1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam.

229 44 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 229
Dung lượng 13,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam.Bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam.Bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam.Bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam.Bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam.Bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam.Bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam.Bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam.Bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam.Bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam.Bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi và công trình này đảm bảo các nguyên tắc đạo đức trong việc trích dẫn tài liệu!

Nghiên cứu sinh

Trần Văn Nhàn

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 9

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

1.1.1 Các nghiên cứu về bản địa hóa các tôn giáo tại Việt Nam 9

1.1.2 Nghiên cứu về bản địa hóa Công giáo 14

1.1.3 Nghiên cứu về Đức Mẹ Maria và bản địa hóa Đức Mẹ Maria 24

1.1.4 Nhận xét 33

1.2 Cơ sở lý luận 35

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 35

1.2.2 Cơ sở lý luận về chủ trương hội nhập Công giáo và quan điểm về hội nhập Công giáo ở Việt Nam của các nhà nghiên cứu 39

1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 45

1.3.1 Giáo xứ Quy Chính (xã Vân Diên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) 45

1.3.2 Giáo xứ Đức Mẹ Hằng cứu giúp (phường 9, quận 3 – Tp Hồ Chí Minh) 46 1.3.3 Giáo xứ Vỉ Nhuế (thôn Nấp, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) 47

1.3.4 Giáo xứ La Vang 48

1.3.5 Giáo xứ Khmer Trung Bình – Sóc Trăng 48

Tiểu kết chương 1 49

CHƯƠNG 2 ĐẠO CÔNG GIÁO, ĐỨC MẸ MARIA VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀO VIỆT NAM 50

2.1 Khái quát đạo Công giáo và sự du nhập vào Việt Nam 50

2.1.1 Khái quát về đạo Công giáo 50

2.1.2 Quá trình truyền nhập Công giáo tại Việt Nam 52

Trang 4

2.1.3 Thuận lợi, khó khăn khi hội nhập đạo Công giáo vào Việt Nam 57

2.2 Đức Maria trong đạo Công giáo và sự du nhập, thờ Kính Đức Maria trong Hội thánh Việt Nam 66

2.2.1 Đức Maria trong đạo Công giáo 66

2.2.2 Sự du nhập và thờ kính Đức Maria trong Hội thánh Việt Nam 70

Tiểu kết chương 2 80

CHƯƠNG 3 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA SỰ BẢN ĐỊA HÓA ĐỨC MẸ MARIA TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM 81

3.1 Bản địa hóa hình tượng Đức Mẹ Maria qua tên gọi 81

3.2 Bản Địa hóa hình tượng Đức Mẹ Maria trong văn học Công giáo Việt Nam 84

3.3 Bản địa hóa hình tượng Đức Mẹ Maria trong nghệ thuật tạo hình 88

3.3.1 Bản địa hóa hình tượng hình tượng Đức Maria qua tranh, tượng 88

3.3.2 Bản địa hóa Đức Mẹ Maria qua kiến trúc tượng đài, đền thờ 94

3.4 Bản địa hóa quyền năng qua biểu tượng Đức Mẹ Maria 103

3.4.1 Bản địa hóa biểu tượng Đức Mẹ Maria qua truyền tụng sự hiển linh 103

3.4.2 Bản địa hóa biểu tượng Đức Mẹ Maria qua quyền năng của Đức Mẹ 106

3.5 Bản địa hóa thực hành thờ kính Đức Mẹ Maria 116

3.5.1 Bản địa hóa nghi thức dâng hoa, thắp hương 116

3.5.2 Bản địa hóa nghệ thuật trình diễn nghi thức thờ kính Đức Mẹ 119

Tiểu kết chương 3 127

CHƯƠNG 4 BẢN ĐỊA HÓA ĐỨC MẸ MARIA TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CÔNG GIÁO TẠI VIỆT NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ BÀN LUẬN130 4.1 Nền tảng truyền thống văn hóa Việt – cơ sở của sự bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam 130

4.1.1 Tâm thức thờ thánh trong văn hóa dân gian Việt Nam và sự “Thánh hóa” Đức Mẹ Maria ở Việt Nam 130

Trang 5

4.1.2 Truyền thống khoan dung tôn giáo – tinh thần nhân văn và hội nhập 135

4.1.3 Truyền thống văn hóa địa phương và tộc người 138

4.2 Bản địa hóa Đức Maria: Sự hội nhập và giao lưu tiếp biến hình tượng Đức Mẹ Maria với các thành tố văn hóa truyền thống Việt Nam 140

4.2.1 Hội nhập và giao lưu tiếp biến với văn nghệ dân gian truyền thống Việt Nam 140

4.2.2 Hội nhập và giao lưu tiếp biến với mỹ thuật truyền thống Việt Nam 142

4.2.3 Hội nhập và giao lưu tiếp biến với phong tục thờ cúng của người Việt Nam 143

4.3 Bản địa hóa Đức Mẹ Maria: vai trò và sự ảnh hưởng tới đời sống tinh thần của cộng đồng người Công giáo tại Việt Nam 147

4.3.1 Đức mẹ Maria– điểm tựa tinh thần và sự lan tỏa tình yêu thương bác ái147 4.3.2 Đức Mẹ Maria – biểu tượng của sự kết nối và đoàn kết cộng đồng 149

4.3.3 Bản địa hóa Đức Mẹ Maria góp phần củng cố và hun đúc các giá trị văn hóa dân tộc 153

4.3.4 Bản địa hóa Đức Mẹ Maria với việc tạo động lực phát triển kinh tế văn hóa xã hội tại Việt Nam 155

Tiểu kết chương 4 156

KẾT LUẬN 158

TÀI LIỆU THAM KHẢO 162

MỤC LỤC PHỤ LỤC 171

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Công giáo được truyền vào Việt Nam vào năm 1533, ở thời kỳ đầu Công giáo có phần lạ lẫm với văn hóa tín ngưỡng truyền thống Việt nên gặp khá nhiều khó khăn trong việc truyền đạo Trải qua quá trình du nhập, hòa nhập vào văn hóa Việt, Công giáo đã không ngừng phát triển và trở thành một trong những tôn giáo lớn, có sức anh hưởng nhiều mặt trong xã hội Việt Nam Đi cùng với sự du nhập của đạo Công giáo, các vị thánh Công giáo cũng được du nhập vào Việt Nam mà một trong những vị thánh nổi bật là Đức Mẹ Maria.Từ một người phụ nữ đến từ trời Tây với những đặc điểm có phần khác lạ so với văn hóa truyền thống Việt, Đức Mẹ Maria đã được hòa mình trong văn hóa Việt, trở thành người phụ nữ Việt, mang nhiều giá trị và biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam Sự du nhập và hòa nhập của Đức Mẹ Maria trong văn hóa Việt là cả một quá trình dài, trong đó quá trình bồi đắp các giá trị và “thiêng hóa” Đức Mẹ Maria bằng nhiều con đường và nhiều dạng thức khác nhau, từ đó đã biến Đức Mẹ Maria dần trở thành người một vị thánh của

tín đồ Việt, gần gũi như một người mẹ Việt Nam

Đức Mẹ Maria hiện diện trong văn hóa Việt với nhiều tên gọi, nhiều quyền năng, nhiều huyền thoại và nhiều hình tượng khác nhau, gần gũi với văn hóa truyền thống, văn hóa địa phương, văn hóa tộc người tại Việt Nam… Đó chính là những biểu hiện của sự bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam Theo thời gian, Đức Mẹ Maria đã dần được bản địa hóa, uy quyền như các Thánh nữ, Thánh Mẫu, bà Chúa… như những vị thánh được thờ trong tín ngưỡng dân gian của người Việt, vừa gần gũi thân thương, hiền hậu bao dung như người mẹ Việt, những cũng đầy quyền năng để luôn bảo vệ và chở che con dân của mình

Kinh Thánh miêu tả Đức Maria là mẹ Chúa Giê Su, một người phụ nữ bình thường, không có quyền năng ban ơn Tuy nhiên, trong tâm thức của các tín đồ Việt Nam, Đức Maria được tôn sùng với rất nhiều quyền năng gắn với nhiều huyền thoại cứu nhân độ thế từ Bắc vào Nam, điều này càng thể hiện rõ sự tôn kính mạnh mẽ của tín đồ Việt dành cho Ngài

Trang 7

Mẹ Thiên Chúa, Đức nữ đồng trinh, Cửa thiên đàng, mẹ Hội thánh, vv… đó

là những danh hiệu dành cho Đức Maria, người Mẹ được yêu mến và có sức ảnh hưởng lớn lao trên thế giới Tại Việt Nam, cùng với quá trình bản địa hóa, Đức Mẹ Maria ngày càng trở nên gần gũi và có sức lan tỏa sâu rộng trong đời sống tâm linh của tín đồ Việt Theo đó, Đức Mẹ Maria một nhân vật quan trọng trong đạo Công giáo đã hóa thân thành một hình tượng người mẹ và tên gọi thân thuộc với người Việt, cùng với nhiều quyền năng gần gũi với tâm thức thờ thánh của người Việt Nam Việc tín đồ và giáo hội Công giáo Việt Nam tôn sùng và yêu mến đặc biệt với Đức Mẹ Maria, việc Đức Mẹ Maria hòa nhập trong văn hóa Việt, đặc biệt là có nhiều biểu hiện tương đồng với tín ngưỡng thờ thánh trong văn hóa truyến thống dân tộc đã tạo nên một hiện tượng văn hóa độc đáo chứa đựng nhiều giá trị

Tại Việt Nam, sự xuất hiện và phát triển của các linh địa Đức Mẹ Maria trải dài

từ Bắc - Trung - Nam, trở thành các trung tâm hành hương, thu hút hàng triệu tín đồ tìm về hàng năm, biến những vùng này trở thành các trung tâm du lịch tâm linh và cùng với lòng sùng kính có phần cuồng nhiệt đôi khi lấn át cả sự sùng kính và Đức Chúa mà các tín đồ dành cho Bà là một vấn đề rất cần được nghiên cứu để thấy được quá trình bản địa hóa một vị thánh ngoại sinh được du nhập vào Việt Nam

Việc nghiên cứu bản địa hóa Đức Maria chính là để làm rõ quá trình bồi đắp, quá trình thiêng hóa Đức Mẹ Maria đặc biệt là những biểu hiện của việc bản địa hóa này tại Việt Nam, qua đó cung cấp thêm một góc nhìn khác về sự bản địa hóa một nhân vật tôn giáo dưới góc nhìn văn hóa, khẳng định sức mạnh văn hóa dân tộc và những đóng góp của đạo Công giáo dưới góc nhìn văn hóa

Với những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Bản địa hóa Đức

Mẹ Maria tại Việt Nam” làm đề tài luận án Tiến sĩ văn hóa học của mình

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 8

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài sẽ tập trung vào những nhiệm

vụ nghiên cứu sau:

- Tập hợp thông tin và tư liệu về sự du nhập Đức Maria vào Việt Nam

- Tập hợp thông tin và tư liệu về quá trình hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam ở một số điểm nghiên cứu

- Khảo sát những biểu hiện của bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam thông qua tên gọi, biểu tượng, điện thờ, quyền năng và các nghi thức, nghi lễ…

- Phân tích các yếu tố tác động đến sự bản địa hóa Đức Mẹ Maria ở Việt Nam

- Bàn luận về sự bản địa hóa Đức Mẹ Maria ở Việt Nam

Dưới đây là các câu hỏi nghiên cứu chính đặt ra cho đề tài:

1 Đức Mẹ Maria là ai ? Vai trò vị trí Đức Mẹ Maria trong Giáo hội Công giáo?

2 Quá trình du nhập Đức Mẹ Maria trong văn hóa Việt diễn ra như thế nào? thuận lợi và khó khăn?

3 Vì sao Đức Mẹ Maria lại được tín đồ Việt yêu kính cách cuồng nhiệt?

4 Những biểu hiện cụ thể như thế nào của việc bản địa hóa Đức Mẹ Maria trong cộng đồng Công giáo tại Việt Nam tại các địa bàn khảo sát?

5 Cơ sở và những yếu tố nào tác động đến sự bản địa hóa Đức Mẹ Maria ở Việt Nam? Sự bản địa hóa việc tôn thờ Đức Mẹ Maria trong mối liên hệ với truyền thống văn hóa và đặc trưng văn hóa vùng miền và tộc người ở Việt Nam thể hiện như thế nào?

