1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC TIÊU CHÍ PHÂN LOẠI THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ VẤN ĐỀ DẠY HỌC THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT TRONG NHÀ TRƯỜNG (KHẢO SÁT QUA TIỂU THUYẾT “QUÊ NGƯỜI” CỦA TÔ HOÀI)

34 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Tiêu Chí Phân Loại Thành Ngữ Tiếng Việt Và Vấn Đề Dạy Học Thành Ngữ Tiếng Việt Trong Nhà Trường (Khảo Sát Qua Tiểu Thuyết “Quê Người” Của Tô Hoài)
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Từ vựng tiếng Việt
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 113,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảosát thành ngữ trong tiểu thuyết “Quê người” của Tô Hoài giúp phần nào khái quát và có cáinhìn cụ thể hơn về phong cách nghệ thuật, nghệ thuật sử dụng ngôn từ của tác giả, từ đóthấy đ

Trang 1

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT TRONG HỆ THỐNG VÀ

TRONG SỬ DỤNG

CHUYÊN ĐỀ: CÁC TIÊU CHÍ PHÂN LOẠI THÀNH

NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ VẤN ĐỀ DẠY HỌC THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT TRONG NHÀ TRƯỜNG (KHẢO SÁT QUA TIỂU THUYẾT “QUÊ NGƯỜI” CỦA TÔ HOÀI)

ĐÀ NẴNG – 2021

Trang 2

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT TRONG HỆ THỐNG VÀ

TRONG SỬ DỤNG

CHUYÊN ĐỀ: CÁC TIÊU CHÍ PHÂN LOẠI THÀNH

NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ VẤN ĐỀ DẠY HỌC THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT TRONG NHÀ TRƯỜNG (KHẢO SÁT QUA TIỂU THUYẾT “QUÊ NGƯỜI” CỦA TÔ HOÀI)

ĐÀ NẴNG – 2021

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài: 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 2

3 Mục đích nghiên cứu: 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu: 3

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3

6 Phương pháp nghiên cứu: 3

7 Đóng góp của tiểu luận: 3

8 Bố cục tiểu luận: 3

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ CÁC TIÊU CHÍ PHÂN LOẠI THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT 4

1.1 Khái niệm thành ngữ: 4

1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt: 5

1.3 Đặc điểm cấu trúc của thành ngữ tiếng Việt: 5

1.4 Các tiêu chí phân loại thành ngữ tiếng Việt: 6

1.4.1 Dựa vào các đặc điểm hình thái, cấu trúc hay ngữ nghĩa của thành ngữ: 6

1.4.2 Dựa vào nguồn gốc của thành ngữ: 8

1.5 Thành ngữ thuần Việt, thành ngữ Hán việt: 10

1.5.1 Thành ngữ thuần Việt: 10

1.5.2 Thành ngữ Hán Việt: 12

1.5.3 Phân biệt thành ngữ thuần Việt và thành ngữ Hán Việt: 14

1.6 Cách phân chia thành ngữ tiếng Việt theo quan điểm của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: 15

1.6.1 Thành ngữ so sánh: 15

1.6.2 Thành ngữ miêu tả ẩn dụ: 17

Trang 4

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ DẠY HỌC THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT TRONG NHÀ

TRƯỜNG 18

2.1 Thực trạng vấn đề dạy học thành ngữ tiếng Việt trong nhà trường: 18

2.1.1 Về phía học sinh: 18

2.1.2 Về phía giáo viên: 19

2.2 Các giải pháp giải quyết hiệu quả hơn vấn đề thực trạng dạy học thành ngữ trong nhà trường: 20

2.2.1 Giúp học sinh phân biệt được thành ngữ với tục ngữ: 20

2.2.2 Giúp học sinh có vốn kiến thức về thành ngữ: 20

2.2.3 Giúp học sinh hiểu được ý nghĩa và giá trị của thành ngữ: 21

2.2.4 Hướng dẫn học sinh vận dụng thành ngữ khi nói và tạo lập văn bản: 21

2.2.5 Tổ chức cho học sinh hoạt động ngoại khóa: 22

2.3 Bức tranh chung về thành ngữ trong sách giáo khoa: 22

CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT THÀNH NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT “QUÊ NGƯỜI” CỦA TÔ HOÀI 23

3.1 Về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Tô Hoài: 23

3.1.1 Cuộc đời: 23

3.1.2 Sự nghiệp sáng tác: 24

3.2 Khảo sát thành ngữ trong tiểu thuyết “Quê người” của Tô Hoài: 24

3.2.1 Vài nét về tiểu thuyết “Quê người”: 24

3.2.2 Nghệ thuật sử dụng thành ngữ trong tiểu thuyết “Quê người” của Tô Hoài: 25

3.2.2.1 Thống kê số thành ngữ xuất hiện trong tiểu thuyết “Quê người”: 25

3.2.2.2 Phân tích các thành ngữ trong “Quê người” theo cách phân loại của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: 26

3.2.2.2.1 Thành ngữ so sánh: 26

3.2.2.3 Thành ngữ miêu tả ẩn dụ: 27

KẾT LUẬN: 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 29

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Thành ngữ trong mỗi ngôn ngữ có một vị trí rất đặc biệt Là một bộ phận quan trọngcủa từ vựng, thành ngữ là nơi thể hiện rất rõ các đặc trƣng văn hoá, dân tộc trong ngôn ngữ:

