1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Theo các bạn vệ sinh tâm lí cho lứa tuổi nào là quan trọng nhất, phân tích rõ vì sao hãy phân tích những biện pháp vệ sinh tâm lý cho những lứa tuổi đó

23 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 316,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi ra đời, tuy về mặt sinh học, đứa trẻ đã là một con người; song về mặt tâm lý, nhân cách, đây mới là giai đoạn đầu của quá trình hình thành và hoàn thiện.. Thực tế cho thấy, đôi khi h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BUÔN MA THUỘT

KHOA Y - -

TIỂU LUẬN TÂM LÍ Y HỌC ĐỀ: THEO CÁC BẠN VỆ SINH TÂM LÍ CHO LỨA TUỔI NÀO LÀ QUAN TRỌNG NHẤT, PHÂN TÍCH

RÕ VÌ SAO? HÃY PHÂN TÍCH NHỮNG BIỆN PHÁP

VỆ SINH TÂM LÝ CHO NHỮNG LỨA TUỔI ĐÓ Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Tú Trang

Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 1

Lớp :21YA1ĐakLak, 27 tháng 03 năm 2022

Trang 2

Nhóm sinh viên thực hiện gồm:

Trang 3

MỤC LỤC

I Tìm hiểu chung về vệ sinh tâm lí và lứa tuổi quan trọng để thực hiện vệ sinh tâm lí.

I.1 Vệ sinh tâm lí là gì?Vai trò của vệ sinh tâm lí

I.2 Những đối tượng của vệ sinh tâm lí

I.3 Lứa tuổi quan trọng để thực hiện vệ sinh tâm lí

I.4 Lứa tuổi quan trọng để thực hiện vệ sinh tâm lí.

II Tại sao cần phải thực hiện vệ sinh tâm lí cho lứa tuổi từ 11-14?

II.1.Đặc điểm tâm lý và sự phát triển của trẻ vị thành niên

II.2.Lý do 1: ảnh hưởng từ việc học, thích nghi với phương pháp học tập mới.II.3.Lý do 2: hình thành “cái tôi”, bắt đầu mong muốn sự tự do, thoát khỏi sự kèm cặp của bố mẹ

II.4.Lý do 3: Nhận thức về giới tính

II.5.Lý do 4: Ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài

II.6.Lý do 5: Thời đại công nghệ phát triển nhanh

II.7.Lý do 6: Cha mẹ bỏ bê con cái, không quan tâm đến việc học tập của con.II.8.Lý do 7: Xem thường sức khỏe, mạng sống

III Hãy phân tích những biện pháp vệ sinh tâm lý cho lứa tuổi đó ?

Trang 4

NỘI DUNG

I.Tìm hiểu chung về vệ sinh tâm lí và lứa tuổi quan trọng để thực hiện vệ sinh tâm lí.

I.1 Vệ sinh tâm lí là gì?

 Các rối loạn tâm lý do nhiều nguyên nhân gây ra Có những nguyên nhân gâybệnh rõ ràng như nhiễm khuẩn, tâm chấn (sang chấn tâm thần) mãnh liệt, Lại

có những yếu tố thuận lợi như: nhân cách yếu, ảnh hưởng xấu của tệ nạn xã hội

và giáo dục không đúng, tâm chấn nhẹ nhưng kéo dài, thể trạng suy yếu Vệsinh tâm lý nhằm củng cố hệ thần kinh và loại trừ các nhân tố thuận lợi cho cácrối loạn tâm lý và bệnh tâm thần phát sinh

 Người khoẻ mạnh là người có trạng thái thoải mái về cơ thể, tâm lý và xã hội

Vệ sinh tâm lý chính là hệ thống các biện pháp củng cố, tăng cường sức khoẻtâm lí và sức khoẻ thể chất của con người

I.2 Vai trò của vệ sinh tâm lí.

