BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT Chuyên đề: Phân tích biến thể âm đầu trong các phương ngữ của tiếng Việt và đặc trưng biến thể âm đầu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọ
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT
Chuyên đề: Phân tích biến thể âm đầu trong các
phương ngữ của tiếng Việt và đặc trưng biến thể
âm đầu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
ĐÀ NẴNG – 2021
Trang 2BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT
Chuyên đề: Phân tích biến thể âm đầu trong các
phương ngữ của tiếng Việt và đặc trưng biến thể
âm đầu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
ĐÀ NẴNG – 2021
Trang 3
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Lịch sử vấn đề: 1
3 Mục đích nghiên cứu: 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu: 2
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
6 Phương pháp nghiên cứu: 2
7 Đóng góp của tiểu luận: 2
8 Bố cục bài tiểu luận: 2
NỘI DUNG 2
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 2
1.1 ĐẶC TRƯNG NGỮ ÂM TỔNG QUÁT CỦA CÁC ÂM ĐẦU: 2
1.2 PHÂN LOẠI HỆ THỐNG ÂM ĐẦU: 3
1.3 CÁC GIẢI PHÁP ÂM VỊ HỌC ÂM ĐẦU TRONG TIẾNG VIỆT: 5
1.4 SỰ THỂ HIỆN BẰNG CHỮ VIẾT CỦA CÁC ÂM ĐẦU: 6
1.5 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NGÔN NGỮ: 8
1.5.1.Ngôn ngữ toàn dân: 8
1.5.2.Tính chuẩn mực của ngôn ngữ: 8
1.6 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG NGỮ: 8
1.6.1.Phương ngữ: 8
1.6.2.Việc phân chia các vùng phương ngữ: 8
Chương 2: BIẾN THỂ CỦA CÁC ÂM ĐẦU TRONG CÁC PHƯƠNG NGỮ CỦA TIẾNG VIỆT: 9
2.1 BIẾN THỂ CỦA CÁC ÂM ĐẦU TRONG CÁC PHƯƠNG NGỮ: 10
2.1.1.Âm môi răng /v/: 10
2.1.2.Âm đầu lưỡi – răng và đầu lưỡi – lợi: 10
2.1.3.Cặp âm mũi và phi mũi: 10
2.1.4.Âm mũi ngạc cứng hữu thanh: 10
Trang 4
2.1.5.Âm tắc đôi một vô thanh: 11
2.1.6.Âm quặt lưỡi: 11
2.1.7.Âm mặt lưỡi: 12
2.1.8.Âm tắc thanh hầu vô thanh: 12
2.1.9.Phụ âm + cụm /w/: 12
2.1.10.Hiện tượng ngạc hóa và môi hóa: 13
2.2 HỆ THỐNG BIẾN ĐỔI PHỤ ÂM ĐẦU Ở MỘT SỐ VÙNG PHƯƠNG NGỮ: 13
2.3 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIẾN THỂ ÂM ĐẦU Ở BA PHƯƠNG NGỮ MIỀN BẮC, TRUNG, NAM: 14
2.3.1.Phương ngữ Bắc: 14
2.3.2.Phương ngữ Trung: 14
2.3.3.Phương ngữ Nam: 15
Chương 3: BIẾN THỂ ÂM ĐẦU ĐẦY CHẤT NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 15
3.1 XÁC ĐỊNH VÙNG PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ: 15
3.2 ĐẶC ĐIỂM BIẾN THỂ ÂM ĐẦU TRONG PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ: 15
3.3 VÀI NÉT VỀ CON NGƯỜI VÀ SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ: 16
3.4 NHỮNG BIẾN THỂ ÂM ĐẦU TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ:… 17
3.5 GIÁ TRỊ CỦA BIẾN THỂ ÂM ĐẦU NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ: 18
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 5cá nhân vừa mang tính cộng đồng địa phương nơi họ gắn bó hoặc yêu mến.