“Nếu coi ngôn ngữ dân tộc là tinh thần của dân tộc thì cũng có thể nói thành ngữ (tục ngữ,

ca dao, dân ca…) là các hình thức biểu hiện khác nhau của bản sắc văn hoá dân tộc Trongthành ngữ, chúng ta có thể tìm thấy những đặc điểm riêng của tư duy dân tộc, quan điểmthẩm mĩ, đạo lí làm người, luật đối nhân xử thế, lối sống, cách nghĩ, cách cảm cũng nhƣthái độ đối với cái thiện và cái ác, cái cao cả và cái thấp hèn”1 Về mặt văn hoá, thành ngữchính là nơi thể hiện sâu sắc nhất vốn văn hoá của một dân tộc Cách nói năng, cách suynghĩ, tư duy của một dân tộc biểu hiện rõ nhất trong vốn từ ngữ của họ mà đặc biệt là trongcác thành ngữ Việc tìm hiểu các tiêu chí phân loại thành ngữ tiếng Việt là một việc quantrọng hiện nay, để có thể thống nhất và chọn tiêu chí phân loại thành ngữ tiếng Việt hợp línhất để áp dụng trong chương trình giảng dạy

Việc nhận diện đúng và hiểu đúng thành ngữ là rất quan trọng đối với mọi người.Đối với học sinh điều này càng quan trọng Vấn đề dạy học thành ngữ tiếng Việt trong nhàtrường, giúp các em tiếp nhận đúng các thành ngữ tiếng Việt là một trong những hoạt độngnhằm giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt, sự xuất hiện của các thành ngữ trongsách giáo khoa cũng không thể tuỳ tiện mà phải có một sự trình bày hợp lí và khoa học Tìmhiểu về vấn đề dạy học thành ngữ trong nhà trường để thấy được khái quát thực trạng đó để

có thể đi đến những giải pháp hiệu quả hơn để giảng dạy, giúp học sinh thấy được cái haycái đẹp, ý nghĩa của thành ngữ trong kho tàng văn học Việt Nam

Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà văn có một cảm quan hiện thực và mộtcảm hứng sáng tác riêng Chính nó đã quy chiếu hệ thống ngôn ngữ của mỗi nhà văn khisáng tác Trong hành trình hơn nửa thế kỉ, Tô Hoài đã sáng tác trên cảm quản hiện thực vàcảm hứng nhân văn đời thường, vì thế hệ thống ngôn ngữ được sử dụng rất bình dị và gần

1 [18 ;tr.5]

Trang 6

gũi, đặc biệt là hệ thống thành ngữ được vận dụng rất hiệu quả, tinh tế và khéo léo2 Khảosát thành ngữ trong tiểu thuyết “Quê người” của Tô Hoài giúp phần nào khái quát và có cáinhìn cụ thể hơn về phong cách nghệ thuật, nghệ thuật sử dụng ngôn từ của tác giả, từ đóthấy được nét tiêu biểu, đặc trưng trong từng sáng tác của nhà văn.

Vì những lí do trên, tôi chọn vấn đề “Các tiêu chí phân loại thành ngữ tiếng việt và

vấn dề dạy học thành ngữ tiếng Việt trong nhà trường (Khảo sát qua tiểu thuyết “Quê người” của Tô Hoài)” làm đối tượng để nghiên cứu phân tích cho bài tập nhóm môn Từ

vựng học này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Việc nghiên cứu thành ngữ có hệ thống và cơ sở khoa học chỉ thực sự bắt đầu từ saunăm 1945 Ở giai đoạn này, thành ngữ trở thành tâm điểm nghiên cứu của nhiều nhà Việtngữ học Về thành ngữ trong tiếng Việt, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và các nhàViệt ngữ học thể hiện trong những sách báo quan điểm của mình như Đỗ Hữu Châu, MaiNgọc Chừ, Nguyễn Thiện Giáp,…và cũng có rất nhiều luận văn, luận án trình bày về cácvấn đề xung quanh thành ngữ Các tiêu chí để phân loại thành ngữ được các tác giả, nhàngôn ngữ học căn cứ theo rất nhiều tiêu chí về đặc điểm của thành ngữ để phân loại như tiêuchí về cấu trúc, cấu tạo, ngữ nghĩa, nguồn gốc,…

Vấn đề dạy học bộ môn Ngữ văn nói chung và thành ngữ tiếng Việt trong nhà trườngnói riêng chưa thực sự được chú trọng đến các em học sinh, chưa có một cách tiếp cận mộtcách thú vị và gần gũi hơn Vấn đề dạy học thành ngữ trong nhà trường với các giải pháp,sáng kiến kinh nghiêm cũng đã được một số luận án, luận văn trình bày

Các tác phẩm của Tô Hoài thực sự có giá trị trong nền văn học Việt Nam Những tácphẩm ấy được tác giả miêu tả, thể hiện bằng lớp ngôn từ hết sức bình dị và gần gũi, tự nhiênqua hệ thống thành ngữ được tác giả sử dụng rất hiệu quả và khéo léo, nó góp phần tạo nênphong cách nghệ thuật độc đáo của nhà văn và qua tiểu thuyết “Quê người” nó càng thể

2 Mai Thị Nhung, (2007), Nghệ thuật sử dụng thành ngữ trong sáng tác của Tô Hoài, Nghiên cứu Ngữ văn,

số 12.