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Bản địa hóa Đức Mẹ Maria ở Việt Nam là vấn đề nghiên cứu lớn Trong đề tài này, chúng tôi giới hạn tập trung nghiên cứu về hai khía cạnh chính là bản địa hóa hình tượng Đức Mẹ Maria và bản địa hóa cách tôn thờ Đức Maria trong cộng

đồng người Công giáo Việt Nam (gọi tắt là “Bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại Việt Nam”), xuất phát từ các lý do sau:

Một là, tôn giáo tín ngưỡng nói chung và Công giáo nói riêng vốn có tính biểu tượng cao, thể hiện qua văn học, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật hội họa, điêu khắc, kiến trúc… Nghiên cứu hình tượng Đức Mẹ Maria là để thấy được cảm quan

Trang 9

và niềm tin của tín đồ Việt Nam đối với Đức Mẹ Maria, qua đó cho thấy sự chủ động hội nhập hình tượng Đức Mẹ Maria vào văn hóa Việt Nam qua cách bản địa hóa tên gọi, hình tượng trong văn học nghệ thuật, kiến trúc điện thờ, sự hiển linh và niềm tin về quyền năng, sự thờ kính của người dân ở các địa phương và các tộc người ở Việt Nam

Hai là, Đức Mẹ Maria là biểu tượng tinh thần của tín đồ Việt, trong suốt chiều dài truyền nhập Công giáo tại Việt Nam, đặc biệt trong những hoàn cảnh lịch

sử khó khăn nhất của Công giáo Việt Nam, thì Đức Mẹ Maria trở thành chỗ dựa tinh thần, là nơi tìm đến và là chỗ ẩn nấu của tín đồ Việt trước những nghịch cảnh của lịch sử xã hội…Nghiên cứu vấn đề này góp phần cung cấp thêm một khía cạnh

về tâm lý học tôn giáo, cụ thể là Công giáo Việt Nam, biểu hiện qua sự mến mộ, yêu kính có phần cuồng nhiệt của tín đồ Việt dành cho Đức Mẹ Maria đặc biệt là thông qua các thực hành nghi lễ tôn thờ Đức Maria

3.2 Phạm vi thời gian nghiên cứu:

- Thời gian đối tượng được nghiên cứu: Nghiên cứu đối tượng qua các tư liệu thứ

cấp, tư liệu hồi cố và tư liệu thực địa thu thập qua các địa bàn nghiên cứu cụ thể…

- Thời gian tập trung điền dã: Từ tháng 6/2017 đến tháng 1/2021

3.3 Phạm vi địa bàn nghiên cứu:

Đề tài lựa chọn năm điểm nghiên cứu chính thuộc 3 khu vực miền Bắc, miền Trung, miền Nam là:

- Giáo xứ Vỉ Nhuế (trọng tâm là Giáo dân tại làng Vỉ Nhuế) - thôn Nấp, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

- Giáo xứ Quy Chính (trọng tâm là Giáo dân tại làng Quy Chính) - thuộc xã Vân Diên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An)

- Giáo xứ Đức Mẹ Hằng cứu Giúp - Số 38 Đường Kỳ Đồng, phường 9, quận

Trang 10

Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát tại một số địa điểm khác như: Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tại Giáo xứ Thái Hà, địa chỉ: 180/2 Đường Nguyễn Lương Bằng, quận Đống Đa Tp Hà Nội; Vương cung thánh đường Phú Nhai, địa chỉ: Làng Phú Nhai, xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; Trung tâm hành hương Fattima Bình Triệu (Giáo xứ Bình Triệu), địa chỉ: Số 52 đường số 5, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh; Giáo xứ Hòa Nam - Địa chỉ:

Xã Ea nuôi, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk; Trung tâm Thánh Mẫu Tà Pao, địa chỉ:

Xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; Núi Đức Mẹ tại Giáo xứ của Giáo dân Khme Trung Bình, địa chỉ: Ấp Chợ, xã Trung Bình, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng …

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài, luận án tiếp cận phương pháp nghiên cứu chuyên ngành văn hóa dân gian và phương pháp nghiên cứu liên ngành trong nghiên cứu Khoa học xã hội Cụ thể trong đề tài này là vận dụng nghiên cứu liên ngành Dân tộc học, Xã hội học, Văn hóa dân gian, Tôn giáo học để lý giải, phân tích các biểu hiện của việc bản địa hóa Đức Mẹ Maria thông qua điện thờ, các nghi thức nghi lễ thờ kính Đức Mẹ Maria…

Trong luận án này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua các phương pháp cụ thể sau:

4.1 Phương pháp điền dã dân tộc học

Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu văn hóa dân gian Với phương pháp này chúng tôi có thể tận mắt thấy, tai nghe và xem mình như người trong cuộc (insider) để có thể tham dự và quan sát các hiện tượng văn hóa diễn ra quanh mình Cụ thể, chúng tôi đã trực tiếp tham gia vào hoạt động dâng hoa Đức Mẹ tại Giáo xứ Quy Chính, tham gia rước kiệu Đức Mẹ tại Giáo xứ Vỉ Nhuế, tham gia giờ cầu nguyện Đức Mẹ tại Vương cung thánh đường Đức Mẹ La Vang - Quảng trị … Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ xử lý và sắp xếp thông tin theo các lớp ý nghĩa từ người cung cấp thông tin liên quan đến nội dung của luận án Với phương pháp này, tại thực địa chúng tôi sẽ sử dụng các thao tác sau:

Trang 11

- Quan sát tham dự, mô tả: Tham dự, quay phim, chụp ảnh các hoạt động

nghi thức nghi lễ thờ kính Đức Mẹ Maria tại gia đình của tín đồ, tại Nhà Thờ, tại đền thờ Đức Mẹ, quan sát các bàn thờ Đức Mẹ tại gia đình tín đồ, trong nhà thờ và tại các đền thờ Đức Mẹ ngoài nhà thờ… Từ đó có thể phân tích và mô tả kỹ các hành động, hành vi thực hành nghi lễ thờ kính Đức Mẹ Maria và bối cảnh mà các hiện tượng văn hóa đó diễn ra

Trong các năm qua chúng tôi đã tiến hành các đợt điền dã sưu tầm tư liệu tại địa điểm nghiên cứu sau: Tại Giáo xứ Quy Chính - Nghệ An 8 đợt điền dã, có những đợt ở tại đây hơn 40 ngày (vì đây là quê hương của tôi), tại Giáo xứ Đức Mẹ Hằng cứu giúp có 5 đợt điền dã, Giáo xứ Vỉ Nhuế 1 đợt, Giáo xứ La Vang - Quảng Trị 1 đợt, Giáo xứ Khmer 1 đợt, một số Giáo xứ ở Đăk lak 2 đợt…Ngoài ra trong quá trình thực hiện luận án chúng tôi không ngừng tương tác với nhiều cá nhân tại các điểm khảo sát để cập nhập thêm các tư liệu mới Trong thời gian này chúng tôi

đã được tham gia các hoạt động thờ kính Đức Mẹ như: Dâng hoa, dâng hương Đức

Mẹ, tham gia sinh hoạt hội đoàn Đức Mẹ Mân Côi, tham gia đêm nhạc hát về Đức

Mẹ, tham gia hoạt động rước kiệu Đức Mẹ quanh làng Quy Chính, quanh nhà thờ

Vỉ Nhuế… Tham dự buổi lễ cùng với hội những người được ơn Đức Mẹ tại Đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp Thái Hà - Hà Nội; tham dự một buổi lễ hành hương tại Vương cung thánh đường Đức Mẹ La Vang - Quảng Trị… Các địa điểm khác số lần điền dã trung bình từ 1- 3 lần, trong mỗi đợt điền dã chúng tôi thường nghỉ tại nhà Giáo dân, tại nhà khách Giáo xứ …

- Phương pháp phỏng vấn sâu, hồi cố: Chúng tôi tập trung vào hai nhóm đối

tượng chính gồm:

Nhóm thứ nhất là các vị cao niên trên 60 tuổi: Tại Giáo xứ Quy Chính, Giáo

xứ Vỉ Nhuế, Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp… Đề tài đã tiến hành phỏng vấn hồi

cố, phỏng vấn sâu được trung bình mỗi nơi từ 5 đến 10 cụ…

Nhóm thứ hai là các vị chức sắc trong Giáo xứ gồm: Linh mục quản xứ, hội đồng ban hành giáo, trưởng phó các hội đoàn, đặc biệt là các hội đoàn Đức Mẹ

Trang 12

Tại 5 giáo xứ (Quy Chính, Vỉ nhuế, La Vang, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Khmer Trung Bình) đã tiến hành phỏng vấn được tổng cộng: Linh mục 13 người, hội đồng ban hành giáo 15 người, trưởng phó các hội đoàn và hội đoàn Đức Mẹ 18 người

Với thao tác nghiên cứu này chúng tôi sẽ có điều kiện đi sâu tìm hiểu về quá trình du nhập Đức Mẹ Maria tại nơi khảo sát, vai trò của Đức Mẹ Maria trong cuộc sống của họ và gia đình họ, các nghi thức nghi lễ thờ kính Đức Mẹ Maria xưa và nay, các yếu tố văn hóa dân gian tại địa phương được đưa vào sử dụng trong hoạt động thờ kính Đức Mẹ, các công trình tượng đài, đền thờ Đức Mẹ Maria được xây dựng như thế nào và ý nghĩa của các công trình đó … Từ đó làm cơ sở phân tích, đánh giá, tổng hợp và diễn giải các vấn đề đặt ra cho nhiệm vụ của luận án

4.2 Phương pháp xử lí văn bản, thông tin

Sau quá trình thu thập tài liệu, chúng tôi đọc và xử lí các văn bản và tài liệu liên quan đến luận án; xử lí các thông tin sau quá trình khảo sát thực tế thông qua các ghi chép phỏng vấn, mô tả, hồi cố, tài liệu phim ảnh Từ đó phân tích, đánh giá, rút ra các luận điểm trọng tâm của luận án

4.3 Bên cạnh những phương pháp nghiên cứu trên, chúng tôi còn sử dụng các

phương pháp khác như phân tích hệ thống; tổng hợp; so sánh đồng đại và lịch đại giữa các nguồn tư liệu, giữa các điểm nghiên cứu với nhau

5 Đóng góp của luận án

5.1 Về mặt khoa học

- Luận án cung cấp các tư liệu tin cậy về những biểu hiện của việc bản địa hóa Đức Mẹ Maria tại một số địa bàn cụ thể ở Việt Nam, …Từ đó đóng góp cho việc nghiên cứu về sự phong phú, đa dạng của hiện tượng bản địa hóa hình tượng Đức Mẹ Maria ở Việt Nam

- Thông qua nghiên cứu trường hợp bản địa hóa Đức Mẹ Maria, luận án đóng góp cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về sự hội nhập của đạo Công giáo nói chung, của Đức Mẹ Maria nói riêng vào văn hóa truyền thống Việt Nam

Trang 13

5.2 Về mặt thực tiễn

- Nhận diện các xu hướng bản địa hóa và những biểu hiện của bản địa hóa, tác động của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh trong đời sống của tín đồ Công giáo tại Việt Nam

- Luận án sẽ là tài liệu tham khảo cần thiết để các nhà quản lý văn hóa, các nhà hoạch định chính sách đề xuất các kiến nghị và giải pháp trong quản lý các hoạt động tôn giáo tại Việt Nam đặc biệt là đạo Công giáo

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án gồm 04 chương, kết cấu như sau:

Chương 1: Tổng tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu

Chương 2: Đạo Công giáo, Đức Maria và quá trình du nhập vào Việt Nam Chương 3: Những biểu hiện của bản địa hóa hình tượng Đức Mẹ Maria trong cộng đồng người Công Giáo ở Việt Nam

Chương 4: Bản địa hóa Đức Mẹ Maria trong cộng đồng người Công giáo tại Việt Nam: Một số vấn đề bàn luận

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN

VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu về bản địa hóa các tôn giáo tại Việt Nam

- Về bản địa hóa Phật giáo

Phật giáo là một trong những tôn giáo có vị thế và sức ảnh hưởng lớn tại Việt Nam, Phật giáo ghi dấu ấn mạnh mẽ trong văn hóa Việt, góp phần tạo nên diện mạo của văn hóa Việt Nam, điều này đã được khẳng định trong các nghiên cứu về Phật giáo và văn hóa Việt Nam:

Một trong những cuốn sách tiêu biểu viết về Phật giáo Việt Nam là cuốn Việt

Nam Phật giáo lược sử của tác giả Thích Mật Thể gồm 10 chương Trong đó tác giả

cho ta thấy cái nhìn tổng thể về Phật giáo Việt Nam từ những ngày đầu được truyền vào Việt Nam và đặc biệt là quá trình hòa mình trong văn hóa Việt, qua từng giai đoạn, Phật giáo đã ghi dấu ấn mạnh mẽ trong văn hóa Việt, mang tinh thần người Việt Nam [66, tr 502]

Ngoài ra có thể kể đến cuốn Lịch sử Phật giáo Việt Nam của tác giả Lê Mạnh

Thát gồm trọn bộ 3 cuốn và 12 chương, trình bày quá trình du nhập Phật giáo Việt Nam và sự đồng hành cùng dòng chảy lịch sử văn hóa của dân tộc Việt Nam [65]

Tác giả Nguyễn Duy Hinh trong cuốn Lịch sử đạo Phật Việt Nam cho rằng:

“Phật giáo Việt Nam là Phật Giáo dân gian mang nặng lòng Mẹ, lòng từ Từ Bi của truyền thống dân tộc, đã thấm sâu vào văn hóa nghệ thuật tâm tư tình cảm người Việt, đã Việt hóa Không nên coi Phật giáo Việt Nam là Phật giáo Ấn Độ hay Trung Hoa dù đều có chịu ảnh hưởng của các tông phái đó ” [43, tr 51)

Trong cuốn Sự kiện tôn giáo, tác giả Đỗ Quang Hưng cho rằng: “Phật giáo

Việt Nam không những gắn bó với dân tộc mà còn là một yếu tố quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc” [40, tr.169], đồng thời khẳng định Phật giáo đóng vai trò rất quan trọng trong văn hóa Việt Nam, trong quá trình hội nhập và phát triển cùng xã hội Việt Nam Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, hòa nhập sâu rộng vào nhiều lĩnh vực của xã hội Việt Nam, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa [37, tr 170] Ngoài ra, tác