Văn chương là một nghệ thuật ngôn ngữ Đó là ngôn từ của các tác phẩm văn học, của thế giớinghệ thuật, kết quả sáng tạo của nhà văn Sức mạnh của nghệ thuật không phải là sao chép cuộcsống một cách đơn giản một chiều mà đã được khúc xạ qua lăng kính của tác giả Vẻ đẹp củacác tác phẩm văn học là vận dụng ngôn ngữ một cách điêu luyện, tài hoa Ngôn ngữ là công cụ,
là chất liệu cơ bản của văn học Trong tác phẩm, ngôn ngữ thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn.Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn tiêu biểu góp phần cho kho tàng truyện ngắn Việt Nam hiện đại vàgóp phần thay đổi diện mạo truyện ngắn ở thế kỷ 21 Phương ngữ trong truyện ngắn củaNguyễn Ngọc Tư không chỉ là ngôn ngữ của nhân vật mà là ngôn ngữ của người kể chuyện, củatác giả Đọc truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư ta sẽ thấy đậm chất Nam Bộ bởi ngôn ngữ Nam Bộ
đã tạo nên một cảnh vật, một tính chất rất Nam Bộ
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài nói về “Phân tích biến thể âm đầu trong các phương ngữ của tiếng Việt và đặc trưng biến thể âm đầu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư” để
nghiên cứu với mong muốn góp phần nhỏ bé vào lĩnh vực nghiên cứu biến thể âm đầu và vănchương Nguyễn Ngọc Tư
2 Lịch sử vấn đề:
Biến thể âm đầu trong các phương ngữ của tiếng Việt đã được các nhà ngôn ngữ học trong vàngoài nước nghiên cứu và đưa ra các kết luận, các quan điểm rất nhiều, nhưng vẫn chưa có kếtluận nào là tối ưu cho các giải pháp âm vị âm đầu và biến thể của âm đầu trong các phương ngữ
là một nội dung rất rộng, mỗi vùng miền, tỉnh thành trên Việt Nam lại có biến thể âm đầu riêngbiệt nên để bao quát toàn bộ chúng thực sự không phải việc đơn giản
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã trở thành cái tên quen thuộc với bạn đọc, đặc biệt là miềnNam với phong cách Nam Bộ rất mộc mạc và bình dị, hiện nay có rất nhiều công trình nghiên
Trang 64 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Khái quát được một cách đầy đủ về những vấn đề liên quan đến biến thể âm đầu trong cácphương ngữ của tiếng Việt Tìm ra được nét độc đáo cá nhân trong truyện ngắn của NguyễnNgọc Tư
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận là phân tích biến thể âm đầu trong các phương ngữ củatiếng Việt và đặc trưng biến thể âm đầu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
Phạm vi nghiên cứu là các quan điểm, các cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài đã được các nhànghiên cứu ngôn ngữ nghiên cứu thông qua các sách, báo, bài viết và tìm hiểu những đặc trưngngôn từ trong các tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
6 Phương pháp nghiên cứu:
Bài tiểu luận sử dụng linh hoạt các phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phươngpháp so sánh, phương pháp đánh giá – khái quát, phương pháp hệ thống – cấu trúc, phươngpháp khảo sát, phương pháp phân loại
7 Đóng góp của tiểu luận:
Tiểu luận giúp có cái nhìn cụ thể hơn về các biến thể âm đầu trong tiếng Việt tùy thuộc vào từngvùng miền, qua đó cho thấy sự đa dạng và phong phú của tiếng Việt Thông qua đặc trưng vềbiến thể âm đầu được Nguyễn Ngọc Tư sử dụng đưa vào văn chương giúp người đọc hiểu rõhơn về phong cách nghệ thuật ngôn từ của tác giả
8 Bố cục bài tiểu luận:
Bài tiểu luận gồm mục lục, tài liệu tham khảo, nội dung và kết luận Trong đó nội dung bài tiểuluận được chia làm 3 chương cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Biến thể của các âm đầu trong các phương ngữ của tiếng Việt