 Vệ sinh tâm lý có nhiệm vụ chủ yếu là giữ gìn sức khoẻ của hoạt động tâm lý của con người, phòng ngừa các bệnh tâm lý “Vệ sinh tâm lý” theo nghĩa rộng

là giữ gìn và nâng cao năng lực thích ứng của con người với môi trường xung quanh, đảm bảo cho con người sống khoẻ, sống lâu và sống có ích, nâng cao tốchất tâm lý và thể chất của giống nòi

 Nhiệm vụ của vệ sinh tâm lý :

 Tạo điều kiện cho con người phát triển nhân cách khoẻ mạnh, hài hoà

 Phát triển khả năng lao động, ngăn ngừa mệt mỏi, quá sức và các tác động

 stress

 Giáo dục mối quan hệ phù hợp giữa ý trí và tình cảm

 Hướng dẫn những thói quen có ích, ngăn ngừa thói quen xấu

 Nội dung vệ sinh tâm lý phong phú và phức tạp Những nội dung này gắn liền với các lĩnh vực hoạt động, các giai đoạn trưởng thành, với hoàn cảnh và điều kiện sống cụ thể của mỗi người Nó liên quan chặt chẽ với vấn đề vệ sinh lao động, vệ sinh môi trường, phòng và chữa bệnh cho con người

I.3 Những đối tượng của VSTL:

I.3.1 Vệ sinh tâm lý lứa tuổi

Trang 5

a) Vệ sinh tâm lý lứa tuổi nhỏ

 Sự quan tâm đến sức khoẻ tâm lý của trẻ được bắt đầu từ lúc người mẹ mang thai Trạng thái tâm lý của mẹ có ảnh hưởng nhất định đến thai nhi, nhất là những tháng cuối Lúc mang thai người mẹ không những tránh làm các việc nặng nhọc về thể lực mà còn phải tránh cả những gánh nặng về tâm lý, những tác động stress bệnh lý Khi ra đời, tuy về mặt sinh học, đứa trẻ đã là một con người; song về mặt tâm lý, nhân cách, đây mới là giai đoạn đầu của quá trình hình thành và hoàn thiện

 Nhờ có những tiến bộ của khoa học, của đời sống xã hội nên ngày nay, nhiều

bà mẹ đã biết cách nuôi dưỡng, giáo dục con cái; biết cách tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc phát triển nhân cách của trẻ Trong giai đoạn phát triển này, những biện pháp vệ sinh tâm lý cần đan xen và liên hệ chặt chẽ với các biện pháp giáo dục khoa học

 Cần hết sức tránh tạo ra những thói quen xấu cho trẻ Những nhu cầu thiết yếu của trẻ cần cố gắng đáp ứng đầy đủ, kịp thời; còn những nhu cầu khác cần đáp ứng có chọn lọc và không nên gây cho trẻ thói quen đòi gì được nấy Cần dần dần hình thành thói quen tự lập cho trẻ

 Đặc biệt không nên dùng những hình phạt nặng nề đối với trẻ, kể cả những hình phạt tâm lý Vì những hình phạt này có thể để lại hậu quả xấu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển nhân cách của trẻ em Thực tế cho thấy, đôi khi hình phạt trở thành nguyên nhân bệnh rối loạn tâm căn, bệnh nhân cách của trẻ.b) Vệ sinh tâm lý tuổi thiếu niên:

 Ở lứa tuổi này, nhân cách của trẻ được phát triển một cách mạnh mẽ, trẻ đã tự

ý thức, đã bắt đầu hình thành các quan niệm về cuộc sống rõ ràng hơn và quan hệ xã hội bước đầu được mở rộng

 Hoạt động chủ đạo của trẻ lúc này là học tập Các biện pháp vệ sinh tâm lý được đan xen với hoạt động học tập và tổ chức học tập cho trẻ Cần tránh tạo

ra gánh nặng trí tuệ và tránh thúc ép các em học quá sức các môn học văn hoá, thể thao, âm nhạc, hội hoạ

 Lứa tuổi này trẻ dễ có những khủng hoảng tâm lý đi kèm với những biến đổi mạnh mẽ về sinh lý Đối với trẻ em gái, nếu không được chuẩn bị chu đáo về tâm lý cho lần thấy kinh nguyệt đầu trên thì các em dễ bị những mặc cảm nặng nề Ở em trai, sự phát triển tâm lý giới tính cũng chuyển sang thời kỳ mới Nếu các em bị những tác động xấu của video đen, phim ảnh đồi truỵ thì dễ có những hành vi chống đối xã hội, phi đạo đức

c) Vệ sinh tâm lý lứa tuổi thanh niên và trưởng thành:

Trang 6

 Lứa tuổi thanh niên được đánh dấu bằng sự trưởng thành về tất cả các mặt của con người Về mặt xã hội họ đã là một thành viên chính thức, tham gia tích cựcvào các lĩnh vực hoạt động khác nhau của họ Họ được công nhận là công dân

và vì thế họ dần dần có định hình về ý thức cũng như các quan niệm xã hội Nhiều người trong số họ lần đầu tiên tách khỏi gia đình, trở thành con người sống độc lập (độc lập về kinh tế, về dự định cuộc sống, tự mình quyết định suy nghĩ, hành động) Ở giai đoạn trưởng thành, con người phát triển và hoàn thiện hơn các nhân tố tâm lý và cơ thể Đối với giai đoạn phát triển tuổi này, vệ sinh tâm lý gắn liền với từng loại hình hoạt động cụ thể mà cá nhân tham gia như hoạt động lao động, học tập vui chơi

d) Vệ sinh tâm lý người cao tuổi:

Những người cao tuổi có những thay đổi lớn về mặt sinh học và xã hội Hoạt động của các hệ thống tuần hoàn, hô hấp, miễn dịch, nội tiết thay đổi theo hướng suy giảm Về mặt xã hội họ được nghỉ ngơi theo luật định Sự “nghỉ hưu” đã kéo theo những thay đổi trong quan hệ xã hội của họ Những mối quan

hệ công tác nơi công sở trước đây chiếm một tỷ trọng lớn trong đời sống, bây giờ họ chuyển sang những mối quan hệ với bạn bè thời thơ ấu, thuở học sinh, người đồng hương và các quan hệ gia đình, họ hàng

Những thay đổi về sinh học, về xã hội để lại những dấu ấn đậm nét trên những biến đổi về tâm lý Họ có trạng thái thiếu cân bằng trong hoạt động, có mặc cảm bị bỏ rơi, là người thừa, là gánh nặng của gia đình, xã hội, cũng có người đòi hỏi sự đền bù của xã hội và đề cao công lao của mình Sự quan tâm chăm sóc chu đáo của gia đình, xã hội, đặc biệt là do chăm sóc y tế và bảo đảm các chế độ của xã hội, tổ chức hợp lý thời gian nghỉ ngơi có một ý nghĩa vệ sinh tâm lý rất to lớn đối với người cao tuổi

I.3.2 Vệ sinh tâm lý lao động:

 Điều quan trọng của vệ sinh tâm lý lao động là nghề nghiệp phải phù hợp với năng lực và hứng thú của cá nhân Có như vậy thì năng suất mới cao, người lao động mới làm việc một cách sáng tạo và sức khoẻ tâm lý của họ mới đượcduy trì

 Công tác hướng nghiệp cho thanh niên, học sinh không chỉ còn mang lợi ích

về mặt kinh tế mà còn có lợi ích thiết thực về mặt vệ sinh tâm lý

 Bất kỳ một dạng lao động cụ thể nào cũng phải tuân theo những nguyên tắc, những chế độ, kỷ luật nhất định Kỷ luật lao động phải được người lao động ýthức một cách đầy đủ và trở thành nhu cầu thiết yếu, bên trong của hoạt động lao động Kỷ luật và quy trình lao động hợp lý không những là cơ sở để nâng cao năng suất lao động mà còn tạo ra khả năng tự điều chỉnh, thích ứng đối

Trang 7

với hoàn cảnh, giúp ngăn chặn những stress không đáng có của người lao động Những hoạt động lao động đơn điệu như lao động theo dây truyền, đã gây ra mệt mỏi, căng thẳng tâm lý đáng kể cho người lao động Cần bố trí, sắp xếp sao cho các thao tác, nhịp điệu công việc không đơn điệu.