Trang 15

giả còn đưa ra khái niệm “nhập thế chính trị” của Phật giáo và xem đây là cách Phật giáo hòa nhập và tạo nên vị thế trong xã hội Việt Nam, cùng với quá trình này là sự thay đổi để phù hợp với văn hóa xã hội Việt nam, tạo nên những dấu ấn sâu sắc của Phật giáo Việt Nam [39, tr 138-154]

Trong cuốn Phật giáo Hòa Hảo một tôn giáo cận nhân tình trong lòng dân tộc

do Trần Văn Chánh – Bùi Thanh Hải (chủ biên), các tác giả cho rằng: “Phật giáo Hòa Hảo không chỉ là một tôn giáo ra đời để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của người dân miền Tây Nam bộ Phật giáo Hòa Hảo là sự dung hợp các giá trị truyền thống của dân tộc với các tôn giáo trong tính cách của đại đa số quần chúng nông dân miền Tây Nam

bộ, giá trị lớn nhất của Phật giáo Hòa Hảo là tính dung hợp các giá trị, là sự kế thừa và phát huy các giáo trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc” [10, tr 42]

Đi vào cụ thể, sự ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam trong quá trình truyền nhập Phật giáo tại Việt Nam còn được nhìn nhận thông qua tín ngưỡng thờ Mẫu, sự xuất hiện Mẫu trên điện thờ Phật và trong các ngôi chùa tại Việt Nam là minh chứng rõ ràng cho điều này

Trong kho tàng văn học dân gian, sự bản địa hóa Phật giáo Ấn Độ vào tín ngưỡng bản địa Việt Nam được thể hiện khá sớm qua truyền thuyết “Man nương” ở chùa Dâu (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) Theo đó, tục thờ các vị Phật Tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) có thể xem như là kết quả của sự kết hợp giữa người cha tinh thần là nhà sư (Phật giáo) đến từ Ấn Độ với người mẹ bản địa (Man Nương) thuộc tín ngưỡng thờ cây, thờ đá, vì vậy mà trong dân gian Man Nương được tôn là Phật Mẫu (mẹ của các vị Tứ pháp) [74]

Trong cuốn Đạo Mẫu Việt Nam tác giả Ngô Đức Thịnh đã dành phần 3 trong

chương 2 để nói về Đạo Mẫu trong hệ thống tôn giáo tín ngưỡng tại Việt Nam Khi viết về quá trình du nhập và hòa nhập của Phật giáo tại Việt Nam tác giả cho rằng:

“Trong quá trình đạo Phật du nhập vào nước ta khoảng đầu Công nguyên và một bộ phận quan trọng của nó đã phát triển theo khuynh hướng dân gian hóa Trong sự hình thành phái Mật Tông ở nước ta, có sự ảnh hưởng nhất định của sự giao thoa Phật – Mẫu, điều dễ nhận biết là ở hầu hết các ngôi chùa hiện nay ở Bắc Bộ và bắc

Trang 16

Trung Bộ đều có điện thờ Mẫu Trong đó phổ biến nhất là dạng “tiền Phật hậu Mẫu” (phía trước thờ Phật, phía sau thờ Mẫu) “ [74, tr.63]

Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam, khi bàn về vấn đề giao lưu tiếp biến văn

hóa Việt với văn hóa Ấn Độ về phương diện Phật giáo, tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng: Phật giáo vào Việt Nam đã có sự tiếp xúc với các tín ngưỡng truyền thống và văn hóa Việt … Phật giáo Việt Nam là khuynh hướng thiên về nữ, là một bộ phận của văn hóa nông nghiệp Đức Phật được đồng nhất với các vị thần truyền thống của cư dân nông nghiệp Việt Nam …[67, tr 253]

Cũng tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam đã đưa ra

nhận định: “Khi vào Việt Nam Phật giáo đã được tiếp xúc ngay với tín ngưỡng truyền thống của dân tộc ta và đã được tổng hợp chặt chẽ ngay với chúng Mang đặc trưng của văn hóa nông nghiệp là khuynh hướng thiên về nữ vì thế người Việt

đã tạo ra các Phật Bà riêng của mình, người Việt vốn linh hoạt nên trong cách thực hành Phật giáo đã linh hoạt biến đổi để Phật giáo trở thành tôn giáo của người Việt ”[67, tr.248 -255]

- Về bản địa hóa Đạo giáo

Trong cuốn Đạo gia và văn hóa tác giả Trần Nghĩa cho rằng: “ …nhờ dung

hợp được với tín ngưỡng tập quán bản địa mà Đạo giáo ngày càng được hoan nghênh và phát triển tại Việt Nam Ngay từ thời Lý Trần đã xuất hiện những Đạo sĩ lừng danh như: Thông Huyền, Hoàn Nguyên, Huyền Vân Tìm hiểu kỹ ta thấy hai phái Đạo gia “Phủ lục” và “Đan đỉnh” đều tìm được đất sống tại Việt Nam Phái Phù lục nghiêng về bùa chú gọi là “ Đạo giáo phù thủy” đã đi sâu vào dân gian theo hướng dùng phép thuật, niệm chú, cầu cơ, vẽ bùa Phái Đan đỉnh thì nghiêng về tu luyện đan, gọi là “Đạo gia thần tiền”, với các Đạo sĩ, Đạo cô sẵn sàng rời gia đình

để rong du cõi ngoại ” [7, tr 251- 252] Như vậy Đạo giáo khi du nhập vào Việt nam đã chịu ảnh hưởng của văn hóa dân gian truyền thống Việt Nam và biển đổi để phù hợp tại Việt Nam, nhờ đó Đạo giáo phát triển và có sự ảnh hưởng nhất định trong văn hóa Việt

Tác giả Tôn Diệc Bình trong bài viết “Bàn về sự truyền bá và giao thoa Đạo giáo ở Đông Nam Á” (lấy Đạo giáo Nam truyền vào Việt Nam làm ví dụ) đăng trên

Trang 17

tạp chí Tôn giáo số 5 (185) năm 2019 cho rằng: “Xét về thời gian, ngay từ khi mới

ra đời, Đạo giáo đã truyền vào Việt Nam, nguồn mạch vẫn lưu truyền trong sự tiếp biến văn hóa cho đến tận ngày nay Việc tín ngưỡng thần linh Đạo giáo mang những đặc điểm sâu đậm của văn hóa Trung Hoa không ngừng bị Việt Nam hóa trong quá trình truyền bá vào xã hội dân gian Việt Nam, thể hiện ở các đặc điểm sau: Thứ nhất: Tín ngưỡng thờ thần là biểu tượng tượng trưng chủ yếu của sự truyền bá Đạo giáo ở Việt Nam, tính thực dụng rất cao đáp ứng nhu cầu tinh thần, cầu phúc trừ tai của mọi người, tính hỗn tạp về mặt tín ngưỡng để đáp ứng các loại nhu cầu tinh thần trong cuộc sống trước mắt của người Việt Nam; Thứ hai: Đạo giáo thường đồng hành với Phật giáo, thần linh của Đạo giáo thường xuất hiện trên bàn thờ trong chùa Thứ ba: Thần linh đạo giáo pha trộn với tín ngưỡng dân gian Việt Nam, trong Đạo giáo xuất hiện các vị thần trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, như một số đạo quán thờ: Hưng Đạo Vương, thần núi Tản Viên, công chúa Liễu Hạnh ”.[7] Như vậy Đạo giáo khi truyền vào Việt Nam đã có sự giao thoa và chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian Việt Nam, mang nhiều dấu ấn của văn hóa truyền thống Việt Nam cùng với Nho giáo và Phật giáo tạo nên ba tôn giáo Nho – Phật – Đạo ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hóa của Việt Nam

Tương tự, tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt nam cho

rằng: “Trong khi Nho giáo chưa tìm được chỗ đứng ở Việt Nam thì Đạo giáo đã tìm thấy ngay những tín ngưỡng tương đồng sẵn có từ lâu… Vì vậy dễ hiểu là tại sao Đạo giáo, trước hết là Đạo giáo phù thủy, đã thâm nhập nhanh chóng và hòa quyện

dễ dàng với tín ngưỡng ma thuật cổ truyền tới mức không còn ranh giới” [67] Nhận định này giúp chúng ta hình dung được phần nào sức sống và vị thế của Đạo giáo trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng người Việt, đồng thời lý giải được về sự hài hòa của truyền thống “Tam giáo đồng nguyên” đã thực sự thấm sâu vào đời sống của mỗi người dân Việt Nam

- Về bản địa hóa Nho giáo

Nho giáo, còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng là một hệ thống đạo đức, triết lý

và học thuyết chính trị do Đức Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị Nho giáo vào Việt Nam từ thế kỷ I

Trang 18

(TCN), ngay từ khi du nhập vào Viêt Nam một mặt Nho giáo là công cụ thống trị của chính quyền đô hộ, một mặt sự truyền bá Nho giáo cùng với việc phổ biến chữ Hán đã đưa tới cho Việt Nam kho tàng tri thức về tự nhiên và xã hội

Khi viết về quá trình thâm nhập, phát triển và những đặc điểm của Nho giáo tại Việt Nam, tác giả Trần Ngọc Thêm nhận định: “Hán Nho đã được các quan lại Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp ra sức truyền bá từ đầu Công nguyên Tuy nhiên, vì đây là thứ văn hóa của kẻ xâm lược áp đặt, cho nên suốt giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam Đến năm 1070, với sự kiện Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử, mới có thể xem là Nho giáo được tiếp nhận chính thức Chính vì vậy Nho giáo Việt Nam chủ yếu là Tống Nho chứ không phải Hán Nho, Đường Nho hay Minh Nho, Thanh Nho…” [67, tr 164-265] Từ đây tác giả cho rằng: “Nét độc đáo của văn hóa Việt Nam là khi tiếp thu cái ngoại lai, nó tiếp nhận từng yếu tố riêng lẻ và Việt Nam hóa để rồi cấu tạo lại theo cách của mình Nho giáo Việt Nam là một hệ thống như thế” [67, tr 266]

Nghiên cứu về Nho giáo gần đây nhất phải kể đến công trình Trách nhiệm xã

hội của Nho giáo trong lịch sử Việt Nam và Hàn Quốc của các tác giả Phạm Văn

Đức, Hwang Eui Dong, Kim Sea Jeong (đồng chủ biên) [15] Đây là công trình tiêu

biểu nghiên cứu về khía cạnh giao thoa văn hóa và sự ảnh hưởng của tôn giáo này đối với xã hội Việt Nam cũng như Hàn Quốc Điều thú vị là công trình này có sự so sánh giữa Nho giáo ở Việt Nam với Nho giáo ở Hàn Quốc Các tác giả cho rằng:

“Nho giáo ở Việt Nam có sự giao thoa với văn hóa truyền thống Việt Nam, chịu ảnh hưởng văn hóa Việt Việt Nam và Hàn Quốc đều nằm trong vùng tiếp xúc với văn hóa Hán, đều chịu ảnh hưởng lâu dài của Nho giáo trong lịch sử Nho giáo không chỉ có vai trò trong quá khứ của Việt Nam và Hàn Quốc, mà hiện nay, nó còn có nhiều ảnh hưởng tới các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực đạo đức, đời sống tinh thần, phong tục tập quán, lối sống, nếp nghĩ của người dân hai nước Làm rõ những mặt tích cực của Nho giáo để phát huy cũng như tìm ra những hạn chế của nó để khắc phục là một yêu cầu đối với các nhà khoa học trong việc tìm ra lời giải đáp cho các vấn đề bức thiết của xã hội hiện nay.” [15]

Trang 19

Như vậy có thể coi bản địa hóa tôn giáo du nhập là một nét văn hóa đã có từ lâu đời ở Việt Nam, điều đó cũng được thể hiện trong việc tiếp nhận đạo Công giáo

và Đức Maria trong đạo Công giáo tại Việt Nam

1.1.2 Nghiên cứu về bản địa hóa Công giáo

- Về bản địa hóa Công giáo trên thế giới

+ Bản địa hóa Công giáo tại một số nước Âu Mỹ

Khi bàn về quá trình hội nhập văn hóa Kitô giáo với các nền văn hóa trên thế

giới đặc biệt tại Âu châu tác giả Nguyễn Hồng Dương trong cuốn Công giáo trong

văn hóa Việt Nam đã viết: “Để thích ứng với người Âu châu các giáo phụ đã không

từ Do Thái như ELSHADDAI hay YAHVÉH… để chỉ Thiên Chúa mà dùng từ THEOS hay DEUS hay DIEU vốn là từ chỉ các vị thần của người Âu châu (Zeus, Jupiter, Hercule…) Các từ này vốn không có nghĩa là Thiên Chúa như chúng ta hiểu hiện nay Đây là sự thích ứng và hội nhập… ngày 25 tháng 12 là ngày người

Âu châu thờ thần mặt trời, người Kitô giáo chọn ngày này là ngày sinh nhật Chúa Giêsu Khi mọi người ăn mừng thần mặt trời thì người Kitô hữu ăn mừng Chúa ra đời…” [20, tr 77] Như vậy có thể thấy được con đường hội nhập ở đây chính là hội nhập với văn hóa bản địa, chấp nhận văn hóa bản địa để thích ứng và tồn tại