Chương 3: Biến thể âm đầu đầy chất Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Trang 7
1.1 ĐẶC TRƯNG NGỮ ÂM TỔNG QUÁT CỦA CÁC ÂM ĐẦU:
Tất cả các âm tiết tiếng Việt về mặt cấu âm đều bắt đầu bằng động tác khép lại, dẫn đến chỗ cảntrở không khí hoàn toàn hoặc bộ phận, sau đó mở ra, tạo nên một hiệu quả âm học, một tiếngđộng đặc thù Cách mở đầu của những âm tiết như “bút”, “chì”, “học”, “sinh” là những ví dụ đểminh họa
Những âm tiết như “ăn”, “uống”, “uể”, “oải” cũng bắt đầu bằng động tác khép kín khe thanh,
sau đó mở ra đột ngột, gây nên một tiếng bật Sự cản trở không khí này về thực chất cũng giốngnhư cách cấu âm của [b, t,k] ở đầu âm tiết, sự khác nhau chỉ ở vị trí cấu âm: một đằng không khí
bị cản trở ở môi, hoặc ở răng, hoặc ở ngạc mềm, một đằng không khí bị cản trở ở thanh hầu.Hiện tượng tắc thanh hầu trước khi phát âm [ă] , [uo] trong những âm tiết “ăn”, “uống” thườngđược coi như thuộc tính của nguyên âm nhưng thực ra nó có đầy đủ đặc tính của một phụ âm,xét về mặt cấu âm và hoàn toàn đủ tư cách để tồn tại như một âm vị độc lập, đóng vai trò âmđầu Như vậy, phẩm chất ngữ âm chung của các âm đầu là tính phụ âm Nói khác đi, các âm vịđảm nhiệm thành phần âm đầu của âm tiết tiếng Việt bao giờ cũng là các phụ âm
Các âm đầu trong tiếng Việt hiện đại đều là phụ âm và là các phụ âm đơn Trong quá khứ,
tiếng Việt đã từng có âm đầu là phụ âm đôi Qua cuốn từ điển Việt-Bồ-Latin của Alenxandre
de Rhodes, vào thế kỷ 17, tiếng Việt vẫn còn các phụ âm đôi như: bl, tl, ml…(ví dụ: “blời”
(trời),” “tlâu” (trâu), “mlẽ” (lẽ),…) Nay các phụ âm này đã biến thành âm đơn
1.2 PHÂN LOẠI HỆ THỐNG ÂM ĐẦU:
Tiếng Việt có tất cả 23 phụ âm làm nhiệm vụ âm đầu Đó là /p, b, m, f, v, t, t’, d, n, z, ʐ, s, ş, c, ʈ,
Trang 8
+ Môi – môi: /p, b, m/
+ Môi – răng: /f, v/
+ Đầu lưỡi – lợi (bẹt): /t, d, n, s, t’, z, l/
+ Đầu lưỡi – ngạc (quặt): / ʈ, ş, ʐ/
Gốc lưỡi
Thanh hầu Môi Răn
Vôthan
Hữuthan
Trang 9/f/: phụ âm xát, ồn, vô thanh, môi – răng
/ ɲ/: phụ âm tắc, vang mũi, mặt lưỡi
/ ʐ/: phụ âm xát, ồn, hữu thanh, đầu lưỡi – ngạc
1.3 CÁC GIẢI PHÁP ÂM VỊ HỌC ÂM ĐẦU TRONG TIẾNG VIỆT:
Giải pháp có 23 âm đầu trong tiếng Việt như mục 1.2 trên, thừa nhận âm /ʔ/ (tắc thanh hầu), ởnhững âm tiết được chữ viết ghi bắt đầu bằng nguyên âm như “ăn”, “uống” Sự thừa nhận tưcách âm vị của /ʔ/ làm cho /h/ có đôi, tạo nên một thế cân đối trong hệ thống: ở bất kỳ vị trí nàotối thiểu cũng có hai âm vị đối lập và tiêu chí tắc/ xát được tận dụng đến mức tối đa Đối vớinhững từ kép láy kiểu “lục ục” sự tồn tại của /ʔ/ như một phụ âm đầu cho ta một cách miêu tảnhất quán với mọi trường hợp Nói ngắn gọn là với âm vị /ʔ/ cách miêu tả các từ kép láy sẽ đơngiản và thống nhất Giải thuyết /ʔ/ như một âm vị còn đưa đến xây dựng được một mô hình tổngquát của âm tiết với ba thành tố trực tiếp của âm tiết (thanh điệu, âm đầu, và vần) bao giờ cũng
có mặt Đó là chưa kể đến thế tất yếu phải thừa nhận /ʔ/ như một âm vị phụ âm đầu đối vớinhững ai muốn nói đến sự thể hiện môi hóa của phụ âm trong những âm tiết có yếu tố [u] trướcnguyên âm như “khoản, toán” Nếu không, chúng ta sẽ lúng túng hoặc giải thuyết không nhấtquán khi gặp những âm tiết như “uể, oải”
Trang 10
Giải pháp có 21 âm đầu: L.C.Thompson cho rằng âm đầu /ʔ/ chẳng những tồn tại trong các âmtiết kiểu “uể, oải” mà cả các âm tiết kiểu “bầu, đàn” nghĩa là trước những phụ âm vốn được coi