Trang 7

hiện rõ nét hơn cách vận dụng thành ngữ tài tình qua tác giả, mang đến một giá trị toàn vẹn

về cả mặt nội dung và nghệ thuật

3 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nêu rõ và chi tiết hóa các cách phân loại thànhngữ Tiếng Việt và vấn đề dạy học thành ngữ tiếng Việt trong nhà trường, và khảo sát thànhngữ qua tiểu thuyết “Quê người” của Tô Hoài để thấy được những nét tiêu biểu trong nghệthuật tác của nhà văn

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Khái quát được một cách đầy đủ về những vấn đề liên quan đến các tiêu chí phânloại thành ngữ tiếng Việt, thực trạng dạy học tiếng Việt trong nhà trường và nắm được sựthể hiện của các thành ngữ trong tiểu thuyết “Quê người” của Tô Hoài

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Thành ngữ tiếng Việt, các tiêu chí phân loại thành ngữ, vấn

đề dạy học thành ngữ trong nhà trường và thành ngữ trong tiểu thuyết “Quê người” của TôHoài

- Phạm vi nghiên cứu: Tiểu luận tập trung tìm hiểu, trình bày các quan điểm, tiêu chíphân loại thành ngữ tiếng Việt của các nhà Việt ngữ học như Hoàng Văn Hoành, NguyễnThiện Giáp, Đỗ Hữu Châu, Mai Ngọc Chừ,…trong các công trình nghiên cứu, sách báo, từđiển về thành ngữ, tiểu luận về đặc điểm của thành ngữ và khảo sát qua tiểu thuyết “Quêngười” của Tô Hoài, Nxb Văn học, 2015

6 Phương pháp nghiên cứu:

Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được chúng tôi sử dụng bao gồm: Phươngpháp hệ thống, phương pháp miêu tả, phương pháp so sánh - lịch sử

7 Đóng góp của tiểu luận:

Tiểu luận giúp có cái nhìn cụ thể hơn về các tiêu chí phân loại thành ngữ tiếng Việt,vấn đề dạy học thành ngữ tiếng Việt trong nhà trường Thông qua những cơ sở lý thuyết,tìm hiểu và phân tích các thành ngữ được sử dụng trong tiểu thuyết “Quê người” của TôHoài Từ đó thấy được phong cách tiêu biểu, đặc sắc nghẻ thuật ngôn từ của tác giả

8 Bố cục tiểu luận:

Trang 8

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Tiểu luận của tôi có cấu trúcgồm ba chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về thành ngữ tiếng Việt và các tiêu chí phân loại thành ngữ tiếng Việt.

Chương 2: Vấn đề dạy học thành ngữ tiếng Việt trong nhà trường.

Chương 3: Khảo sát thành ngữ trong tiểu thuyết “Quê người” của Tô Hoài.

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ CÁC

TIÊU CHÍ PHÂN LOẠI THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT

1.1 Khái niệm thành ngữ:

Nhìn chung, các nhà ngôn ngữ học đều rất thống nhất khi đưa ra định nghĩa về thành

ngữ Theo Hoàng Văn Hành, “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình

thái cấu trúc, hoàn chỉnh bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ” 1 Thành ngữ có hai đặc điểm nổi bật:

- Tính cố định, ổn định về thành phần từ vựng và hình thái cấu trúc

- Tính hoàn chỉnh, bóng bẩy về nghĩa

Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có

tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm” 2 Ông nêu rõ: “Bên cạnh nội dung trí tuệ,

các thành ngữ bao giờ cũng kèm theo sắc thái bình giá, cảm xúc nhất định, chẳng hạn, có thể nói lên lòng kính trọng, sự tán thành hoặc là chê bai, khinh rẻ” Tác giả Nguyễn Lân

cũng khẳng định tính cố định, ổn định của thành ngữ khi ông định nghĩa: “Thành ngữ là

những cụm từ cố định dùng để diễn đạt một khái niệm” Theo tác giả, thành ngữ là những tổ

hợp có ba từ trở lên, còn những tổ hợp có hai từ được coi là từ ghép

Từ những định nghĩa trên đây có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về thành ngữnhư sau: Thành ngữ là những cụm từ cố định, có sẵn, được lưu truyền trong dân gian từ đờinày sang đời khác Về chức năng, thành ngữ là đơn vị tương đương với từ, dùng để gọi tên

1 Hoàng Văn Hoành (2008), Thành ngữ học tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội.

2 Nguyễn Thiên Giáp (1999), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, tái bản lần thứ 2.

Trang 9

sự vật hiện tượng hay biểu thị khái niệm Về ý nghĩa, thành ngữ thường mang tính hìnhtượng, tính bóng bẩy, gợi tả.

1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt:

Đặc trưng nổi bật về ngữ nghĩa của thành ngữ là có tính hoàn chỉnh, bóng bẩy và tínhgợi cảm cao Nghĩa của thành ngữ không phải là nghĩa đen của các yếu tố cấu thành cộnglại mà là nghĩa bóng, nghĩa toàn khối Nghĩa này được suy ra trên cơ sở nghĩa của các yếu

tố cấu thành Chẳng hạn, thành ngữ kén cá chọn canh không có nghĩa là "kén chọn cá ngon,

canh ngọt trong ăn uống" mà dùng để chỉ người phụ nữ "kén chọn chồng quá kĩ do cầu kì

hoặc khó tính" Hoặc thành ngữ chó ngáp phải ruồi không phải nói về sự tình một con chó

ngáp đớp phải con ruồi, mà dùng để " ví trường hợp không có tài năng, chỉ nhờ may mắnhiếm có mà đạt được cái gì Chính đặc điểm ngữ nghĩa này được gọi là "tính thành ngữ" của