Trong cuốn Thích ứng và hội nhập văn hóa trong truyền giáo, tác giả

Nguyễn Chính Kiết cho rằng: “Y phục mà hàng giáo phẩm mặc trong phụng vụ là y phục mô phỏng của người Rô ma Ki tô giáo đã bỏ bộ áo văn hóa Do Thái để mặc

bộ áo văn hóa Âu châu ” [44] Dù giáo luật của Công giáo khá khắt khe nhưng khi hòa nhập vào các nền văn hóa khác, bị các nền văn hóa này bản địa hóa để trở nên gần gũi với văn hóa dân tộc nơi Công giáo truyền vào

Tại Brazil, trong cuốn Lịch sử Giáo hội Công giáo tập 3, tác giả Nguyễn Duy

Trinh khi nói về hành trình truyền giáo và hội nhập Công giáo tại Brazil có viết: “Sau khi Carôlô phát hiện ra xứ này, các thừa sai dòng Phan sinh bắt đầu tin mừng hóa Hôn nhân giữa Kitô hữu da trắng và thiếu nữ bản xứ đã thực hiện việc lai giống…” [80, tr 329] Việc thực hiện những nghi thức nghi lễ trong Giáo hội Công giáo để hội nhập văn hóa cũng là một cách để bản địa hóa Công giáo tại đây Trong thời bối cảnh xã hội còn nặng nề về phân biệt màu da, sắc tộc… thì việc cổ vũ và cho phép hôn nhân của

Trang 20

người da trắng và phụ nữ bản địa da màu tại Brazil là một bước tiến lớn, đồng thời tạo điều kiện cho Công giáo hội nhập vào văn hóa bản địa tại đây

+ Bản địa hóa Công giáo ở một số nước châu Á

Với các nước châu Á, tình hình truyền đạo Công giáo cũng tương tự Trung Quốc là một đất nước có bề dày về lịch sử và nền văn hóa độc đáo được hình thành

từ hàng ngàn năm, văn hóa Trung Quốc có ảnh hưởng rộng khắp trên thế giới, vì vậy Công giáo bước đầu truyền vào Trung Quốc cũng gặp rất nhiều khó khăn Một trong những nhà truyền giáo nổi bật tại Trung Quốc là Matteo Ricci một linh mục dòng tên, đến Trung Quốc truyền đạo năm 1582 tại Áo Môn Năm 1583 ông đến Trùng Khánh và được gọi là Tây Tăng Năm 1589 ông đến Triều Châu truyền giáo,

ông mặc quần áo theo kiểu nhà Nho tự xưng là Tây Nho Trong cuốn Thiên Chúa

thực nghĩa ông cho rằng: “Những văn bản nguyên thủy của Nho giáo chưa bị ảnh

hưởng của Phật giáo có những ý niệm về trời, thượng đế và cuộc sống sau chết rất gần gũi với ý niệm Thiên Chúa và đời sau của Ki Tô giáo” [102, tr 89] Như vậy, đến truyền đạo tại Trung Quốc một đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời và là nơi sản sinh ra những hệ tư tưởng lớn và chịu ảnh hưởng của những tôn giáo bản địa như Nho giáo, Đạo giáo Ricci đã tìm ra một con đường để hội nhập với văn hóa Trung Quốc là Nho giáo

Khi viết về quá trình truyền giáo và hội nhập Công giáo tại Trung Quốc, tác

giả Nguyễn Duy Trinh trong cuốn Lịch sử Giáo hội Công giáo tập 3 cho biết: “

Cha Rici ở lại làm việc tại Nam Kinh và Bắc Kinh Cha phân biệt rõ ràng Tam giáo

ở Trung Quốc và tri thức đều theo Khổng giáo Cha vạch ra những điểm tương đồng giữa Kitô giáo và Khổng giáo, chế ra những từ mà tiếng Trung Quốc không có như

” Thiên Chúa”, sát nhập các nghi lễ Trung Quốc vào nghi lễ Công giáo Những dụng cụ Cha mang theo như đồng hồ, lăng kính, la bàn, làm họ say mê, nhất là tấm bản đồ thế giới, Cha vẽ lại bản đồ thế giới, với Trung Quốc chính giữa, dâng lên Hoàng đế, khiến người rất hài lòng, ban cho cha tự do rao giảng khắp nơi ” [80, tr 339] Như vậy với tư tưởng tiến bộ cùng với sự linh hoạt và khôn khéo trong cách hội nhập văn hóa Trung Quốc, nhà truyền giáo Rici đã tạo tiền đề thuận lợi để Công

Trang 21

giáo hội nhập tại đất nước vốn có truyền thống lâu đời bởi các hệ tư tưởng tam giáo cộng với nền văn hóa có nhiều điểm khác biệt với niềm tin Công giáo

Tại Ấn Độ , trong cuốn Cuộc lữ hành đức tin, tác giả Đào Trung Hiệu cho

biết: “Thừa sai Robert De Nobili (1577 – 1656) một thừa sai dòng tên đến Ấn Độ truyền giáo năm 1605, ông đã học tiếng Tamul và tiếng Phạn, ông mặc trang phục như một Sa Môn theo mẫu các nhà tu hành Ấn giáo, ông hòa mình vào lối sống của tín đồ Bà la môn để giảng đạo cho họ, ông cho các tân tòng được giữ thói tục xã hội của giai cấp như búi tóc Kudumi, dây quàng, trong nghi thức rửa tội ông bỏ bớt

những gì người Ấn Độ không thích như thổi hơi, nước miếng ” [42]

Tác giả Nguyễn Văn Trinh trong cuốn Lịch sử Giáo hội Công giáo tập 3

cũng nêu câu chuyện truyền giáo của linh mục Nobili và đặc biệt là cách ngài thích ứng với văn hóa Ấn Độ để truyền đạo, tại đất nước có sự phân chia giai cấp gắt gao như ở Ấn Độ và những giai cấp trên của xã hội thường được kính trọng vì vậy ngài

đã biến mình thành giai cấp thượng lưu để dễ truyền đạo Tác giả viết: “ Cha đã

ăn mặc và sống hệt như một thượng lưu Ấn Độ, Cha nghiên cứu Ấn Độ, học tiếng Tamoul (tiếng Ấn bình dân) và tiếng Phạn Đọc kinh Veda, Cha thấy nói có bốn con đường tới chân lý và cứu độ Vì sự gian ác của loài người, con đường thứ 4 chắc chắn nhất, bị thất truyền: Đường ấy chính là Kitô giáo ” [80, tr 340] Nhà truyền giáo Nobili đã hòa mình vào văn hóa Ấn Độ, linh hoạt tìm ra những điểm chung trong tín ngưỡng truyền thống Ấn Độ và giáo lý Công giáo, từ đó vận dụng cho việc truyền giáo và đạt nhiều hiệu quả cao

Như vậy sự bản địa hóa trên thế giới chính là sự hội nhập văn hóa, hòa mình vào văn hóa bản địa để thích ứng, tồn tại và phát triển Công giáo khi truyền vào các nước phải chịu sự tác động của văn hóa bản địa hoặc bị bản địa hóa trở thành một tôn giáo mang màu sắc văn hóa bản địa tại nơi được truyền giáo

- Về bản địa hóa Công giáo ở Việt Nam

Theo quy định, mọi tín đồ Công giáo đều có trách nhiệm trong công cuộc mở mang nước Chúa, nếu là tín đồ Công giáo dù ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới thì đều có bổn phận và trách nhiệm loan báo tin mừng, truyền đạo trên khắp thế giới, đây được coi là nét chung mang tính đặc thù của tôn giáo này Trên tinh thần đó

Trang 22

phải kể đến một tác giả và nhà truyền đạo nổi tiếng là Alexandre Rhodes với cuốn

Hành trình và truyền giáo Tác giả là một nhân vật có ảnh hưởng rất lớn với đạo

Công giáo Việt Nam nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng Dưới góc độ giao

thoa văn hóa, có thể coi Hành trình và truyền giáo là một trong những tài liệu đầu

tiên có cái nhìn đa chiều, khái quát về đạo Công giáo Việt Nam, từ quá trình du nhập và hội nhập, đặc biệt, ông dành nhiều trang để miêu tả về văn hóa của cư dân Việt ngày xưa, với những phong tục tập quán, lối sống được ông đánh giá là bình dị nhưng độc đáo của những con người mộ đạo [1, tr.57]

Tác giả Đỗ Quang Chinh trong cuốn Tản mạn lịch sử Giáo hội Việt Nam đã

dành khá nhiều nội dung viết về sự hội nhâp Công giáo tại Việt Nam Vì cuốn sách với tựa đề “Tản mạn ” nên tác giả không chia nội dung thành từng chương hay từng phần mà thành từng mục theo từng nội dung khác nhau, cụ thể là gồm 14 nội dung nhưng hầu hết đều viết về Công giáo tại Việt Nam theo hướng hội nhập văn hóa Việt, trong đó tiêu biểu là mục 4,5,10 Tại mục 4: “Nhìn lại Giáo hội hòa mình trong xã hội Việt Nam”, tác giả miêu tả rất cụ thể những cách hòa mình trong văn hóa Việt từ cảnh vật đến xã hội Việt Nam, cách các nhà truyền giáo tại Việt Nam làm quen với cây ăn trái trên đất Việt Theo phân tích và diễn giải của tác giả thì có thể thấy sự hội nhập là từ những việc rất đời thường trong cuộc sống, từ thói quen

ăn uống đến thói quen về màu sắc Cụ thể ở đây là màu đỏ Nếu người Tây phương nhìn màu đỏ tượng trưng cho máu, là màu chết chóc thì người Việt Nam lại cho là màu hạnh phúc, may mắn Nhà thờ đã hội nhập màu đỏ truyền thống của người Việt trong trang trí nhà thờ, trong sinh hoạt của tín đồ Về phương hướng và cả những hoạt động như bái lạy, theo tín lý Công giáo, tín đồ chỉ bái lạy trước Thiên Chúa nhưng khi vào chầu chúa Trịnh, chúa Nguyễn các nhà truyền giáo vẫn bái lạy như mọi người, v.v Tác giả cũng dành mục thứ 5 với tiêu đề “Giáo hội Công giáo hòa nhập với văn hóa gia đình Việt Nam” cho biết, thời kỳ đầu tiên truyền giáo ở Việt Nam, các Thừa sai đã chú trọng rất nhiều nếp sống văn hóa gia đình Việt Nam, cụ thể là lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ Khi giải thích về điều răn thứ bốn cho các tân tòng, cha Đắc Lộ (Alexandro de Rhodes) đã dạy: “ Ấy vậy mà lời răn thứ bốn trong kinh Đức Chúa Trời thì dạy ta thảo kính cha mẹ cho nên lại sự

Trang 23

thảo kính thì hằng có bốn phần, là yêu mến, kính bái, chịu lụy, giúp cho cha mẹ mọi sự ” [12, tr 115]

Tác giả Nguyễn Thanh Xuân trong cuốn Một số tôn giáo ở Việt Nam đã dành

một phần để nói về đạo Công giáo tại Việt Nam, trong đó khi nói về quá trình truyền giáo và hội nhập Công giáo trong văn hóa Việt tác giả viết: “ Những giáo

sĩ dòng Tên tỏ ra thông thạo tiếng Việt, đặc biệt với việc Alexandre de Rhodes cùng một số dùng ký tự La – tinh đặt hệ chữ viết mới (sau này gọi là chữ Quốc ngữ) đã

hỗ trợ rất quan trọng cho việc truyền đạo ” [94, tr 205]

Tóm lại qua tài liệu này, tác giả cho thấy Công giáo hội nhập vào văn hóa Việt Nam từ phong tục tập quán, các thói quen truyền thống của người Việt, những nghi thức nghi lễ truyền thống đến những thói quen trong cuộc sống, quan niệm về gia đình, đặc biệt là truyền thống hiếu kính tổ tiên của người Việt

Bên cạnh đó còn có sách và tài liệu viết về đạo Công giáo Việt Nam dưới góc độ hội nhập phi quan phương (hội nhập của người Việt Nam), có thể kể thêm

như: Công đồng Vatican II Hiến chế, sắc lệnh và tuyên ngôn, Tủ sách Đại Kết [8], Trần Anh Dũng với Hàng giáo phẩm Công giáo Việt Nam 1960 – 1995, Đắc Lộ

trung thư, Paris [19] Đây là 2 tài liệu tiêu biểu hướng dẫn về những phương cách thực hành đời sống thế tục, cụ thể là hướng dẫn và những quy định về hội nhập văn hóa, xác định vai trò trần thế của các Ki tô hữu, vai trò quyền hạn của hàng giáo

phẩm vv Thư chung 1980 của hội đồng giám mục Việt Nam, mục số 5, có đoạn

viết: “Hơn mọi lúc, giờ đây người Công giáo phải hòa mình vào nhịp sống của toàn dân đi sâu vào lòng dân tộc vv ” [28] Đây chính là nhận thức của Công giáo Việt

Nam về sự gắn bó, đồng hành cùng dân tộc

Tiếp đến là những cuốn sách bàn về đạo Công giáo Việt Nam với góc nhìn

hòa nhập văn hóa có thể kể đến như: LM Nguyễn Hồng Giáo với Một chặng đường

giáo hội Việt Nam, Học viện Phanxico, lưu hành nội bộ [89], LM Tam Tỉnh với Thập giá và lưỡi gươm [62], LM Thiện Cẩm với Hội nhập văn hóa và toàn cầu hóa kinh tế dưới góc độ thần học [6]

