàng trái phép trên không
được tính là hoạt động ngoại thương
Câu trả lời đúng phải là: Việc nhập khẩu các nguyên liệu thô sơ chế như dầu mỏ, than
đá…từ nước ngoài Hoạt động này có thể đưa đến cho 1 hay một vài doanh nghiệp các lợi ích nhất định về kinh tế, nhưng lại có ảnh hưởng xấu đến toàn xã hội: vừa lãng phí tài nguyên trong nước, tác động xấu đến cán cân thanh toán cũng như thâm hụt thương mại, dẫn đến thất thoát 1 lượng lớn ngoại tệ ra nước ngoài, có ảnh hưởng đến môi trường…
2) Nêu ra 1 trường hợp trong đó có hiệu quả kinh tế xã hội nhưng lại không có hiệu quả kinh tế cá biệt.
Nhóm bạn: Việc xây dựng các bệnh viện hay các cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường,
trạm…đem lại lợi ích cho toàn xã hội nhưng lại không có lợi cho doanh nghiệp cụ thể
Câu trả lời này Sai, lý do vì khi Chính phủ xây dựng các cơ sở hạ tầng căn bản như trên,
chính các doanh nghiệp cũng được hưởng lợi ích trực tiếp từ nó, như có điện, nước để sản xuất, có đường xá để phân phối…vậy thì không thể nói doanh nghiệp không dduwwjc hưởng lợi được
Câu trả lời đúng phải là: Việc Chính phủ mong muốn các doanh nghiệp sử dụng nguồn
lao động nước ngoài để phục vụ mục đích ngoại giao, điều này có lợi cho xã hội Tuy nhiên, không phải lao động nước ngoài nào cũng hoạt động hiệu quả hơn lao động trong nước, điều này dẫn đến sự thua thiệt của các doanh nghiệp nếu biết tận dụng nguồn lao động vừa rẻ, vừa hiệu quả
ở trong nước
KẾT LUẬN
8
Trang 9Tóm lại giữa hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Các doanh nghiệp ngoại thương phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội vì đó chính là tiền đề và điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Nhưng để doanh nghiệp quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội chung của nền kinh tế quốc dân Nhà Nước cần có các chính sách đảm bảo kết hợp hài hòa lợi ích của xã hội với lợi ích của doanh nghiệp và các nhân người lao động
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình Kinh Tế Ngoại Thương-NXB LĐXH 2009
Họ và tên : Lê Thị Liên
Trang 10MSV : 0951010764
Lớp : TMA301.1LT
Nhóm : 21
BÁO CÁO CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Câu hỏi:
(Câu 7 - ChươngIV- trang 180 - giáo trình Kinh tế ngoại thương)
Phương pháp xác định một số chỉ tiêu hiệu quả kinh tế-xã hội của hoạt động ngoại thương?
Như chúng ta đã biết, hiệu quả kinh tế - xã hội là tiêu chí số một của sự phát triển các quốc gia cũng như các vùng lãnh thổ trên thế giới Chính nhờ đem lại lợi ích kinh tế - xã hội to lớn mà hoạt động ngoại thương đã và đang giữ vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Vậy thì, làm thế nào để có thể xác định hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động ngoại thương? Dưới đây là ý kiến trả lời của bạn đại diện nhóm 14
Theo bạn, có 4 phương pháp chính để xác định hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động ngoại thương:
1.Xác định giá trị hàng hóa gia tăng:
Giá trị gia tăng = lãi ròng + lương + thuế - trợ giá, bù giá trực tiếp
2.Hiệu quả kinh tế của vốn:
Hv =
3.Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ:
10
Trang 11Tăng thu ngoại tệ = thu ngoại tệ do XK – chi phí ngoại tệ cho NK
Tiết kiệm ngoại tệ = chi phí ngoại tệ nếu NK – chi phí ngoại tệ cho NK
4.Mức đóng góp cho ngân sách nhà nước:
Tỷ lệ =
Ngoài ra còn có một số phương pháp khác để xác định hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động ngoại thương như số lượng lao động thu hút được, mức độ đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương, tác động của hoạt động ngoại thương đến môi trường, …
Nhận xét: Bạn đã nêu một cách khái quát phương pháp xác định một số chỉ tiêu kinh tế
-xã hội Theo em, câu trả lời này đúng và tương đối đầy đủ (chi tiết xem thêm giáo trình Kinh tế ngoại thương – trang 162168) Câu trả lời này đã được thầy đồng ý, em không có ý kiến bổ
sung
Câu hỏi phụ 1: Cho ví dụ về hiệu quả của hoạt động ngoại thương đến tăng
thu ngoại tệ.
Trả lời:
Ví dụ công ty X: - thu được A từ hoạt động XK
- chi mất B cho NK nguyên liệu
tăng thu ngoại tệ: A-B (A>B)
Câu hỏi phụ số 2: Cho ví dụ về hoạt động tiết kiệm ngoại tệ.