ý nghĩa các từ ghép và các cụm từ cố định nói chung

Nghĩa của thành ngữ là kết quả của quá trình biểu trưng hóa Quá trình biểu trưngđược thực hiện theo con đường liên tưởng tương đồng hoặc tương cận Theo con đườngtương đồng, ta có các thành ngữ ẩn dụ hoặc so sánh, theo con đường tương cận ta có cácthành ngữ hoán dụ

1.3 Đặc điểm cấu trúc của thành ngữ tiếng Việt:

Thành ngữ không chỉ có cấu tạo chủ yếu là cụm từ mà còn có thể là một kết cấu chủ

vị Vì thế, dựa vào hình thức cấu tạo, có thể phân ra thành ngữ có kết cấu chủ vị và thànhngữ có kết cấu cụm từ

- Thành ngữ có kết cấu chủ vị: Đó có thể là một kết cấu chủ vị, chẳng hạn như mèo

mù vớ cá rán, chó cắn áo rách, lươn ngắn chê chạch dài, hàng thịt nguýt hàng cá, chó chê mèo lắm lông,… Hoặc có thể là một kết cấu liên hợp chủ vị như nhà tan cửa nát; trống đánh xuôi, kèn thổi ngược; chó treo mèo đậy…

- Thành ngữ có kết cấu là một cụm từ, chẳng hạn tay búp măng, chạy long tóc gáy,

lạy như tế sao, ăn trắng mặc trơn, bạn nối khố, đi guốc trong bụng, ruột để ngoài da… Xét

về mặt từ loại, những thành ngữ này có thể có cấu tạo là một cụm danh từ, ví dụ: mặt trái

xoan, mắt lá răm, tay búp măng…; hoặc cụm động từ, chẳng hạn, chạy long tóc gáy, ăn như hùm đổ đó, ném đá giấu tay…; hoặc cụm tính từ, chẳng hạn, dai như đỉa đói, rách như

Trang 10

tổ đỉa, chậm như rùa, nặng như chì, ngu như bò, thẳng như ruột ngựa… Phần lớn các thành

ngữ có cấu tạo là một cụm tính từ có từ so sánh như.

1.4 Các tiêu chí phân loại thành ngữ tiếng Việt:

Để tìm hiểu thành ngữ tiếng Việt, các nhà nghiên cứu cũng đã chú ý đến việc phânloại ngôn ngữ Với các góc nhìn khác nhau, kết quả phân loại của các tác giả cũng có nhữngkhác biệt nhất định

1.4.1 Dựa vào các đặc điểm hình thái, cấu trúc hay ngữ nghĩa của thành ngữ:

Về mặt chức năng, nhiều tác giả đã coi thành ngữ có chức năng tương tự như từ, chonên đã dựa vào đặc điểm này để phân loại thành ngữ Hướng phân loại này có thể thấy ở cáctác giả Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp,…Đỗ Hữu Châu cho rằng “các thành ngữ (cóthành ngữ tính cao hay thấp) có thể phân thành những thành ngữ tương đương với từ có sẵn

có (hiển nhiên hay không hiển nhiên) và những thành ngữ không tương đương với từ”1 Tácgiả Nguyễn Thiện Giáp lại đặt thành ngữ trong tương quan với cách thức cấu tạo từ ghép vàphân thành ngữ thành các loại thành ngữ kết hợp và thành ngữ hòa kết

Tác giả Cù Đình Tú thì dựa vào sự tương ứng giữa đặc trưng từ loại giữa thành ngữ

và từ để phân chia các thành ngữ tiếng Việt Theo tác giả, thành ngữ tiếng Việt có thể phânloại như sau:

- Thành ngữ biểu thị sự vật: con rồng cháu tiên, núi cao sông dài, đường đi

nước bước, trời yên biển lặng, sóng to gió lớn,…

- Thành ngữ biểu thị tính chất: chân lấm tay bùn, đầu tất mặt tối, gan vàng dạ

sắt, một nắng hai sương, chịu thương chịu khó, sức dài vai rộng, uống máu người không tanh,…

- Thành ngữ biểu thị hành động: nước đổ lá khoai, ăn cơm mới nói chuyện cũ,

đứng núi này trông núi nọ, được voi đòi tiên,… 2

Có ngững tác giả không đặt vấn đề phân loại thành ngữ, nhưng lại tách ra một trongcác loại thành ngữ làm đối tượng nghiên cứu, ví dụ như Trương Đông San (1974), Hoàng

1 Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục.

2 Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên

nghiệp, Hà Nội.

Trang 11

Văn Hành (1976) tách riêng thành ngữ so sánh để luận giải Trong khi đó, Bùi Khắc Việt(1981) và một số tác giả khác lại tách riêng thành ngữ đối để luận giải