Dưới góc độ về bản địa hóa Công giáo tại Việt Nam, tác giả Phạm Huy Thông trong bài viết: “Ảnh hưởng của văn hóa Việt với Công giáo Việt Nam” đăng

Trang 24

trên tạp chí Tôn giáo số 8 (122) /2013 cho rằng: “Văn hóa Việt Nam góp phần làm biến đổi Công giáo xa lạ thành một tôn giáo gần gũi với văn hóa dân tộc… Tinh thần canh tân của Công đồng Vatican II cùng với áp lực từ chính văn hóa Việt đã làm cho Giáo hội Công giáo Việt Nam cũng dần chấp nhận cho tín đồ của mình được làm các nghi lễ theo truyền thống dân tộc…Văn hóa dân tộc đã tạo ra một diện mạo mới, một bản sắc riêng cho Công giáo ở Việt Nam trên nhiều bình diện, từ kiến trúc, hội họa, thánh nhạc, đến nghi lễ phụng vụ…” Để chứng minh cho nhận định này tác giả cho rằng: “…Ngay cả trong các kiến trúc phỏng theo phương Tây như Nhà thờ Đức Bà (Tp Hồ Chí Minh), hay Nhà thờ Phú Nhai (Nam Định), Nhà thờ lớn Hà Nội… người ta vẫn nhận ra bản sắc văn hóa dân tộc qua bàn tay khéo léo của người thợ Việt Nam Rất nhiều Nhà thờ có kiến trúc phụ là núi đá nhân tạo,

hồ ao, cây xanh, như một vũ trụ thu nhỏ theo quan niệm “Thiên – Địa – nhất thể” của người phương Đông, các bức chạm khắc quanh Nhà thờ cũng đủ cả đào, cúc, trúc, mai, long, li, quy, phụng [71] Qua bài viết cho thấy tác giả nhận định và bàn luận về sức mạnh văn hóa dân tộc như là yếu tố quan trọng góp phần bản địa hóa Công giáo, một tôn giáo ngoại sinh với tín lý và giáo luật khá nghiêm khắc

Trong cuốn Những nẻo đường phúc âm hóa Công giáo ở Việt Nam, một

trong những công trình nghiên cứu về quá trình truyền đạo và hội nhập vào văn hóa Việt của Công giáo Việt Nam khá công phu với hơn 600 trang, tác giả Nguyễn Hồng Dương nhấn mạnh đến vấn đề “Phúc âm hóa Công giáo ở Việt Nam” tập trung trình bày về quá trình truyền đạo và đồng hành cùng dân tộc qua các thời kỳ lịch sử của Công giáo Việt Nam và quá trình hình thành các tổ chức Công giáo như các làng đạo, các Giáo họ, Giáo xứ… tiêu biểu tại Việt Nam với nhận định: “Ngay

từ buổi đầu của công cuộc truyền giáo, phát triển Công giáo ở Việt Nam, Giáo hội

La Mã đã đặc biệt quan tâm đến những cốt lõi của công cuộc phúc âm hóa của người Công giáo ở Việt Nam” [22, tr 5] Theo tác giả thì quá trình phúc âm hóa nổi bật là vấn đề thờ cúng tổ tiên, một tín ngưỡng văn hóa truyền thống của người Việt

đã tham gia thờ cúng tổ tiên Ngoài ra, tác giả còn cho rằng, nghi lễ và lối sống Công giáo cũng hòa mình vào văn hóa Việt Nam như sử dụng các hình thức diễn xướng dân gian trong hoạt động nghi thức nghi lễ Công giáo như đọc kinh sách

Trang 25

sáng tạo theo phong cách người Việt ở các xứ đạo miền Bắc, miền Trung Múa hát dâng hoa - một hình thức diễn xướng của tín đồ Công giáo trong tháng hoa Đức Mẹ

- Tháng Năm mang âm hưởng của các làn điệu dân ca quan họ, hát xoan, hát đúm, hát văn, chèo, ví dặm… [22, tr 463, 474]

- Công trình viết về vấn đề Công giáo hội nhập với tục thờ cúng tổ tiên

Hiếu kính tổ tiên của người Công giáo là vấn đề đã được một số nhà nghiên

cứu và các tác giả quan tâm Linh mục Giuse Hoàng Kim Toan trong cuốn Đức

Maria trong văn hoá đạo Mẫu đã đề cập đến vấn đề hiếu kính tổ tiên của người

Công giáo, tác giả viết “…Giáo dân Công giáo dù theo tôn giáo nào, họ vẫn giữ những truyền thống văn hóa của họ, họ thờ kính ông bà tổ tiên theo cách của mình vừa không vi phạm giáo luật vừa giữ được truyền thống văn hóa tốt đẹp của ông cha

…” [59, tr 27]

Trong phần 2 cuốn sách Những nẻo đường phúc âm hóa Công giáo ở Việt

Nam tác giả Nguyễn Hồng Dương khi nói về sự hình thành và phát triển của làng

Công giáo đã viết: “… một số giáo sĩ ngoại quốc nhất là giáo sĩ dòng Tên sớm nhận

ra điều cốt lõi đó Họ mở ra cuộc tranh luận với giáo sĩ dòng Đa Minh xoay quanh vấn đề đạo và thờ kính tổ tiên với hy vọng có thể thuyết phục Giáo hoàng La Mã chấp nhận nghi thức nghi lễ này để dễ dàng truyền đạo” [22, tr 227] Như vậy ngay

từ đầu những giáo sĩ truyền đạo đã nhận thức được vai trò của tục thờ kính tổ tiên trong đời sống của người Việt nên họ đã tìm nhiều cách để linh hoạt chấp nhận truyền thống văn hóa này để hội nhập trong Công giáo Việt Nam Đặc biệt cũng trong cuốn sách này khi viết về vấn đề hội nhập công giáo trong văn hóa Việt Nam tác giả đã dành một phần riêng để bàn về vấn đề thờ kính tố tiên với tiêu đề: “Thờ cúng tổ tiên của người Công giáo qua các thời kỳ lịch sử…” [22, tr 462- 483] với nhận định cho rằng vấn đề hội nhập Công giáo với thờ cúng tổ tiên được diễn ra

theo hai con đường: Quan phương và phi quan phương Con đường quan phương

diễn ra từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX kéo theo sự quan tâm của hơn chục vị Giáo hoàng trên nhiều ngả với những cuộc tranh luận giữa các thừa sai thuộc các dòng khác nhau …Dựa trên tinh thần của Công đồng Vatiacan II, ngày 14/1/1974, các giám mục Việt Nam đã ra thông báo quy định cho người Công Giáo Việt Nam được

Trang 26

tổ chức và tham dự các nghi lễ tôn kính ông bà tổ tiên theo phong tục Việt Nam…

Với con đường phi quan phương thì vượt ra khỏi sự cấm đoán ngặt nghèo từ Giáo

hội, người dân Việt - tín đồ Công giáo - đã tham gia thờ cúng tổ tiên ở từng cấp độ, mức độ khác nhau như: Thờ cúng người có công mở đất, lập làng (khai canh, khai khẩn); Thờ cúng tổ nghề; Thờ cúng họ tộc, ông bà, cha mẹ, người thân mới qua đời với những biểu hiện cụ thể ở nhiều địa phương trên cả nước Chẳng hạn như ở nhiều xứ đạo thuộc vùng Bắc Bộ, nếu người qua đời là nam sẽ rung chuông (gõ chuông) ba hồi bảy tiếng: Theo quan niệm ba hồn bảy vía, nếu là nữ thì chín tiếng theo quan niệm ba hồn chín vía Người Công giáo cũng thực hiện thờ cúng người quá cố theo hình thức ba ngày đi thăm mộ cầu kinh, bốn chín ngày (lễ và đọc kinh cầu nguyện), một trăm ngày, tiểu tường (giỗ đầu), đại tường (giỗ hết) …” [22, tr 461- 465) Như vậy tác giả đã bàn luận khá sâu về vấn đề thờ kính tổ tiên trong sự hội nhập Công giáo trong văn hóa dân tộc Tựu trung lại cho thấy tầm quan trọng của truyền thống văn hóa này, buộc Công giáo khi vào Việt Nam phải chấp nhận và linh hoạt trong việc hội nhập văn hóa để thích ứng và phát triển tại Việt Nam

Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Thêm, khi viết

về Ki- tô giáo với văn hóa Việt Nam, đặc biệt là bàn về mối quan hệ của Ki - tô giáo với truyền thống thờ kính tổ tiên có viết: “Nổi bật trong mối quan hệ này là mâu

thuẫn giữa một bên là truyền thống thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam với bên kia

là tính độc tôn của Ki - tô giáo không chấp nhận ai ngoài Chúa… Quan niệm thờ

kính tổ tiên là “mê tín dị đoan và lạc đường”… Không ít giáo sĩ sớm đã nhận ra đây

là trở ngại cho việc truyền đạo…” [67, tr 290]

Trên trang Vov.vn số ra ngày 7/12/2020 tác giả Đinh Kiều Nga với bài viết tựa đề: “Dấu ấn của văn hóa Công giáo ở Việt Nam: Đạo hiếu và chữ quốc ngữ “đã viết: “Trong cuộc giao lưu và tiếp xúc với Công giáo, văn hóa Việt Nam không chỉ giành được quyền tôn trọng, mà trong một số trường hợp nó còn khiến cho đạo Công giáo khi vào Việt Nam đã được bản địa hóa, tiếp nhận những dấu ấn của văn hóa Việt Nam Việc thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng truyền thống ăn sâu trong tâm thức tôn giáo của người Việt Đạo Công giáo trước Công đồng Vatican II loại

bỏ tín ngưỡng này đã để lại không ít những trằn trọc day dứt cho những tín hữu theo

Trang 27

đạo Nhưng nay tín hữu Công giáo đã thực hiện được những nghi lễ tưởng niệm tổ tiên ngày càng phong phú và đa dạng Ngày nay các gia đình Công giáo đều đặt bàn thờ tổ tiên ngay cạnh (thấp hơn một chút) bàn thờ Chúa, cũng đặt để bát hương và hai chân nến hai bên Vào những ngày giỗ trong gia đình, người Công giáo cũng tổ chức theo phong tục địa phương như thắp hương kính nhớ tổ tiên, dâng hoa quả để

tỏ lòng thành…” [128] Như vậy theo tác giả này thì đạo Công giáo đã bản địa hóa ở Việt Nam thông qua sự hòa nhập vào tín ngưỡng thờ kính tổ tiên

Luận án tiến sĩ của học viên Mai Diệu Anh tại Học viện chính trị quốc gia thành

phố Hồ Chí Minh năm 2015 với đề tài: Ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt

Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở Giáo phận Bùi Chu - Nam Định hiện nay, đã viết: “Các tín đồ vẫn sống đạo với tâm thức truyền thống, thông qua hàng loạt

nghi lễ như: Tôn kính tổ tiên, tiền nhân…Người Công giáo đón nhận ba loại hình tín ngưỡng - tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên- tín ngưỡng Thành hoàng và tín ngưỡng thờ Mẫu, nhưng không phải đón nhận nguyên xi mà có kế thừa, chọn lọc Nhờ vậy khi ba loại hình tín ngưỡng xâm nhập vào làng quê/ xứ đạo trải qua thời gian đã có sự ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống đạo của cư dân nơi đây…” [2, tr 76; 108]

Tóm lại qua các công trình trên cho thấy tầm ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian truyền thống Việt Nam, cụ thể là tín ngưỡng thờ kính tổ tiên, mà rộng hơn là sức mạnh của văn hóa truyền thống buộc các tôn giáo ngoại sinh trong đó có Công giáo khi

du nhập và hòa nhập vào Việt Nam phải thích ứng và chấp nhận để tồn tại phát triển

- Một số công trình, tài liệu về bản địa hóa một số vị thánh Công giáo tại

Việt Nam

Cùng với sự du nhập của đạo Công giáo tại Việt Nam, nhiều vị thánh trong đạo Công giáo cũng được du nhập và hòa nhập trong văn hóa Việt Nhiều vị thánh được mến mộ, thờ kính, được tín đồ Việt lập đền thờ, chọn làm đấng bảo trợ, tổ chức ngày lễ kinh long trọng (còn gọi là ngày lễ quan thầy), đặc biệt là các địa điểm xây dựng khu đền thờ đã trở thành các trung tâm hành hương lớn Có thể kể đến những vị thánh ngoại sinh được thờ kính tiêu biểu tại Việt Nam như: Thánh An tôn (sinh 15/8/1195 - mất 13/6/1231) là linh mục người Bồ Đào Nha; thánh Maritino Porres (sinh 9/12/1579 - mất 3/11/1639) là tu sĩ người Tây Ban Nha; thánh Vicente

Trang 28

(còn gọi là thánh Vinh Sơn, sinh 23/2/1350 - mất 5/4/1419) là một giáo sĩ người Tây Ban Nha; thánh Têresa (sinh 2/1/1873- mất 30/9/1897) là một tu sĩ người Pháp….Một

số công trình viết về những vị thánh Công giáo được du nhập và được thờ kính tại Việt