 Cần thực hiện nghiêm túc các quy định vệ sinh lao động đối với tiếng ồn, ánh sáng, nhiệt độ nơi làm việc và các chế độ bảo hộ lao động khác

 Trong bất kỳ loại lao động nào cũng đều có nhu cầu giao tiếp, đây cũng là nhu cầu phát triển, hoàn thiện nhân cách nghề nghiệp của người lao động Việc xây dựng một tập thể lao động đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau để từng người hoàn thành nghĩa vụ và chức trách lao động của mình, không những có lợi về mặt vệ sinh tâm lý mà còn có lợi về mặt sản xuất

 Lao động trí óc là một dạng lao động đặc biệt, mang tính chất cá nhân nhiều hơn Hiệu quả của lao động này phụ thuộc vào từng con người cụ thể Có nhiều người làm việc trong điều kiện một mình, yên tĩnh mới đạt hiệu quả cao; trái lại có những người thích làm việc với đông người, thích trao đổi, bànluận

 Tổ chức lao động hợp lý nhằm mục đích phát huy năng lực tâm thần của cá nhân, đồng thời tránh mệt mỏi thần kinh, suy nhược cơ thể

 Xen kẽ điều hoà lao động trí óc và lao động chân tay, xen kẽ lao động và nghỉngơi, giải trí, thể dục thể thao

 Có chế độ lao động riêng, thích hợp cho từng loại lao động trí óc; có quy chế học tập cho các loại lớp, loại trường v.v

 Song dù trong trường hợp nào thì mỗi cá nhân cũng đều phải có một chế độ lao động, nghỉ ngơi hợp lý Có như vậy cá nhân mới duy trì được nhịp độ, hiệu quả lao động và mới giữ gìn được sức khoẻ, tâm lý

I.3.3 Vệ sinh tâm lý trong sinh hoạt:

 Các biện pháp vệ sinh tâm lý ở đây nhằm đảm bảo một môi trường lành mạnhcho sự phát triển tâm lý, nhân cách của mỗi cá nhân

 Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi cá nhân một mặt phải tôn trọng những nguyên tắc giao tiếp, ứng xử chung, phù hợp với chuẩn mực, đạo đức, văn hoá xã hội; phải tôn trọng sở thích, hứng thú của cá nhân Trong thực tế, chúng ta có thể gặp những bệnh rối loạn thần kinh, tâm thần, thậm trí cả những bệnh thực thể, bắt đầu từ những xung đột, những va chạm thường xuyên trong cuộc sống Một trong những khía cạnh đang nổi lên trong vệ sinhtâm lý sinh hoạt là vấn đề tổ chức vui chơi, giải trí, nhất là khi mỗi tuần có haingày nghỉ Cần phải tổ chức chặt chẽ, lành mạnh các hoạt động thể thao, văn nghệ, hội hè Cần chú trọng vệ sinh nhà cửa, chỗ làm việc (thoáng khí, ít trếng ồn, mát mẻ ), mặc đủ ấm, chế độ ăn uống hợp lý

 Đặc biệt chú trọng đến giấc ngủ: ngủ đúng giờ, loại trừ các kích thích xấu làmảnh hưởng đến giấc ngủ

Trang 8

 Cần tránh những ảnh hưởng xấu của sách báo, tranh ảnh, phim video có nội dung kích động bạo lực hoặc tình dục Cần xây dựng phong trào mọi người thực hiện chương trình phòng tránh các tệ nạn xã hội, nhất là phòng chống các tệ nạn ma tuý, mại dâm

I.3.4 Vệ sinh tâm lý gia đình:

 Vệ sinh tâm lý gia đình nhằm tạo nên một môi trường tâm lý thuận lợi cho sự phát triển nhân cách hài hoà của các thành viên trong gia đình, nhất là cho contrẻ Vấn đề vệ sinh tâm lý ở đây bao hàm cả vấn đề mọi người trong gia đình quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và vấn đề gia đình làm công tác giáo dục con cái