Nhóm tác giả công trình Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ (Hoàng Văn Hoành chủ biên)lại dựa vào hình thái biểu trưng hóa mà chia thành ngữ tiếng Việt thành hai loại: thành ngữ

so sánh hay thành ngữ phi đối xứng và thành ngữ ẩn dụ hóa hay thành ngữ đối xứng Thành

ngữ so sánh như: nóng như lửa, câm như thóc, lạnh như tiền,…Thành ngữ ẩn dụ hóa như:

mặt sứa gan lim, đầu voi đuôi chuột, mắt tròn mắt dẹt, cá mè một lứa,…Ngoài ra nhóm tác

giả này cũng dựa vào cấu tạo của thành ngữ tiếng Việt mà chia thành ngữ tiếng Việt thành

ba loại là thành ngữ so sánh, thành ngữ đối và thành ngữ thường Thành ngữ đối được cấu

tạo theo quy tắc đối và điệp giữa các thành tố, kiểu như: trên đe dưới búa, mẹ tròn con

vuông, lừa thầy phản bạn,…Thành ngữ so sánh được cấu tạo theo các so sánh biểu thị vốn

có trong ngôn ngữ như: rách như xơ mướp, chậm như rùa, nóng như lửa,…Còn thành ngữ

thường là loại thành ngữ được “tạo thành nhờ phương thức ghép từ thông thường, kiểu như:

theo voi hít bã mía, gió chiều nào phe chiều ấy, vạch áo cho ngườu xem lưng, trăm voi không được bát nước xáo,…Rõ ràng, ở loại thành ngữ này không sử phép so sánh, cũng

không dùng luật đối ứng để ghép nối các yếu tố, mà cố định hóa hay thành ngữ hóa mộtđoạn tác ngôn vốn được cấu tạo trên cơ sở luật kết hợp bình thường trong tiếng việt” Vàtheo các tác giả, trong tiếng Việt thành ngữ đối là loại phổ biến nhất, chiếm 56% tổng sốthành ngữ có trong thực tế

Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến trong công tình

Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt lại khẳng định “có nhiều cách phân loại thành ngữ Trướchết có thể dựa vào cơ chế cấu tạo (cả nội dung lẫn hình thức) để chia thành ngữ tiếng Việt rahai loại: thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ1

Tác giả Nguyễn Công Đức trong công trình của mình (1994), xuất phát từ cách nhìnthành ngữ như là một hình thể hình thái cấu trúc – ngữ nghĩa được cố định hóa từ các đơn vịtrên từ như cụm từ tự do và câu, đã chia thành ngữ tiếng Việt thành năm loại:

1 [3; tr.167]

Trang 12

- Thành ngữ có cấu trúc vốn là cấu trúc cú pháp được “từ vựng hóa” để trởthành thành ngữ Loại thành ngữ này đa phần là đoản ngữ, hoặc cũng có thể là các thànhngữ vốn là câu hoàn chỉnh.

- Loại thành ngữ có cấu trúc không bình thường về mặt cú pháp, ví như loại kết

hợp phi logic về mặt trật tự các yếu tố trong thành ngữ như: cao chạy xa bay, mong như

mong mẹ về chợ hoặc thành ngữ vắng mặt kết từ như qua cầu rút ván.

- Loại thành ngữ có cấu trúc theo kiểu đan xen Đây là thành ngữ đan xen giữacác yếu tố trong hai tổ hợp song tiết để tạo nên sự không bình thường về mặt ngữ nghĩa ở bề

mặt cấu trúc nhưng lại có ý nghĩa khái quát ở bề sâu và chặt chẽ về cấu trúc: ăn sung mặc

sướng, đầu trộm đuôi cướp,…

- Loại thành ngữ sử dụng các mô hình kết hợp cú pháp có sẵn Đây là loại thành

ngữ được cấu tạo lặp lại các động từ để tác các tổ hợp song tiết, ví dụ: có tài có tật, có tai

có mắt, bóp mồm bóp miệng, chạy thầy chạy thợ,…

- Loại thành ngữ sử dụng cấu trúc so sánh Đây là loại thành ngữ được coi làchiếm tỉ lệ nhiều nhất và đa dạng trong thành ngữ tiếng Việt

1.4.2 Dựa vào nguồn gốc của thành ngữ:

Còn một cách phân loại các thành ngữ trong tiếng Việt ngoài dựa vào các đạc điểm

về hình thái, cấu trúc, ngữ nghĩa nữa là sự phân loại dựa vào nguồn gốc của thành ngữ (tứctiêu chí về con đường hình thành của thành ngữ) Theo tiêu chí này, các thành ngữ đang cótrong tiếng Việt có thể phân thành hai loại: thành ngữ Việt và thành ngữ có nguồn gốc nướcngoài Trong tiếng Việt thành ngữ được vay mượn nước ngoài chủ yếu là các thành ngữ gốcHán Theo Nguyễn Thị Tân1, hiện có 2710 đơn vị thành ngữ gốc Hán hoạt động trong tiếngViệt, so với các thành ngữ gốc ngoại khác thì thành ngữ gốc Hán chiếm tỉ lệ gần như tuyệtđối

Những thành ngữ gốc Hán khi mượn vào tiếng Việt, có thể được giữ nguyên hìnhthái – ngữ nghĩa, dịch từng chữ (một phần hoặc tất cả các yếu tố), dịch nghĩa chung củathành ngữ có thay đổi trật tự các yếu tố cấu tạo Cách phân loại này được nhắc đến một số

1 Nguyễn Thị Tân (2004), Thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Viện Ngôn ngữ

học, Hà Nội.