Nam có thể kể đến như cuốn: Thánh Martino Deporres trang tin mừng mở ra cho thế

giới của tác giả Phạm Hưng Thịnh với 309 trang Cuốn sách gồm 3 phần chủ yếu diễn

tả cuộc đời của thánh nhân Trong phần III tác giả dành một phần để miêu tả về tượng đài Thánh Martino tại nhà thờ Giáo xứ Mai Khôi, địa chỉ tại số 44 đường Tú Sương, phường 7, quận 3, TP Hồ Chí Minh Tác giả viết: “ … Từ nay xin người hiện diện nơi đây….nhiều tín hữu Việt Nam đã yêu mến, tín nhiệm gửi gắm cuộc trần nhiều nỗi gian truân cho người… sớm sớm chiều chiều thắp một nén nhang, dâng một lời cầu nguyện, gửi gắm một lời chào kính yêu… tượng đài Thánh Martino nơi giáo xứ Mai Khôi được thực hiện như một tiếp nối ân tình và lòng sùng kính…” [79, tr 305 - 309] Việc xây dựng tượng đài, lập đến thờ thánh Maritin được tín đồ Việt Nam thực hiện tại nhiều nới

ở nhiều Giáo xứ từ Bắc - Trung - Nam

Viết về sự hội nhập của các thánh Công giáo trong văn hóa Việt, tác giả

Nguyễn Hồng Dương trong cuốn Công giáo trong văn hóa Việt Nam đã có bài giới

thiệu “Một số vị thánh được dân gian chức nghiệp hóa “quan phòng” một lĩnh vực riêng”, ví dụ: Thánh An Tôn: Cứu giúp người nghèo; Thánh Rô Cô: Chữa bệnh tật, tai ương dịch hạch; Thánh Martin: Trợ giúp tìm bắt kẻ gian, thu hồi của cải bị mất trộm [20, tr 281-282]

Tác giả Trần Văn Dũng trong bài viết: “Đền thánh An Tôn Trại Gáo: Khát vọng miền địa linh” đăng trên trang Web giaophanthanhhoa.net ngày 03/06/2019 cho biết: “ Trong một lần rước tượng ông thánh An Tôn qua núi Thanh Hương thì gặp sự cố đứt dây khiêng tượng, tín đồ cho rằng ông thánh muốn dừng chân tại đây, sau đó người dân đã dựng một ngôi đền thờ Thánh An Tôn bằng gỗ ở địa điểm này… Nhiều phép lạ đã được thực hiện, nhiều tín đồ được các ơn như ý nguyện, tin lành lan xa, dòng người bắt đầu đổ về cầu xin, hành hương tại đền thánh An Tôn, từ

đó dần dần biến nơi đây thành trung tâm hành hương lớn, quy tụ hàng triệu tín đồ

về hành hương…” [1]

Trang 29

Thánh Giê Ra Đô (sinh 6/4/1726 - mất 16/10/1755) là một tu sĩ người Ý Ngài là một vị thánh được mến mộ phổ biến tại Việt Nam, tín đồ tin vào quyền năng bảo trợ sinh nở của Ngài, có rất nhiều câu chuyện được truyền tụng và câu chuyện thu hút sợ quan tâm gần đây chính là câu chuyện của một thai phụ sinh non khó sinh tại bệnh viện đa khoa huyện Nghi Lộc - Tỉnh Nghệ An được đăng trên trang SVcong giao.net Chuyện kể rằng: “Vào đêm 27 tết giáp ngọ 2014 một người chồng đã đưa người vợ đang chuyển dạ vào bênh viện Nghi Lộc, trải qua nhiều giờ vật vờ quằn quại vì những cơn đau chuyển dạ, sau một đêm người chồng và người

mẹ cô gái bắt đầu lo lắng, anh nhờ mọi người cùng lời cầu nguyện, lúc đó người dì (chị của mẹ cô gái) nhớ ra chiếc khăn thánh Giê ra đô mình được nhận trong tuần đại phúc của các linh mục dòng Chúa Cứu Thế đã phát cho các bà bầu tại xứ mình Chiếc khăn nhanh chóng được chuyển tới bệnh viện và đặt lên bụng cô gái… Kỳ lạ

là ít phút sau sản phụ có dấu hiệu vỡ ối, đầu đứa trẻ quay về hướng cửa mình và ca sinh được diễn ra tốt đẹp…” [127] Hiện nay tại Giáo xứ Thái Hà - Hà Nội có một đền thờ thánh Giê Ra Đô, đền thờ này được truyền tụng rất linh thiêng, đặc biệt nhiều bà bầu, nhiều tín đồ mắc các chứng vô sinh, khó sinh nở vẫn đến đây cầu nguyện, những câu chuyện huyền nhiệm vẫn được kể và lan truyền

Tóm lại trong niềm tin và tín lý của Công giáo, các thánh không có quyền năng ban ơn, nhưng khi truyền vào Việt Nam, tín đồ Việt đã chuyển hóa niềm tin,

họ tin vào quyền năng của mỗi vị thánh, họ thờ kính, mến mộ, lập đền thờ, hành lễ

và tổ chức ngày lễ kính long trọng… Đặc biệt là tạo nên các trung tâm hành hương thu hút hàng triệu tín đồ về thờ kính, xin ơn… Phải chăng các vị thánh ngoại sinh này đã được hòa mình vào văn hóa Việt, trở thành một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của tín đồ Việt Nam?

1.1.3 Nghiên cứu về Đức Mẹ Maria và bản địa hóa Đức Mẹ Maria

- Các công trình về Đức Maria dưới góc độ thần học

Nghiên cứu chung về Đức Maria là một chủ đề được nhiều tác giả quan tâm, bởi lẽ trong chương trình đào tạo tu sĩ của giáo hội Công giáo Hoàn cầu nói chung

và giáo hội Việt Nam nói riêng, có một môn học bắt buộc là Thánh mẫu học, ngành học về Đức Mẹ Maria Vì vậy, các sách viết về Đức mẹ Maria khá nhiều, chủ yếu

Trang 30

dưới góc độ niềm tin của tín đồ Công giáo và diễn giải về Đức Maria qua kinh

thánh Tiêu biểu có thể kể đến như Kinh Thánh trọn bộ cựu ước và tân ước của tác

giả Trần Phúc Nhân chủ biên và 21 tác giả [54] Đây được coi như một cuốn sách kinh điển và mực thước, mỗi khi tìm hiểu một nhân vật nào đó trong đạo Công giáo hay đối chiếu với các dị bản hoặc các quan điểm về đạo thì Kinh Thánh chính là cuốn sách được lấy làm căn cứ

Ngoài ra phải kể đến cuốn Magnificat của tác giả Phan Tấn Thành, vốn được

xem là cuốn giáo trình của môn Thánh mẫu học, có cách nhìn Đức Maria dưới góc

độ thần học Điều độc đáo trong cuốn này chính là phần hội nhập văn hóa, tác giả cho rằng: “Thần học về đức Maria cũng cần hội nhập vào những tâm thức, những nền văn hóa khác nhau trên thế giới khi đối chiếu khuôn mặt đức Maria với các nữ thần của các tôn giáo khác, hoặc các anh hùng trong lịch sử các dân tộc ít nhiều có điểm tương đồng “ [61, tr 279]

Một trong những tác giả nổi tiếng viết về Đức Mẹ là Đức Hồng y Carlo Maria Martini – người Italia, viện trưởng Học viện Giáo hoàng Kinh Thánh, chưởng ấn Viện

Đại học Gregorio là một học giả Kinh Thánh nổi tiếng Với cuốn Con đường tin mừng

của Đức Maria (qua sự chuyển ngữ của Linh mục Phạm Quốc Huyên), tác giả đã đưa

ra các suy tư về Đức Mẹ, được xem là một thiên tài kết hợp giữa kiến thức về Kinh Thánh và cảm thức mục vụ về nhu cầu con người và nhu cầu Giáo hội Các chương trong cuốn này giúp người đọc tìm hiểu sâu về Đức Mẹ, khởi dậy lòng sùng kính đích thực đối với Mẹ Maria Cuốn sách gồm 7 chương, trong đó 4 chương đầu là sự phác họa và diễn giải hình ảnh Đức Mẹ trong Kinh Thánh, kèm theo là những bài học, những dẫn giải giúp ích cho đời sống của tín đồ, 3 chương sau là những luận bàn về lòng sùng kính Đức Mẹ cũng như vai trò của Đức Mẹ trong đời sống tình cảm của Kitô hữu Tác giả viết: “Chúng ta xin Đức Mẹ ban cho chúng ta một ơn cảm nghiệm sâu xa

và xúc động trong mối liên hệ với Mẹ, để chúng ta có thể trở nên người hướng dẫn những người khác đang tìm kiếm sự chữa lành những vết thương của họ ” [106, tr 113] Cuốn sách là sự phác họa con đường đức tin của Đức Maria, từ đó làm tấm gương cho tín đồ noi theo, đặc biệt tác giả hướng dẫn cách sùng kính Đức Mẹ chân chính, cổ vũ thêm lòng yêu kính Đức Mẹ cho tín đồ

Trang 31

Ngoài ra có thể kể thêm cuốn Đức Maria kiệt tác của Thiên Chúa của tác giả

Ngô Văn Vững Cuốn sách gồm 2 phần, phần 1 với tựa đề: “Mầu nhiệm Maria ” là tập hợp các nội dung Kinh Thánh và tín lý Giáo hội Công giáo viết về Đức Mẹ Maria, phần 2 với tựa đề: “Người nữ mặc áo mặt trời ” gồm các nội dung ca ngợi Đức Mẹ Maria trong mối tương quan với Thiên Chúa, với Hội thánh Công giáo và với loài người Tác giả xem Đức Mẹ Maria là một kiệt tác của Thiên Chúa với dẫn giải: “Kiệt tác luôn mang đặc tính mới mẻ, sáng tạo Hay nói khác đi, kiệt tác là sản phẩm độc nhất trong thể loại của nó, người ta còn có thể thêm: “độc nhất vô nhị” Chỉ có một, không thể có hai ” [93, tr 5] Nhìn chung cuốn sách chủ yếu viết dưới góc độ ca tụng Đức Mẹ và cho thấy vị trí quan trọng của Đức Mẹ trong giáo hội Công giáo

Cuốn Chia sẻ về Đức Maria của tác giả Phạm Văn Phượng là một trong những

cuốn sách viết khá đầy đủ và dễ đọc, dễ hiểu về nhiều khía cạnh Đức Mẹ Maria với mục tiêu đem tới cho độc giả những thông tin cần thiết nhất về Đức Mẹ Cuốn sách gồm 5 phần, phần 1 tác giả trình bày khá chi tiết về những ngày Lễ Đức Mẹ, phần 2 là

sự diễn giải hình ảnh Đức Mẹ trong Kinh Thánh, những phần tiếp theo là ca ngợi các nhân đức của Đức Mẹ cũng như cổ vũ lòng sùng kính Đức Mẹ Đức Mẹ được tác giả miêu tả là một người phụ nữ quan trọng trong niềm tin của tín đồ, ngài được nói đến trong Kinh Thánh và dành vị trí quan trọng trong Giáo hội, được xưng tụng là mẹ của tín đồ, mẹ của Giáo hội, điều này cũng cho ta thấy lý do Đức Mẹ được thờ kính và yêu mến rộng rãi trên thế giới cũng như tại Việt Nam [57]

- Các công trình ca ngợi, tôn vinh Đức Maria

Tác phẩm Kính chào Đức Nữ Vương mẹ Thiên Chúa trong ngôi lời Thiên

Chúa của tác giả Scott Hahn (qua phần biên dịch của Nguyễn Phúc Lộc) đã cho

chúng ta biết lý do tác giả yêu kính Đức Mẹ và lý do tại sao chúng ta lại yêu kính Đức Mẹ Cuốn sách tổng hợp những câu chuyện với những cảm xúc khiêm tốn của

tác giả và sự diễn giải Đức Mẹ trong Tân ước và Cựu ước, tựu trung là ca ngợi vai

trò và vẻ đẹp của Đức Mẹ Maria Tác giả viết: “ Như vậy, người phụ nữ này, người

Mẹ này, con tàu được chọn của Thiên Chúa và của tất các các tín hữu này – là ai?