 Quá nuông chiều hay quá nghiêm khắc (mắng chửi, đánh đập) đều là hai cách giáo dục không đúng trong gia đình Quá nuông chiều hay quá tâng bốc sẽ hình thành tính cách xấu cho đứa trẻ, tạo điều kiện cho các bệnh tâm căn hysteria phát triển sau này Quá nghiêm khắc sẽ làm cho đứa trẻ nhút nhát lo

sợ, tự ti, mất sáng kiến, tạo điều kiện cho bệnh tâm căn suy nhược tâm thần phát triển sau này

 Cần giáo dục tính tập thể cho trẻ em, không nên kiềm chế mọi hoạt động của trẻ như không cho trẻ chơi, không cho làm, luôn giữ trẻ ở trong nhà, làm cho đứa trẻ trở nên thụ động, ỷ lại vào bố mẹ, không có khả năng tự lập, thiếu bảnlĩnh về sau dễ bị lôi kéo vào chuyện xấu xa

 Tuỳ từng lứa tuổi, tuỳ sức khoẻ động viên đứa trẻ lao động, tự giải quyết khó khăn rèn luyện lòng dũng cảm, trí kiên cường, chịu đựng gian khổ, tính tự giác, tính tổ chức, năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm và cả sự quyết đoán trong mọi tình huống

 Giáo dục gia đình cần phải kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với giáo dục nhà trường và đoàn thể, tập thể Đối với thanh thiếu niên ở lứa tuổi dậy thì và sau tuổi dậy thì, phải biết kết hợp khéo léo, giáo dục thái độ đúng đắn trong

những vấn đề tình bạn, tình yêu, tình đồng chí; sống chân thực, tử tế, nhân hậu, có lòng vị tha, sống có trách nhiệm với bạn bè, với tập thể, tránh xu hướng chỉ biết sống gấp, chủ nghĩa thực dụng,

 Đặc biệt với nữ giới, phải giải thích các biến đổi tâm sinh lý qua các giai đoạnphát triển sinh dục (lúc bắt đầu có kinh, hành kinh, thai nghén, tắt kinh, ) để tránh sự bỡ ngỡ, lo lắng quá mức trước các biến đổi ấy

I.4 Lứa tuổi quan trọng để thực hiện vệ sinh tâm lý:

 Giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ em từ 12 đến 15 tuổi Đây là giai đoạn có nhiều biến động nhất trong sự phát triển của trẻ (biến đổi về tâm lý và thể

Trang 9

chất) Những diễn biến phát triển tâm lý trẻ em giai đoạn này cũng khá phức tạp, bị ảnh hưởng và chi phối bởi nhiều yếu tố chủ quan và khách quan để chuẩn bị cho quá trình dậy thì, trưởng thành Vì vậy việc thực hiện vệ sinh tâm lý ở lứa tuổi này rất quan trọng.

II Tại sao cần phải thực hiện vệ sinh tâm lí cho lứa tuổi từ 11-14?

II.1 Đặc điểm tâm lý và sự phát triển của trẻ vị thành niên.

 Đặc điểm tâm lý của trẻ ở giai đoạn này rất phức tạp, vì vậy trẻ cần có sựquan tâm, hỗ trợ và hướng dẫn của người lớn giúp các em từng bước tự chủtrong mọi hoạt động Một chỗ dựa tình cảm vững chắc sẽ giúp các em thoảimái và có những suy nghĩ tích cực hơn trong giai đoạn này

a) Sự phát triển của trẻ:

 Trong giai đoạn thanh thiếu niên, các vùng nào điều khiển cảm xúc phát triển

và trưởng thành Giai đoạn này được đặc trưng bởi những bộc phát do tự phát

mà có là thách thức đối với cha mẹ và giáo viên, những người thường xuyên phải hứng chịu Thanh thiếu niên dần học cách kiềm chế những suy nghĩ và hành động không phù hợp và thay thế chúng bằng những hành vi định hướng

có mục tiêu

 Khía cạnh tăng trưởng về cảm xúc được thử nghiệm nhiều nhất, thường

xuyên thử thách sự kiên nhẫn của cha mẹ, thầy cô Tính không ổn định về cảm xúc là một kết quả trực tiếp của sự phát triển thần kinh trong thời kỳ này,như là phần của não kiểm soát sự trưởng thành cảm xúc Sự thất vọng cũng cóthể xảy ra từ sự tang trưởng trong nhiều lĩnh vực