Trang 13

công trình nghiên cứu về từ tiếng Việt của các tác giả Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Tu,Nguyễn Thiện Giáp, Trương Chính, Lê Đình Khẩn,…Trong công trình Thành ngữ gốc Hántheo tiếng Việt (2004), tác giả Nguyễn Thị Tân đã trình bày rất chi tiết về quan niệm thànhngữ gốc Hán trong tiếng Việt của các nhà Việt ngữ học Từ ý kiến của các nhà Việt ngữhọc, tác giả Nguyễn Thị Tân đã đưa ra được khái niệm về thành ngữ gốc Hán dùng trongluận án của mình, theo đó, thành ngữ gốc Hán được quan niệm như sau:

+ Tất cả các yếu tố đều có cách đọc Hán Việt, tức là đều là yếu tố Hán Việt, ví dụ:

mai danh ẩn tích, thần thông biến hóa, mã đáo thành công,…

+ Ngoài các yếu tố có cách đọc Hán Việt, còn có cả yếu tố phi Hán Việt, ví dụ: buôn

Sở bán Tần, của Khổng sân Trình, tình sâu nghĩa nặng, trị bệnh cứu người, trăm hình vạn trạng,…

+ Các thành tố đều là phi Hán Việt, ví dụ: chỉ non thề biển (sơn minh thể hải), ếch

ngồi đáy giếng (chỉnh để chi oa), ghi lòng tạc dạ (minh tâm khắc cốt),…

Về hình thái cấu trúc, thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt, có thể chia thành các loạinhư sau:

+ Giữ nguyên cấu trúc như trong đơn vị gốc của tiếng Hán, ví dụ: án binh bất động,

cái tà quy chính,…

+ Thay đổi cấu trúc của đơn vị gốc, ví dụ: túc trí đa mưu,…

+ Giữ nguyên các yếu tố trong đơn vị gốc, ví dụ: duy ngã độc tôn, tiến thoái lưỡng

nan, loạn thần tặc tử,…

+ Thay đổi các yếu tố của đơn vị gốc, ví dụ: bán sống bán chết, bền gốc sâu rễ, cùng

bất đắc dĩ, thượng lộ bình an,…

Trang 14

Về nội dung ngữ nghĩa, phần lớn thành ngữ gốc Hán có nghĩa biểu trưng, đó là nghĩatổng thể được khái quát từ nghĩa của các yếu tố cấu tạo Một số trường hợp khác nghĩa của

tổ hợp được tạo thành từ nghĩa cụ thể, nghĩa mặt chữ của các yếu tố cấu tạo

Như vậy vấn đề thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt là một vấn đề tương đối phứctạp và chưa phải đã có sự thống nhất hoàn toàn giữa các nhà nghiên cứu Ngay cả vấn đề têngọi là thành ngữ gốc Hán hay thành ngữ Hán Việt hiện nay vẫn chưa thống nhất giữa cácnhà Việt ngữ học

Trong tiểu luận này, để chi tiết hơn và đi sâu vào vấn đề dạy học thành ngữ trong nhàtrường nên tôi xin được phân chia thành ngữ thành thành ngữ thuần Việt và thành ngữ HánViệt Bởi vì:

- Khái niệm thành ngữ gốc Hán chưa được hoàn toàn thống nhất trong giớinghiên cứu Việt ngữ học

- Với mục đích tìm hiểu về vấn đề dạy học thành ngữ trong nhà trường thì trongsách giáo khoa, các tác giả không phân biệt thành ngữ gốc Hán và thành ngữ Việt, học sinhchỉ học về từ Hán Việt Do đó với học sinh phổ thông, chỉ phân biệt được từ Việt với từ HánViệt, chưa thể phân biệt được thành ngữ gốc Hán và thành ngữ thuần Việt (nhất là các thànhngữ gốc Hán mà tất cả các yếu tố đã được dịch nghĩa ra tiếng Việt tương đương Học sinhchỉ có thể phân biệt được những thành ngữ Hán Việt (có cách đọc Hán Việt) và và các thànhngữ thuần Việt

Những cách phân loại thành ngữ trên, từ góc nhìn này hay khác đều nhằm phục

vụ cho mục đích luận giải thành ngữ của từng tác giả Trong tiểu luận này, tôi xin đồng

ý với cách phân loại thành ngữ theo hướng của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến là phân chia thành ngữ thành hai loại: thành ngữ so sánh

và thành ngữ miêu tả ẩn dụ Ngoài ra, tôi cũng chấp nhận cách phân chia thành ngữ thành hai loại: thành ngữ Hán Việt và thành ngữ thuần Việt.

1.5 Thành ngữ thuần Việt, thành ngữ Hán việt:

1.5.1 Thành ngữ thuần Việt:

Theo Đỗ Thị Thu Hương, “Thành ngữ thuần Việt là những thành ngữ do người Việt

tự sáng tạo dựa trên những chất liệu ngữ âm thuần Việt, phản ánh đời sống văn hóa, tinh

Trang 15

thần, phong tục tập quán, thói quen, nếp cảm, nếp nghĩ của con người Việt Dấu ấn thuần Việt của thành ngữ thể hiện ở các phương diện ngữ âm, ngữ nghĩa, màu sắc phong cách và cấu trúc”.

- Về hình thức ngữ âm:

 Các thành ngữ thuần Việt trước hết là những thành ngữ do người Việt tự sáng

tạo dựa trên những chất liệu thuần Việt Chẳng hạn già kén kẹn hom, già đòn non nhẽ, con

cà con kê, dây mơ rễ má, tai vách mạch dừng, dán bùa luồn kèo, nuôi ong tay áo, già trái non hột, mũi dại lái phải chịu đòn, mèo mả gà đồng, mèo già hóa cáo, v.v…

 Mượn một yếu tố có cơ sở từ tiếng Hán nhưng được cấu tạo theo lối tư duy

của người Việt, phản ánh đời sống tâm hồn tình cảm của người Việt Ví dụ: nóng như

Trương Phi, lẩy bẩy như Cao Biền dậy non, chạy rống Bái Công, đa nghi như Tào Tháo, bát cơm phiếu mẫu v.v…