Bà chính là một con người lịch sử; và Giáo hội đã luôn cẩn thận lưu giữ những sự

Trang 32

thật lịch sử chắc chắn về bà trong các bản báo cáo Kinh Thánh cũng như trong các dạng thức tín điều ” [103, tr 113)

Linh mục Frederick M.Jelly, O.P trong cuốn Tôn sùng Đức Mẹ Maria trong

thánh truyện Công giáo (chuyển ngữ của Dũng Lạc Hồng Ân) lại đề cập đến một

góc nhìn khác về sự tôn sùng Đức Mẹ, đó là sự tôn sùng của tín đồ Công giáo qua các tước hiệu về Đức Mẹ Điều đặc biệt là nội dung cuốn sách này cho chúng ta thấy, các tước hiệu tôn sùng Đức Mẹ Maria thay đổi từ nền văn hóa, từ thế hệ trước, đến các nền văn hóa và thế hệ sau, giúp nhận ra chân dung đích thực của Mẹ Maria qua giáo lý của Thánh Kinh, Thánh truyền (Các vị thánh trong Công giáo truyền lại,

và giáo huấn của Hội Thánh Công giáo ) Cuốn sách gồm 13 chương, trong đó chương 1 trình bày chân dung của Đức Mẹ Maria theo Giáo huấn của Giáo hội, từ chương 2 đến chương 8 tác giả trình bày sơ lược về lòng sùng kính Đức Mẹ chiếu theo Kinh Thánh Ngoài những hình ảnh về Đức Mẹ Maria qua giáo huấn của Tin mừng, đặc biệt là Tin mừng thánh Luca và thánh Gioan, những chương này bàn thêm về những tín điều Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội Những chương tiếp theo tác giả luận bàn về những tước hiệu của Đức Mẹ như Mẹ Thiên Chúa, đặc biệt là tước hiệu Bà Eva mới Cuối cùng là trình bày về phương cách sùng kính Đức Mẹ [104]

Đức Mẹ Maria là một vị thánh nổi bật nên các lời kinh nguyện về ngài với

số lượng lớn là điều dễ hiểu Tuy nhiên có một kinh nguyện phổ biến về Đức Mẹ Maria trên thế giới là kinh Mân Côi (là lời kinh được ghi trong Kinh Thánh và được Giáo hội cổ vũ thực hiện) Mân Côi là một tước hiệu của Đức Mẹ, có nghĩa hoa

hồng Một trong những tài liệu tiêu biểu viết về lời kinh Mân Côi là cuốn Bí quyết

diệu kỳ của kinh Mân Côi của tác giả Thánh Loui Marie Grignion De Montfort (qua

phần chuyển ngữ của Trần Thái Đỉnh) Cuốn sách gồm 5 phần, nội dung chính là nói về nguồn gốc ý nghĩa của kinh Mân Côi, cũng như vai trò của kinh Mân Côi trong đời sống đạo của tín đồ Đặc biệt là những chuyện kể đầy chân thực và sống động về sự kỳ diệu của kinh Mân Côi Ví dụ, tác giả kể một câu chuyện diễn ra tại Pháp như sau: “ Khi thánh Đa Minh rao giảng sự sùng kính này tại thành phố Carcassone (miền Nam nước Pháp) một người rối đạo đã chết vì nhạo báng các

Trang 33

phép lạ và 15 mầu nhiệm của kinh Mân côi, gây khó khăn cho việc trở lại của những người rối đạo Để trừng phạt, Thiên Chúa đã cho phép 15 ngàn quỷ dữ nhập vào thân xác nó Cha mẹ dẫn nó tới cha thánh Đa Minh, xin ngài giải thoát khỏi quỷ dữ Thánh nhân cầu nguyện, rồi xin hiệp Hội Mân Côi đọc kinh Mân Côi với Ngài, với mỗi kinh Kính mừng được đọc lên, Đức Mẹ đã xua đuổi một trăm quỷ dữ ra khỏi tên rối đạo, dưới hình những cục than hồng Sau khi được giải thoát, người đó

đã trở lại đạo và xin gia nhập Hội Mân Côi ” [105, tr 3] Cuốn sách là tài liệu

hướng dẫn thực hành và cổ vũ đọc kinh Mân Côi, đồng thời cho ta thấy thêm một

khía cạnh về lòng sùng kính Đức Mẹ Maria của tín đồ Công giáo, biểu hiện qua lời kinh dâng lên Đức Mẹ

Người Công giáo rất coi trọng lòng thương xót của Chúa, lòng thương xót giúp cho họ giữ đạo và sống đạo Một trong những nhân vật có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy tín đồ đến gần với lòng thương xót của Chúa chính là Đức

Mẹ Maria Trong cuốn Lòng thương xót đích thực Đức Maria, sự tha thứ và niềm

tín thác, tác giả Jacquaes Philippe (qua phần chuyển ngữ của Linh mục Minh Anh)

đã viết: “ Đức Maria đóng vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình này Đức Mẹ dẫn chúng ta vào sự hiểu biết của Thiên Chúa và lòng nhân từ, đặc tính sâu sắc của Người Đức Maria cũng nhận ơn này vì lý do khác: Chính mẹ đã hiểu lòng thương xót của Thiên Chúa Dĩ nhiên Mẹ không phạm tội và Mẹ không cần được thứ tha Lòng thương xót là một ơn Thiên Chúa ban cho Đức Mẹ Maria trước Đôi lúc Thiên Chúa biểu lộ lòng thương xót bằng cách tha thứ mọi lỗi lầm mà chúng ta có thể phạm ” [107, tr 19] Tài liệu này cho chúng ta thấy được vai trò của Đức Mẹ trong việc chuyển cầu những lời cầu nguyện của tín đồ lên Thiên Chúa, và Đức Mẹ cũng được thể hiện như một vị thánh có tấm lòng bác ai, là tấm gương về lòng thương xót và đây cũng là quà tặng của Đức Mẹ Maria dành cho tín đồ

Tác giả Đức Hồng Y Gioan H, Newman đã viết một cuốn sách để suy niệm

Đức Mẹ Maria trong tháng hoa (tháng 5) Đó là cuốn Mẹ có phúc hơn mọi người nữ

- Những bài suy niệm về Đức Maria trong Tháng Hoa Mẹ (qua sự chuyển ngữ của

Linh Mục Bano Kiên) Điều đặc biệt là tác giả không chia nội dung cuốn sách thành từng phần từng chương mà chia thành từng ngày trong tháng hoa tính từ ngày mùng

Trang 34

1 đầu tháng cho đến ngày 31/5 Tác giả cho rằng: “Vì đây là thời kỳ mặt đất mọc lên cành lá tươi non và làn cỏ xanh sau mùa đông tuyết giá Đây cũng là lúc nụ hoa chớm nở trên các cành cây và bông hoa nở rộ trong các công viên và tháng năm thuộc về mùa phục sinh ”[108, tr 6-9]

Trong cuốn Đức Maria trong kinh nguyện giáo hội, tác giả Nguyễn Hữu Thy

viết về Đức Maria với hình ảnh của Ngài được thể hiện qua các kinh nguyện trong Giáo hội Nói cách khác đây chính là quan điểm của Giáo hội về Đức Maria qua các ngày lễ, qua kinh nguyện, qua các tín điều về Đức Maria mà giáo hội xác tín, cho thấy

ngài có một vị trí rất lớn trong giáo hội Công giáo Cuốn sách gồm 2 phần, phần 1 là

các kinh nguyện về Đức Mẹ, phần 2 vai trò kinh nguyện trong cuộc sống Tác giả diễn giải khá chi tiết về những kinh nguyện Đức Mẹ, như kinh Mân Côi, kinh truyền tin, kinh Magnificat, kinh cầu Đức Bà [81, tr 17] Tác giả cũng cho rằng kinh nguyện có vai trò rất quan trọng trong giáo dục con cái và trong đời sống đức tin Tác giả viết “

Sự tôn sùng Mẹ Maria là thành phần cơ bản của chương trình phụng vụ chính thức của Giáo hội Hằng ngày trong các giờ kinh và trong lễ nghi cử hành Thánh Lễ, Giáo hội

đã dành những lời kinh trang trọng nhất để kính Mẹ Maria ” [81, tr 8] Như vậy hình tượng Đức Mẹ Maria còn được biểu hiện qua những kinh nguyện của Giáo hội, điều này vừa thể hiện quyền năng của Đức Mẹ, vừa cho thấy Đức Mẹ cũng là một phương tiện quan trọng để giữ đạo và đến gần với Chúa hơn

Tóm lại các tài liệu trên đã phác họa hình tượng Đức Mẹ Maria dựa trên nền tảng Kinh Thánh, là một người phụ nữ đặc biệt, được Thiên Chúa lựa chọn cộng tác vào sự nghiệp “Cứu chuộc loài người”, là đấng hạ sinh Chúa Giê su là tấm gương sáng về đức hạnh, và là chỗ dựa tinh thần cho mọi tín đồ Đức Mẹ Maria được diễn

tả như biểu tượng của cái đẹp, vẻ đẹp của ngài biểu hiện qua tước hiệu, tên gọi, hình ảnh và đặc biệt là hỉnh ảnh của Mẹ được so sánh với hoa hồng, một loại hoa của

sự thanh khiết và mang vẻ đẹp rực rỡ

- Tài liệu về sự hiển linh của Đức Maria trên thế giới

Các tài liệu về sự hiển linh của Đức Maria lại cho thấy một góc nhìn khác về Đức Mẹ trong đời sống người dân trên thế giới Tác giả Lê Quang Uy trong cuốn

Thiên Chúa và Mẹ Maria, ngoài phần đầu nói về Thiên Chúa, phần sau với tựa đề

Trang 35

“Đức Mẹ và các Thánh” đã kể những mẩu chuyện chân thực về những vị thánh Công giáo được ơn Đức Mẹ tại nhiều nước trên thế giới, qua đó càng có sức lay động mạnh mẽ cho đức tin của tín đồ Chẳng hạn như câu chuyện kể vào ngày 17.7.1858, tại Lộ Đức (Lourdes) nước Pháp, Đức Mẹ đã hiện ra lần chót với chị thôn nữ Bernadette de Soubiroux, Mẹ không nói gì, chỉ mỉm cười nhân ái khoan dung…Hoặc như chuyện anh Giovani Tomasi vốn là một người Ý vô tôn giáo, thường tỏ ra cực đoan quá khích, nhất là với những người đồng hương của anh có

vẻ đặc biệt sùng kính Đức Mẹ Thế rồi anh mắc bệnh nan y, anh rơi vào cơn khủng hoảng đến cùng cực Một người bạn thân đã mời anh sang Pháp để hành hương xin

ơn Đức Mẹ, anh không tin nhưng vẫn miễn cưỡng đi Khi đến Lộ Đức, trước đông đảo tín đồ, anh ta rút súng đã nạp đầy đạn chĩa vào đầu để tự sát đồng thời thách thức quyền năng Đức Mẹ Lạ thay, cả 2 lần chĩa súng và bóp cò, mặc dù súng đã được nạp đạn nhưng vẫn không nổ, anh run rẩy quỳ xuống trước tượng Mẹ và thốt lên “Mẹ ơi, Mẹ đã thắng con rồi” Trong những ngày còn sống anh đi khắp nơi để diễn thuyết và viết thư an ủi động viên những người lâm vào tuyệt vọng như anh, hãy tin vào Thiên Chúa và Mẹ Maria… [58, tr 154 - 156] Những câu chuyện sống động như vậy, thường có sức lan tỏa mạnh mẽ và cổ vũ tốt nhất cho lòng sùng kính Đức Mẹ Maria của tín đồ Bên cạnh đó tác giả cũng diễn giải một số mẫu ảnh nổi tiếng về Đức Mẹ đang được thờ khắp nơi trên thế giới như: Mẫu ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Mẫu ảnh Đức Mẹ làm phép lạ …

Cuốn Đức Mẹ khắp nơi của Linh mục Nguyễn Khắc Minh là cuốn sách thu

nhập những nơi có “dấu lạ” về Đức Mẹ trên thế giới và tại Việt Nam Cuốn sách gồm 3 phần, phần đầu nói về những dấu lạ gắn với những lần hiện ra của Đức Mẹ trên thế giới và phần 3 là tổng hợp những địa điểm thờ kính Đức Mẹ đặc biệt tại Giáo phận Cần Thơ Ở chương 1, tác giả liệt kê 7 địa điểm Đức Mẹ hiện ra nổi bật là: 1 Đức Mẹ Fatiama - Bồ Đào Nha; 2 Đức Mẹ Lộ Đức – Pháp; 3 Đức Mẹ Mễ

Du – Nam Tư cũ; 4 Đức Mẹ Banneux – Bỉ; 5 Đức Mẹ Mê – Kông – Campuchia;

6 Đức Mẹ Gualdalupe – Mêxico; 7 Đức Mẹ Naju – Hàn Quốc [55, Tr 7-38 ]; Phần

2 và phần 3 tác giả liệt kê những “ dấu lạ” về Đức Mẹ tại Việt Nam tại những địa địa điểm là: La Vang – Huế; Tà Pao – Phan Thiết; Trà Kiệu – Quảng Nam; Núi Cúi

Trang 36

Xuân Lộc; La Mã – Bến Tre; Fatima – Vĩnh Long; Măng Đen – Kontum; Tân Hiệp – Long Xuyên; Rạch Súc – Cần Thơ; Vị tin – Hậu Giang [54, tr 42 -79] Cuốn sách là sự tóm lược ngắn gọn những địa điểm Đức Mẹ hiện ra trên thế giới và tại Việt Nam Đặc biệt là sự hiện ra của Đức Mẹ trên thế giới với những địa danh và câu chuyện có sức ảnh hưởng lớn không chỉ trong cộng đồng tín đồ Công giáo hoàn cầu mà cả nhiều đối tượng khác

- Tài liệu về hội nhập Đức Maria ở Việt Nam

Nghiên cứu hội nhập Đức Maria ở Việt Nam đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm, tiêu biểu như: LM Hoàng Kim Toan, Lê Văn Khuê, các tác giả Nguyễn Hồng Dương, Đỗ Quang Hưng