 Một xung đột lớn có thể xaỷ ra giữ mong muốn có them tự so của trẻ vị thànhniên và bản năng mạnh mẽ của cha mẹ để bảo vệ con cái của họ khỏi những nguy hại Cha mẹ có thể giúp đỡ trẻ bằng việc nói chuyện với con về vai trò của họ và từ từ cho phép các con của họ được hưởng nhiều đặc quyền hơn cũng như mong muốn trẻ có trách nhiệm cao hơn với bản thân và gia đình.b) Sự phát triển tâm lý và xã hội:

 Gia đình là trung tâm của đời sống xã hội cho trẻ em, trong giai đoạn vị thànhniên, nhóm bạn cùng tuổi bắt đầu đặt gia đình như là mối quan tâm xã hội hang đầu của trẻ Các nhóm bạn cùng tuổi thường được thiết lập vì có sự khácbiệt về trang phục, ngoại hình, thái độ, sở thích, mối quan tâm Các nhóm này

có vai trò quan trọng đối với thanh thiếu niên trong các tình huống căng thẳng

Trang 10

 Thanh thiếu niên tự thấy mình không có một nhóm bạn bè thân đồng trang lứa

có thể cảm thấy cô lập và khác biệt Mặc dù những cảm giác này thường không kéo dài nhưng chúng có thể tăng khả năng xảy ra các hành vi không phù hợp hoặc phản xã hội

c) Phát triển hành vi và trí tuệ:

 Vào giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên ,trẻ bắt đầu phát triển khả năng tư duy trừu tượng , tư duy logic Suy nghĩ phức tạp ngày càng tang này dẫn đến tang cường nhận thức về bản thân và khả năng phản ánh về cái tôi cá

nhân Do nhiều thay đổi thể chất đáng chú ý của trẻ vị thành niên ,sự tự nhận thức này thường chuyển thành ý thức tự giác , kèm theo cảm giác lúng

túng Trẻ vị thành niên cũng có mối bậ tâm vẻ bề ngoài ,sức hấp dẫn và nhạy cảm cao đối với sựu khác biệt so với bạn đồng trang lứa

 Thanh niên cũng áp dụng các khả năng phản ánh của mình vào các vấn đề đạođức Trẻ vị thành niên hiểu đúng và sai là cố định tuyệt đối Các trẻ vị thành niên lớn hơn thường đặt câu hỏi về các chuẩn mực về hành vi và có thể phản đối với những quy tắc truyền thống, dẫn đến sự sững sốt của cha mẹ Một cách lý tưởng các phản ánh này đạt đến đỉnh cao của sự phát triển và cá nhân hóa những quy tắc đạo đức của riêng lứa tuổi vị thành niên

II.2 Lý do 1: ảnh hưởng từ việc học, thích nghi với phương pháp học tập mới.

 Ở học sinh THCS, khối lượng các đối tượng tri giác được tăng rõ rệt Tri giác của các em có trình tự, có kế hoạch và hoàn thiện hơn Các em có khả năng phân tích và tống hợp phức tạp khi tri giác sự vật, hiện tượng Các em đã sử dụng hệ thống thông tin cảm tính linh hoạt tuỳ thuộc vào nhiệm vụ của tư duy Khả năng quan sát phát triển, trở thành thuộc tính ổn định của cá nhân Ghi nhớ chủ định, ghi nhớ ý nghĩa, ghi nhớ logic đang dần được chiếm ưu thếhơn ghi nhớ máy móc