- Về nội dung ngữ nghĩa: Thành ngữ thuần Việt phản ánh sâu sắc những đặctrưng văn hóa - tư duy của dân tộc Việt Do vậy, những thành ngữ nào mang đậm dấu ấncủa nền văn hóa nông nghiệp Việt Nam thì đều có thể coi là thành ngữ thuần Việt Dấu ấnnày bộc lộ ở hai phương diện, chất liệu cấu tạo nên thành ngữ và nội dung ý nghĩa Về chấtliệu, thành ngữ thuần Việt sử dụng những hình ảnh, sự vật quen thuộc, gần gũi với ngườiViệt Từ những con vật gắn bó với cuộc sống hàng ngày như con mèo, con gà, con chuột,con trâu, con đỉa, con ếch, con chạch, con tép, con tôm, con sên, con ốc, con chấy, con rận đến những con vật chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng như con rồng, con phượng; từ giậu bìmbìm đến cái lá răm, vỏ dưa, vỏ dừa, ; từ ngôi chùa, pho tượng, đến con dao, cái chĩnh, cáibát, cái cày, thậm chí là cái lông con công v.v Đó là những chất liệu mang đậm màu sắccủa nền văn minh lúa nước Những thành ngữ mắt lá răm, mặt lưỡi cày, giãy nảy như đỉaphải vôi, rách như tổ đỉa, lưng đen khố bện, váy vận yếm mang, lẩn như chạch, ngang nhưcua, rách như tổ đỉa, con chấy cắn đôi, giậu đổ bìm leo, đắt như tôm tươi, cứt trâu để lâu hóabùn chắc hẳn khó có thể lẫn được với bất cứ một thành ngữ của các ngôn ngữ khác Vềnội dung, thành ngữ thuần Việt phản ánh phong tục tập quán, quan điểm thẩm mĩ, quanđiểm đạo đức, lối sống, nhận thức, kinh nghiệm, cách đánh giá của cả cộng đồng người nóitiếng Việt

Trang 16

- Về màu sắc phong cách: Thành ngữ thuần Việt thường mang sắc thái dân dã,gần gũi, mộc mạc, được sử dụng phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày.

1.5.2 Thành ngữ Hán Việt:

Nguyễn Văn Tu (1976) nêu hai cách mà thành ngữ tiếng Việt mượn của tiếng Hán

Đó là mượn nguyên văn, ví dụ: cẩn tắc vô ưu, hữu dũng vô mưu, danh chính ngôn thuận và dịch từ tiếng Hán, chẳng hạn đánh trống qua cửa nhà sấm (được dịch từ kích cố lôi môn),

cưỡi ngựa xem hoa (được dịch từ tẩu mã khán hoa) v.v…

Nguyễn Lực, Lương Văn Đang (1978) đã chia các thành ngữ Hán Việt trong tiếngViệt thành hai loại

- Loại có gốc Hán: Loại thành ngữ này được hình thành thông qua con đường trích từkinh sử là chủ yếu, và được du nhập vào tiếng Việt từ rất lâu đời Chúng còn giữ nguyên

hình của thành ngữ gốc, như bạo hổ bằng hà, đồng cam cộng khổ, đồng bệnh tương lân,

danh chính ngôn thuận…; phần lớn chúng có nghĩa từ nguyên Một số bị Việt hóa, chẳng

hạn khai thiên lập địa có nguồn gốc Hán là khai thiên tịch địa hoặc khẩu tâm nhƣ nhấtthành khẩu tâm bất nhất…

- Loại thành ngữ do người Việt tự tạo lập bằng chữ Hán: loại này xuất hiện thưa thớt

trong vốn từ vựng tiếng Việt Ví dụ: Khai cơ lập nghiệp, thần thông biến hóa, bất khả xâm

phạm, biệt vô âm tín, đồng tâm nhất trí…

Bùi Khắc Việt (1981) khi bàn về các thành ngữ đối đã chú ý đến trường hợp thànhngữ được dịch từ tiếng Hán và trường hợp thành ngữ gốc Hán được thay đổi một vài yếu tố,

chẳng hạn, bới lông tìm vết được dịch từ xuy mao cầu tì, hay cửu tử nhất sinh được đổi

thành thập tử nhất sinh

Nguyễn Văn Mệnh (1986) cũng cho rằng trong quá trình tiếp xúc giữa tiếng Việt và

tiếng Hán, nhiều thành ngữ gốc Hán đã du nhập vào tiếng Việt, chẳng hạn như đồng cam

cộng khổ, bách chiến bách thắng, hằng hà sa số… Những thành ngữ này đã được Việt hóa

và hoạt động như những thành ngữ Việt Đáng chú ý là lần đầu tiên thành ngữ gốc Hán

được đặt vấn đề nghiên cứu một cách đầy đủ trong công trình Từ điển giải thích thành ngữ

gốc Hán của Nguyễn Văn Khang Ở đây, tác giả đã nhận diện thành ngữ gốc Hán qua bốn

nhóm:

Trang 17

Nhóm 1: Các thành ngữ được dùng nguyên khối cả vỏ ngữ âm Hán Việt, cấu trúc và

nội dung ngữ nghĩa vốn có Ví dụ: an bần lạc đạo, an cư lạc nghiệp, hữu danh vô thực, trí

dũng song toàn…

Nhóm 2: Các thành ngữ được chuyển dịch hoàn toàn ra tiếng Việt Ví dụ: hồng diệp

xích thằng / lá thắm chỉ hồng, hải để lao châm/ đáy bể mò kim

Nhóm 3, gồm hai loại: - Song tồn vừa thành ngữ Hán Việt, vừa thành ngữ chuyển

dịch ( toàn bộ hay bộ phận ) ra tiếng Việt Ví dụ: trầm ngư lạc nhạn / chim sa cá lặn, hữu lí

hữu tình / có lí có tình, bách chiến bách thắng / trăm trận trăm thắng,… - Thay đổi trật tự

các yếu tố Ví dụ: Hà Đông sư tử / sư tử Hà Đông, cùng cốc thâm sơn / thâm sơn cùng cốc,

tuyệt sắc giai nhân/ giai nhân tuyệt sắc…

Nhóm 4: là các thành ngữ do người Việt sáng tạo trên cơ sở mượn nội dung từ Hán

như cửa Khổng sân Trình, bát cơm phiếu mẫu, nóng như Trương Phi… Theo tác giả Lê

Đình Khẩn, thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt tồn tại dưới ba dạng chính là thành ngữ HánViệt, thành ngữ sao phỏng và thành ngữ cải biên.Về mặt hình thức, thành ngữ gốc Hán cócấu trúc bốn âm tiết, một số có cấu trúc đối, điệp và so sánh Về tổ chức ngữ pháp, thànhngữ gốc Hán có thể tồn tại dưới dạng một danh ngữ, một động ngữ hay một tính ngữ Một

số thành ngữ khác các yếu tố có thể có quan hệ đẳng lập Nghĩa của thành ngữ được hìnhthành theo hai hướng nghĩa đen và nghĩa bóng

Nguyễn Đức Tồn định nghĩa về thành ngữ Hán Việt như sau: “Thành ngữ Hán Việt

là những kết hợp từ ngữ cố định được vay mượn nguyên cả khối từ tiếng Hán vào tiếng Việt được đọc theo âm Hán Việt” 1

Về cấu trúc, phần lớn các thành ngữ gốc Hán có bốn âm tiết và được nhận diện quacác dạng sau đây:

Dạng 1: Giữ nguyên cấu trúc như trong đơn vị gốc ( án binh bất động, cải tà quy

chính, thao thao bất tuyệt…)

Dạng 2: Thay đổi cấu trúc của đơn vị gốc ( ái ốc cập ô / ái ô cập ốc, túc trí đa mưu/

đa mưu túc trí…)

1 Nguyễn Đức Tồn (2003), Mấy vấn đề lí luận và phương pháp dạy – học từ ngữ tiếng Việt trong nhà trường,

Nxb Đại học Quốc gia

Ngày đăng: 25/03/2022, 09:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1981
2. Đỗ Hữu Châu (2004), Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, Nxb. Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư phạm
Năm: 2004
3. Mai Ngọc Chừ – Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến (2006), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học vàtiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ – Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2006
4. Nyễn Thiên Giáp (1999), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, tái bản lần thứ 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nyễn Thiên Giáp
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1999
5. Hoàng Văn Hoành (Chủ biên) (2002), Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hoành (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Khoa học xãhội
Năm: 2002
6. Hoàng Văn Hoành (2008), Thành ngữ học tiếng Việt, Nxb. Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hoành
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2008
8. Đỗ Thị Thu Hương (2013), Nguồn gốc hình thành và đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa của thành ngữ Thuần Việt, Luận án Tiến sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc hình thành và đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa củathành ngữ Thuần Việt
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hương
Năm: 2013
9. Mai Thị Nhung (2007), Nghệ thuật sử dụng thành ngữ trong sáng tác của Tô Hoài, Nghiên cứu Ngữ văn, số 12, nguồn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Ngữ văn, số 12
Tác giả: Mai Thị Nhung
Năm: 2007
11. Trần Văn Sáng (2015), Giáo trình Từ vựng Tiếng Việt trong hệ thống và trong sử dụng, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Từ vựng Tiếng Việt trong hệ thống và trong sử dụng
Tác giả: Trần Văn Sáng
Năm: 2015
12. Nguyễn Thị Tân (2004), Thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Tân
Năm: 2004
13. Nguyễn Đức Tồn (2003), Mấy vấn đề lí luận và phương pháp dạy – học từ ngữ tiếng Việt trong nhà trường, Nxb. Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lí luận và phương pháp dạy – học từ ngữ tiếngViệt trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Đức Tồn
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
Năm: 2003
14. Nguyễn Văn Tu (1976), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Tu
Nhà XB: Nxb. Đại học và Trung họcchuyên nghiệp
Năm: 1976
15. Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: Nxb. Đại học vàTrung học chuyên nghiệp
Năm: 1983
16. Tiểu sử về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Tô Hoài, Sachhay24.com, nguồn:https://sachhay24h.com/tieu-su-cuoc-doi-va-su-nghiep-sang-tac-cua-nha-van-to-hoai-a747.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu sử về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Tô Hoài
17. Huỳnh Kim Tường Vi (2015), Dạy học thành ngữ, tục ngữ cho học sinh tiểu học trong giờ tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp, Luận án Giáo dục học, trường đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học thành ngữ, tục ngữ cho học sinh tiểu học tronggiờ tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Tác giả: Huỳnh Kim Tường Vi
Năm: 2015
18. Nguyễn Như Ý – Nguyễn Văn Khang – Phan Xuân Thành (1994), Từ điển thành ngữ Việt Nam, Nxb. Văn hoá – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữViệt Nam
Tác giả: Nguyễn Như Ý – Nguyễn Văn Khang – Phan Xuân Thành
Nhà XB: Nxb. Văn hoá – Thông tin
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w