Có thể xem cuốn Đức Maria trong văn hoá đạo Mẫu của Linh mục Hoàng

Kim Toan là công trình đầu tiên nghiên cứu khá sâu về Đức Maria dưới góc độ hội nhập đạo Công giáo trong văn hóa Việt, đặc biệt là văn hóa đạo Mẫu Cuốn sách dài hơn 400 trang, nội dung gồm 3 phần: Phần một: “Văn hóa trong đức tin Công giáo”, phần này tác giả nhận định rằng “bản thân trong văn hóa Việt đã có đức tin, đó là niềm tin về các đấng siêu nhiên như ông trời, bà trời, bà chúa… từ đó hình thành các ý niệm về niềm tin vào các đấng thiêng liêng, trong đó có ý niệm về Mẫu…” [59, tr 50 - 80] Phần hai: “Đức tin trong văn hóa Việt”, tác giả diễn tả các ý niệm của người Việt về ông Trời, bà Thiên và văn hóa đạo Mẫu Phần ba: “Những người phụ nữ trong tiếp nhận tin mừng”, phần này tác giả chú trọng đến vai trò của những người phụ nữ Việt trong việc tiếp nhận và góp phần vào sự phát triển cùng sự hòa mình của đạo Công giáo vào văn hóa truyền thống Việt Nam Trên cơ sở đó tác giả phân tích vai trò to lớn của yếu tố Mẫu trong đạo Công giáo cũng như trong văn Việt cũng như sự hội nhập của Đức Mẹ Maria vào văn hóa truyền thống Việt Nam, khẳng định sự gặp nhau giữa hiện tượng Đức Mẹ Maria và truyền thống thờ mẫu của người Việt đã tạo nên một giá trị văn hóa độc đáo chính là Đức Mẹ Maria trong văn hóa Đạo mẫu Việt Nam Từ đó đi đến nhận định: “Đức Maria chính là một thánh mẫu trong tâm thức của tín đồ Việt Nam, Đức Maria có nhiều điểm tương đồng với các mẫu được thờ trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam Với tâm thức thờ mẫu sẵn có của người Việt, Đức Maria được hội nhập trong văn hóa Việt, được tôn

Trang 37

thờ và yêu kính cách đặc biệt “ [59, tr 136] Có thể coi đây là một công trình nghiên cứu khá độc đáo dưới góc độ đức tin Công giáo và văn hóa đạo Mẫu Việt Nam

Trong cuốn Những nẻo đường phúc âm hóa Công giáo, ở phần ba với tiêu đề:

“Nẻo đường hội nhập văn hóa Công giáo với văn hóa Việt Nam” [22, tr 449], tác giả

Lê Hồng Dương đã dành 57 trang sách để phân tích rất chi tiết về sự hội nhập của Công giáo trong văn hóa truyền thống Việt Nam thông qua các khía cạnh văn hóa dân gian độc đáo của dân tộc như lối sống, diễn xướng dân gian, tín ngưỡng dân gian … và đặc biệt là về hiện tượng Đức Maria trong tâm linh sùng kính dân gian [ 22, tr 551] Tác giả cho rằng: “Đức Maria và các thánh chỉ được tôn kính và không thể ban ơn cho tín đồ, Bà và các thánh thông công chỉ đóng vai trò trung gian Những tín lý này người Công giáo Việt Nam luôn giữ vững, song, trong đời sống đạo, trải thời gian, người Công giáo Việt Nam đã có những hình thức sùng kính đức Maria theo cách riêng gọi là TÂM LINH SÙNG KÍNH DÂN GIAN” [20, tr 551] Theo đó, tác giả cho rằng đức Maria được tín đồ Công giáo Việt Nam tôn thờ như một Thánh mẫu, thể hiện qua các lĩnh vực: Tên gọi, hình ảnh, quyền năng vv và đi đến nhận định: “Truyền thống thờ mẫu của người Việt đã có tác động đến Công giáo Việt Nam, một tôn giáo độc thần, duy trì tín lý rất khắt khe…” [22, tr 564]

Ngoài ra, trong cuốn Công giáo trong văn hóa Việt Nam, khi mô tả về lễ

dâng hoa Đức Maria tại Giáo xứ chính tòa Phát Diệm, tác giả Nguyễn Hồng Dương

có đưa ra nhận xét: “Các giai điệu hát vãn được cải biên từ những làn điệu dân ca truyền thống, vãn dâng hoa được hát theo tứ đại cảnh, lưu thủy, hát nói không khí đàn hát rất nhộn nhịp rộn rã nhưng long trọng và trang nghiêm… “ [20; tr.105], điều này chứng tỏ các yếu tố văn hóa dân gian truyền thống tại địa phương đã được đưa vào trong hoạt động kính thờ Đức Maria

Tác giả Đỗ Quang Hưng trong cuốn Sự kiện Tôn giáo sau khi phân tích các

vấn đề về La Vang và lễ hội La Vang - một linh địa hành hương linh thiêng và nổi bật tại Việt Nam đã cho rằng: “Công giáo Việt Nam phát triển trên cái nền tâm thức tôn giáo, tâm linh của dân tộc rất coi trọng đạo Mẫu, nên càng rõ nét Đức Maria hiện ra ở nhiều nơi trên thế giới nhưng chỉ duy nhất tại Việt Nam, Đức Mẹ hiện hình có ẵm chúa Giê Su hài đồng, điều này rất có ý nghĩa ” [40, tr 228]

Trang 38

Cuốn Tôn giáo trong mắt tôi của tác giả Đỗ Quang Hưng là một trong những

công trình nghiên cứu khá đồ sộ ghi dấu chặng đường nghiên cứu Công giáo của tác giả gần 20 năm, đóng góp cho việc nghiên cứu về lịch sử Công giáo Việt Nam qua

những nhân vật và sự kiện tiêu biểu mà tác giả chọn lựa Đặc biệt tại chủ đề 2 “Có

một không gian Công giáo”, tác giả dành khá nhiều thời lượng để viết về vấn đề phép lạ tại La Vang và lễ hội La Vang, một trong những địa điểm linh thiêng và là trung tâm hành hương Đức Mẹ nổi bật nhất tại Việt Nam [39]

Ngoài ra, có thể kể thêm khóa luận tốt nghiệp tại đại chủng viện Vinh Thanh ngày 20/03/2021 (Giáo phận Vinh – Nghệ An) với đề tài: “ Lòng sùng kính Đức Mẹ trong bối cảnh Giáo phận Vinh” của chủng sinh Bùi Khiêm Cường đã cung cấp thêm một góc nhìn về lòng sùng kính Đức Mẹ ở một Giáo phận cụ thể Khóa luận gồm 3 chương, ngoài Chương 1 “Nền tảng của lòng sùng kính Đức Maria” và Chương 2 “Giá trị của lòng sùng kính Đức Maria” thì ở ”Những hình thức đạo đức sùng kính Đức Maria”, dưới góc độ thần học, dựa trên Kinh thánh, các huấn thị của Giáo hội Công giáo tác giả đã trình bày khá chi tiết về lòng sùng kính Đức Mẹ của Giáo dân Giáo phận Vinh, mô tả khá chi tiết những hình thức sùng kính Đức Mẹ, nổi bật là những nghi thức sùng kính mang dấu ấn văn hóa xứ Nghệ … [11, tr 55]

1.1.4 Nhận xét

1.1.4.1 Những đóng góp của các công trình đi trước

Tôn giáo là một chủ đề lớn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Vì vậy, sách và các tài liệu viết về tôn giáo rất phong phú, hầu hết các sách tôn giáo đều mang tính truyền đạo, truyền bá giáo lý, bản địa hóa tôn giáo, đặc biệt là một số tôn giáo lớn tại Việt Nam đã được một số tác giả quan tâm Viết về vấn đề này, các tác giả thường nêu lý do, quá trình và biểu hiện của bản địa hóa, trong đó luôn nhấn mạnh yếu tố văn hóa truyền thống dân tộc làm chủ đạo trong quá trình bản địa hóa

Công giáo là một trong những tôn giáo lớn và có ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới cũng như tại Việt Nam, nguồn sách và các công trình viết về Công giáo Việt Nam khá dồi dào, nhiều nhất là những tài liệu, công trình viết về Công giáo Việt Nam dưới góc độ truyền giáo Đó là sách viết về quá trình Công giáo du nhập phát triển tại Việt Nam, những giá trị mà Công giáo Việt Nam đóng góp cho sự phát

Trang 39

triển chung của đất nước, sách ca ngợi công đức các nhân vật được thờ kính trong đạo Công giáo vv Dưới góc nhìn Công giáo qua lăng kính văn hóa Việt Nam, đó

là sự hội nhập, đồng hành cùng văn hóa dân tộc, góp phần giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hóa Việt, đồng thời bồi đắp, xây dựng các giá trị văn hóa mới, làm giàu thêm văn hóa dân tộc

Các nghiên cứu về bản địa hóa Công giáo và bản địa hóa Đức Maria trên thế giới và ở Việt Nam cho ta thấy được quá trình truyền đạo và sự hội nhập vào văn hóa bản địa, văn hóa địa phương, văn hóa tộc người, sự linh hoạt trong vấn đề thực hành giáo lý Công giáo, đặc biệt là sự thay đổi quan điểm hội nhập từ phía Giáo hội

đã góp phần vào sự thành công của quá trình truyền đạo Công giáo vào các nền văn hóa trên thế giới… Hình tượng Đức Mẹ Maria được hội nhập trong các nền văn hóa bước đầu đều nhờ việc tìm ra những điểm chung trong truyền thống văn hóa bản địa như thờ nữ thần, thánh mẫu, thờ các vị thần tự nhiên… của các nền văn hóa bản địa Đặc biệt là hình tượng Đức Mẹ Maria đã tìm được những điểm tương đồng trong các tín ngưỡng thờ nữ thần, thờ thánh và nổi bật là hình tượng của một người mẹ, biểu tượng của tình mẫu tử, của các giá trị bác ái đã góp phần kết nối những niềm tin và thực hành nghi thức nghi lễ Công giáo trong những buổi đầu có phần lạ lẫm

và khác biệt với những truyền thống bản địa nơi đây

Sự đóng góp của các công trình nghiên cứu về chủ đề này sẽ là những nguồn

tư liệu, những kinh nghiệm quý giá để chúng tôi hoàn thành luận án này

1.1.4.2 Những vấn đề còn bỏ ngỏ và nhiệm vụ đặt ra cho đề tài

Hiện nay, sách viết về Đức Maria dưới góc nhìn văn hóa vẫn còn ít so với tiềm năng nghiên cứu của một chủ đề lớn và độc đáo này Công giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới, Đức Maria được tôn kính nhiều nơi trên thế giới, tuy nhiên tại Việt Nam, hội nhập đức Maria tại Việt Nam có nhiều điểm độc đáo riêng, đặc biệt là cách thức thực hành, các nghi thức nghi lễ, yếu tố văn hóa địa phương trong hoạt động phụng thờ Đức Maria chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ

Hình tượng Đức Mẹ Maria đã được một số tác giả quan tâm và khai thác ở một vài góc độ khác nhau Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, riêng biệt về vấn đề bản địa hóa hình tượng Đức Maria tại

Trang 40

Việt Nam và cũng chưa thấy một công trình nào nghiên cứu về quá trình du nhập, hội nhập Đức Maria tại các địa phương cụ thể ở Việt Nam

Từ những lý do trên, nhiệm vụ đặt ra cho đề tài là nghiên cứu vấn đề bản địa hóa hình tượng Đức Maria dựa trên nền tảng của văn hóa Việt Những câu hỏi đặt ra là: Trải qua quá trình giao lưu tiếp biến và hội nhập văn hóa, việc bản địa hóa cho thấy các yếu tố nào trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam đã được biểu hiện trong hình tượng Đức Maria? Đức Maria được địa phương hóa ra sao? Những yếu tố gốc trong tín lý giáo hội được bảo lưu là yếu tố gì? Tại sao ở Việt Nam quá trình bản địa hóa diễn ra mạnh mẽ và độc đáo như vậy ? Quá trình bản địa hóa Đức Mẹ Maria diễn ra tromg bối cảnh nào?

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

- Khái niệm giao lưu, tiếp biến văn hóa

Giao lưu, tiếp biến văn hóa là khái niệm được trường phái nhân học Anglo Saxon đưa vào Mỹ cuối thế kỷ XIX để chỉ sự tiếp xúc, sự thay đổi hay biến đổi của một số loại hình văn hóa của cả hai nền văn hóa đó [57, tr 12] Theo các nhà Nhân học Mỹ

và các nước phương Tây, sự giao lưu, tiếp biến văn hóa là quá trình một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng từ một nền văn hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng của nền văn hóa ấy Vì thế sự giao lưu, tiếp biến văn hóa cũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa, đó là sự trao đổi của những đặc tính văn hóa nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện liên tục [89, tr 107]

Tiếp biến văn hóa bao gồm các quá trình khác nhau, gồm khuyếch tán văn hoá, thích nghi văn hoá mang tính ứng phó, các loại hình thái tổ chức xã hội và văn hóa khác nhau sau tiếp xúc và giải văn hóa hay phân giải văn hóa Một loạt các điều chỉnh phát sinh, gồm việc có được sự tự trị đáng kể văn hóa hay điển hình hơn, là

sự đồng hóa của nhóm tiếp xúc yếu hơn bởi nhóm tiếp xúc mạnh hơn và sự hỗn dung văn hóa, nhờ đó hai văn hóa có thể trao đổi đủ các yếu tố để sau đó tạo ra một văn hóa riêng [57, tr 12]

Biến đổi là tất yếu của mọi sự vật, hiện tượng, trong đó có văn hóa tộc người, giao lưu văn hoá vừa là kết quả của sự trao đổi, vừa là chính bản thân của sự

Ngày đăng: 25/03/2022, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w