là hữu thanh hoặc lơi Quả thực trong cách phát âm các âm tiết kiểu thứ hai, trước khi các phụ
âm được thể hiện, ở thanh hầu đã xuất hiện một âm thanh nào đó so sự hoạt động của dây thanh.Hiện tượng này cũng được một số tác giả nhận thấy và được gọi là “tiền thanh hầu hóa”(preglottalization) L.C Thompson đã gán cho nó một giá trị âm vị học thay thế cho tính hữuthanh của phụ âm và tách riêng nó thành âm vị độc lập, vì vậy các phụ âm /d, b/ sẽ được thaythế bằng những tổ hợp âm vị /ʔt, ʔp/ Cách giải thuyết này có ưu điểm là hệ thống âm vị phụ âmđầu sẽ rút đi được hai âm vị Tuy nhiên khó có thể coi là một giải pháp tốt Trước hết, cần thấyngay rằng hiện tượng “tiền thanh hầu hóa” khác với hiện tượng “tắc thanh hầu” về bản chất.Thứ hai, nếu hiện tượng “tiền thanh hầu hóa” có xảy ra đồng thời với tính hữu thanh của cácphụ âm đầu thì chỉ nên coi là một nét rườm (redonant) chứ không thể thay thế cho tính hữuthanh, vốn vẫn là một tiêu chí khu biệt được sử dụng thường xuyên trong tiếng Việt và tạo nêntính cân đối của hệ thống Thứ ba, cách giải quyết này đưa ra những nhóm phụ âm đầu, mộtđiều trái với khuôn mẫu chung của cấu trúc âm tiết tiếng Việt Ngoài tổ hợp âm vị /ʔt, ʔp/ đangđược thảo luận sẽ không bắt gặp được ở đâu những nhóm phụ âm đầu như trong các ngôn ngữ
Ấn Âu Tập quán ngôn ngữ này lộ rõ phong cách phát âm sai lạc phổ biến củ người Việt khi gặpnhững tổ hợp phụ âm trong các ngôn ngữ trên Cuối cùng, với giải pháp này đang xét, tuy tiếtkiệm được 2 âm vị nhưng lại sa vào một cách miêu tả cấu trúc âm tiết phức tạp với số lượng cácthành phần cồng kềnh
Giải pháp có 22 âm đầu trong tiếng Việt như bảng 1.2 và không có /p/: âm này có thể gặp trongmột số từ phiên âm từ tiếng nước ngoài như đèn “pin”, “pa – tê” Số lượng từ như vậy khôngnhiều, /p/ thường được thay bằng /b/, đèn “bin”, “ba tê” Trong danh mục âm vị phụ âm củanhiều tác giả thường có /p/, đấy lại là một vấn đề khác Đa số các tác giả coi các âm vị đứng đầu
âm tiết và đứng cuối âm tiết là một và khi liệt kê các phụ âm thì ngoài âm vị, theo họ có thể vừađứng đầu vừa đứng cuối (t, k, m, n, ŋ) họ kể thêm cả /p/, vốn chỉ đứng cuối Điều đó có nghĩa làmặc dù liệt kê /p/ nhưng các tác giả không hề nói rằng /p/ có thể làm âm đầu trong tiếng Việt.Cũng có tác giả giải thuyết [p-t] như những biến thể vị trí của cùng một âm vị, đây là giải thuyếtkhông có cơ sở Trong tiếng Việt, không tìm thấy một lí do gì để sát nhập các âm tố đứng đầu
và đứng cuối âm tiết vào một âm vị
Ngoài ra còn có các giải pháp âm vị học âm đầu như: 21 âm đầu (ngoại trừ /p/ và /ʔ/), 22 âm đầu(ngoại trừ /ʔ/),…
1.4 SỰ THỂ HIỆN BẰNG CHỮ VIẾT CỦA CÁC ÂM ĐẦU:
Trang 121.5.1 Ngôn ngữ toàn dân:
Tiếng Việt chuẩn hóa được coi là ngôn ngữ chung (tiếng Việt phổ thôn) hay ngôn ngữ toàn dânphân việt với ngôn ngữ được dùng ở các địa phương – thường được gị là phương ngữ, Ngônngữ toàn dân với chức năng là công cụ giao tiếp giữa người với người, sử dụng các phương tiệnngôn ngữ phải được thống nhất giữa mọi thành viên trong cộng đồng Đó là những ràng buộchiển nhiên được cộng đồng ngôn ngữ thừa nhận và tuân theo tỏng hoạt động ngôn ngữ Ngônngữ toàn dân mang tính chuẩn hóa và thống nhất Nó là sự pha trộn, tập trung các phương ngữcủa tất cả các vùng miền, tromg đó có một phương ngữ chiếm vai trò chủ đạo Ngôn ngữ nàytrùng khít với ngôn ngữ toàn dân Trong tiếng Việt, phương ngữ vùng Bắc Bộ, chủ yếu là tiếng