Trả lời:
Công ty dệt may X: - nếu nhập khẩu toàn bộ vải thì chi mất 20 tỷ USD
- thực tế tận dụng 9 tỷ USD vải nguyên liệu nội địa
tiết kiệm ngoại tệ = 20 – 9 = 11 (tỷ USD)
Nhận xét trả lời câu hỏi phụ:
Trang 12Câu hỏi phụ 1: ví dụ của bạn đúng nhưng chưa cụ thể Bạn nên thay A và B bằng con số
cụ thể để mọi người dễ hình dung
Câu hỏi phụ 2: ví dụ bạn nêu ra hoàn toàn chính xác.
Như vậy, để xác định hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động ngoại thương, chúng ta thường dựa vào 4 chỉ tiêu chính Đó là giá trị gia tăng của hàng hóa, hiệu quả kinh tế của vốn, mức tăng thu - tiết kiệm ngoại tệ và mức đóng góp cho ngân sách nhà nước Ngoài ra, người ta còn có thể dựa vào các chỉ tiêu khác như: thu hút số lao động mới vào hoạt động xuất nhập khẩu, góp phần phát triển kinh tế địa phương, phát triển giáo dục, bảo vệ môi trường, …Đây sẽ là những công cụ thiết yếu để đánh giá mức độ hiệu quả của hoạt động ngoại thương đối với sự phát triển của một quốc gia
TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình Kinh tế ngoại thương – Bùi Xuân Lưu &Nguyễn Hữu Khải
Họ và tên: Phan Thị Thanh Bình
Lớp: TAM301(1-1112).1_LT
MSSV: 0951010829
BÁO CÁO CÂU HỎI
12
Trang 13MÔN: CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Qua từng giai đoạn lịch sử, ngoại thương luôn phát triển để phù hợp với hoàn cảnh của đất nước Giai đoạn trước đổi mới, trong bối cảnh đất nước đã thống nhất ta có nhiều thuận lợi để phát triển khôi phục kinh tế nhưng cũng gặp không ít khó khăn Chúng ta có điều kiện và khả năng khai thác có hiệu quả tiềm năng của đất nước và đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển ngoại thương mở rộng các hợp tác kinh tế Tuy nhiên chúng ta cũng đứng trước những khó khăn gay gắt bắt nguồn từ trình độ phát triển kinh tế của cả nước còn thấp, cơ sở vật chất kĩ thuật còn yếu kém, kinh tế hang hóa chưa phát triển, chưa có tích lũy từ nội bộ kinh tế Mặt khác chiến tranh kéo dài
để lại hậu quả kinh tế làm cho đất nước phát triển chậm lại nhiều năm và gây ra những vết thương
xã hội mà qua nhiều năm mới hàn gắn được Trước tình hình đó, ta phải phát triển và mở rộng các hoạt động kinh tế đối ngoại trong đó có ngoại thương để đưa đất nước tiến lên Tuy nhiên đặt trong bối cảnh tình hình kinh tế kế hoạch hóa, cơ chế quản lí tập trung quan liêu bao cấp, ngoại thương thời kì này không hoàn toàn được tự do mà đặt dưới bàn tay quản lí của Nhà nước Nguyên tắc nhà nước độc quyền về ngoại thương và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác được coi
là nền tảng để hình thành cơ chế quản lí và tổ chức hoạt động ngoại thương trong giai đoạn này Nguyên tắc đã được hiến pháp năm 1980 ghi nhận tại điều 21 Bài báo cáo môn Chính sách thương mại quốc tế này, em xin được trình bày về nội dung của chế độ “ Nhà nước độc quyền ngoại thương” trong giai đoạn 1986
Câu hỏi được đặt ra ở đây là: Nêu nội dung chủ yếu của chế độ “Nhà nước độc quyền
ngoại thương” trong giai đoạn trước năm 1986 ( Câu hỏi 1 – chương 6 - trang 232 – giáo trình
Kinh tế ngoại thương )
Câu trả lời của đại diện nhóm 14 như sau:
Nôi dung cơ bản của mô hình quản lí theo nguyên tắc nhà nước độc quyền ngoại thương là:
- Hoạt động ngoại thương đều được kế hoạch hóa với một hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chặt chẽ và được chỉ huy tập trung từ trung ương
- Các hoạt động ngoại thương đều được giao cho các tổ chức quốc doanh được Nhà nước thành lập quản lí
- Các quan hệ thương mại, kinh tế giữa nước ta và các nước XHCN khác đều mang tính chất Nhà nước và được thực hiện trên cơ sở các Hiệp định và Nghị định thư mà Chính phủ ta kí với Chính phủ các nước XHCN Các điều ước quốc tế đó quy định cụ thể danh mục và kim ngạch