 Trong khi tái hiện tài liệu, học sinh THCS đã biết dựa vào logic của vấn đề nên nhớ chính xác và lâu hơn Các em có khả năng sử dụng các loại trí nhớ một cách hợp lí, biết tìm các phuơng pháp ghi nhớ, nhớ lại thích hợp, có hiệu quả, biết phát huy vai trò của tư duy trong các quá trình ghi nhớ Điều đó đòi hỏi các em cần phải thích nghi với phương pháp học tập mới, khó hơn nhiều

so với tiểu học và dẫn đến việc các em vẫn chưa có đủ thời gian để rèn luyện Thêm vào đó là sự kì vọng quá lớn từ gia đình, áp lực từ nhà trường, từ bạn

bè khiến cho các em cảm thấy stress trong học tập và hậu quả là kết quả học tập sa sút Thế nhưng, nhiều người cho rằng kết quả học tập sa sút, kém đi là

do trẻ lười nhác, ham chơi Tuy nhiên ít phụ huynh nào biết được những áp lực về việc học tập đè nặng trên vai cũng rất dễ khiến trẻ học tập sa sút Sự kỳvọng từ cha mẹ quá mức khiến tinh thần bất ổn, đầu óc căng thẳng một phần nào đó tác động đến trẻ, không thể tiếp thu kiến thức, trí nhớ cũng suy giảm

Trang 11

đi rất nhiều Học tập cao độ, lo lắng bài vở hằng ngày và đau đầu về vấn đề thi cử khiến trẻ khó ngủ thậm chí không ngủ được Đầu óc căng thẳng cộng với chứng mất ngủ kéo dài khiến cho cơ thể trẻ nhanh chóng bị suy nhược về

cả thể chất lẫn tinh thần Bên cạnh đó, một trong những biểu hiện thường thấycủa chứng stress do áp lực học tập chính là trẻ không muốn đến lớp, sợ đi học, không muốn gặp thầy cô Trẻ luôn lo lắng sẽ bị la mắng, trách móc vì bài

vở ở trường, tình hình học tập khiến cho các em muốn trốn tránh, sợ đến trường lớp Áp lực về điểm số, kết quả, cùng sự mong đợi của gia đình tạo áp lực về học tập cho trẻ vô cùng lớn Làm cho các em luôn trong trạng thái mệt mỏi, cảm thấy lo lắng, không tự tin, luôn trong trạng thái bất an và căng thẳngcao độ

 Áp lực học tập, stress cao độ còn có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ tiêu hóa của trẻ bị rối loạn Người thường xuyên ở trạng thái lo lắng, căng thẳng sẽ rất

dễ mắc các bệnh về đường tiêu hóa, luôn cảm thấy ăn uống không ngon miệng, hay bị đầy bụng, buồn nôn Biểu hiện của stress trong học tập tiếp theo mà cha mẹ cần phải nhận biết khi thấy lầm lì, ít nói, giao tiếp với mọi người Theo nghiên cứu của các chuyên gia, có nhiều trẻ khi chịu quá nhiều

áp lực về việc học vô hình khiến chúng trở nên lầm lì, ít nói, ngại giao tiếp và tiếp xúc với mọi người xung quanh, muốn trốn tránh một mình

 Chúng không muốn bất kỳ ai hỏi về việc học hành như kết quả học tập… hoặc có tư tưởng chống đối và trở nên cộc cằn hơn rất nhiều Áp lực của học hành khiến rất nhiều đứa trẻ cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng, không muốn nói chuyện, giao tiếp với bất kỳ ai và có biểu hiện thường xuyên cáu gắt mà không rõ nguyên nhân Những lúc tinh thần bất ổn, lo lắng và mệt mỏi, stress

cao độ thì trẻ rất nhạy cảm nếu ai đó hỏi han, quan tâm về việc học Không phải đứa trẻ nào chịu áp lực cũng sẽ cố gắng để đạt được kết quả như mong muốn hoặc như các bậc phụ huynh đang có suy nghĩ sai lầm Một số đứa trẻ khi bị stress vì học tập quá mức, khiến chúng có những biểu hiện chống đối, các biểu hiện tiêu cực đi kèm xuất hiện, bất hợp tác với bạn bè, thầy cô và giađình

II.3 Lý do 2: hình thành “cái tôi”, bắt đầu mong muốn sự tự do, thoát khỏi

sự kèm cặp của bố mẹ.

Ngày đăng: 25/03/2022, 08:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w