Hà Nội chuẩn chiếm vai trò chủ đạo
1.5.2 Tính chuẩn mực của ngôn ngữ:
Chuẩn ngôn ngữ như một tổng thể những khả năng diễn đạt phù hợp với cấu trúc ngôn ngữ mà
xã hội lựa chọn, đánh giá và chấp nhận Có nhiều cách xây dựng ngôn ngữ chuẩn, nhưng thôngthường nó được xây dựng trên một phương ngữ tiêu biểu của ngôn ngữ dân tộc, người ta gọi làngôn ngữ cơ sở Quan hệ giũa chuẩn và biến thể địa phương thực chất và chủ yếu là quan hệgiữa biến thể của phương ngữ cơ sở với các biến thể của các phương ngữ khác
Trang 13
mà còn biểu thị cả những biến thể xã hội của ngôn ngữ: trong một cộng đồng ngôn ngữ, ngônngữ có thể được các thành viên của những nhóm xã hội khác nhau nói một cách khác nhau ỞVương quốc Anh, thuật ngữ dialect chỉ bao gồm những đặc trưng về ngữ pháp và từ vựng, cònđặc trưng về phát âm được xử lý dưới một cái nhãn hoàn toàn khác: giọng (accent) Ở Mĩ, giọngđược xem như là một bộ phận của tiếng địa phương Ở Việt Nam, các nhà Việt ngữ học miêu tảcác tiếng địa phương về tất cả các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và ngữ nghĩa
1.6.2 Việc phân chia các vùng phương ngữ:
Tiếng Việt có bao nhiêu vùng phương ngữ khác nhau, đây là vấn đề mà các nhà nghiên cứu
cũng chưa hoàn toàn thống nhất, có nhiều ý kiến khác nhau, cụ thể như sau: Hoàng Thị Châu,
Võ Xuân Trang, Trần Thị Ngọc Lang và nhiều tác giả khác chia tiếng Việt theo ba phương
ngữ: phương ngữ miền Bắc, phương ngữ miền Trung và phương ngữ miền Nam
Có ý kiến chia tiếng Việt thành hai vùng phương ngữ: tiếng miền Bắc và tiếng miền Nam(Hoàng Phê) Nguyễn Kim Thản thì chia tiếng Việt thành bốn vùng phương ngữ: phương ngữBắc, phương ngữ Trung Bắc, phương ngữ Trung Nam và phương ngữ Nam Nguyễn Bạt Tụy,Huỳnh Công Tín chia tiếng Việt thành năm vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc, phương ngữTrung trên, phương ngữ Trung dưới, phương ngữ Trung giữa và phương ngữ Nam Các ý kiến,quan điểm trên đều lấy trước hết ngữ âm là tiêu chí chính để phân chia các vùng phương ngữ.Nếu lấy thêm tiêu chí từ vựng – ngữ nghĩa, ngữ pháp thì cũng chỉ dừng ở những vùng phươngngữ lớn mà thôi Đó là phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam
Do lịch sử hình thành và phát triển khác nhau giữa các vùng miền Tiếng Việt gặp phải những
khó khăn khi phân chia các vùng phương ngữ Cho đến nay, dựa trên những điều đã biết,
chúng ta có thể phân chia tiếng Việt thành các vùng phương ngữ như cách phân chia của
Hoàng Thị Châu là có ba vùng phương ngữ chính:
- Phương ngữ Bắc: Bắc Bộ
- Phương ngữ Trung: từ Thanh Hóa đến bắc đèo Hải Vân
- Phương ngữ Nam: Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
1.7 KHÁI NIỆM BIẾN THỂ ÂM VỊ:
Biến thể âm vị (allophone) là một trong những hình thức khác nhau của một âm vị Nếu sự khácnhau về âm không gây ra sự khác nhau về nghĩa trong một ngôn ngữ thì nó không có giá trị khubiệt Những âm không khu biệt là những thành tố của cùng một âm vị, được gọi là các biến thểcủa âm vị Các ngôn ngữ khác nhau có hệ thống âm vị khác nhau Các â m vị khác nhau ở ngônngữ này có thể chỉ là những biến thể âm vị ở ngôn ngữ kia Hay nói một cách dễ hơn thì âm
vị được thể hiện ra bằng các âm tố, những âm tố khác nhau cùng thể hiện một âm vị đượcgọi là các biến thể của âm vị
Về biến thể ngữ âm, theo Nguyễn Thiện Giáp đó là: “Những sự biến dạng của từ về mặt ngữ âm
và cấu tạo từ chứ không phải là những hình thái ngữ pháp của nó Ở đây, có hiện tượng cùng