1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận án tiến sĩ) địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản việt nam hiện nay

169 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 435,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hammour 1998 với nghiên cứu "The Macroeconomics of Specificity" tạm dịch: Kinh tế học vĩ mô về tính cụ thể và tác giả Henderson, Vicky 2012 với nghiên cứu ―Prospect theory, liquidation,

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THÁI TRƯỜNG

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA QUẢN TÀI VIÊN

THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 9 38 01 07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN VIẾT TÝ

HÀ NỘI – năm 2022

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sựhướng dẫn của Thầy giáo hướng dẫn khoa học Mọi thông tin được trình bày trongluận án đều có tính trung thực, được trích dẫn nguồn chi tiết và khách quan Tôi xinchịu trách nhiệm nếu luận án có những vi phạm về quy tắc khoa học

Tác giả

Nguyễn Thái Trường

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở phạm vi nước ngoài 8

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở phạm vi trong nước 21

1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 30

1.4 Lý thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 33

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA QUẢN TÀI VIÊN THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN 38

2.1 Khái niệm và đặc điểm địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản 38

2.2 Sự cần thiết ghi nhận địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản 49

2.3 Nội dung địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản 52

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 69

Chương 3: THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA QUẢN TÀI VIÊN THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH 70

3.1 Lược sử hình thành và phát triển địa vị pháp lý của Quản tài viên. 70

3.2 Thực tiễn quy định của pháp luật phá sản Việt Nam về địa vị pháp lý của quản tài viên 72

3.3 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật phá sản Việt Nam về địa vị pháp lý của quản tài viên 102

3.4 Đánh giá thực trạng địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản Việt Nam 118

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 132

Chương 4: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA QUẢN TÀI VIÊN THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY 133

Trang 4

4.1 Bối cảnh xây dựng giải pháp hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lý

của quản tài viên ở Việt Nam hiện nay 1334.2 Những yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lýcủa quản tài viên theo pháp luật phá sản ở Việt Nam hiện nay 1374.3 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lý của quản tài viên theopháp luật phá sản Việt Nam hiện nay 142

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở phạm vi nước ngoài

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến

đề tài luận án

a Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về phá sản

Phá sản (Bankrupt) là chủ đề nghiên cứu phổ biến của học giới các ngành kinh

tế, tài chính DN, ngân hàng và pháp lý trên thế giới Các nghiên cứu có sự đa dạngcấp độ và góc độ tiếp cận đã góp phần làm rõ một cách sinh động và đầy đủ vấn đềphá sản Nghiên cứu lý luận về phá sản vì thế có thể coi là đã phủ lên hầu hết cácvấn đề thuộc về ―tình trạng quẫn bách của DN‖ cần phải nghiên cứu Chính vì thế,kết quả này cùng với tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về phá sản trongnước trở thành những nền tảng lý luận vững chắc, được thừa nhận đã cơ bản toànvẹn và có rất ít khoảng trống để nghiên cứu thêm

Các nghiên cứu về phá sản bằng phương pháp nghiên cứu chủ yếu như:phương pháp lịch sử; phương pháp quan sát khoa học; phương pháp phân tích –tổng hợp và phương pháp so sánh luật học đều đã làm rõ được các vấn đề lý luậnquan trọng sau:

- Thừa nhận phá sản là một tình trạng tồi tệ của của một chủ thể sản xuất hoặckinh doanh (bao gồm cả tổ chức và cá nhân) khi lâm vào trạng thái không thể trảđược các khoản chi phí khi tới hạn

- Xem xét và phân tích các dấu hiệu của tình trạng phá sản gồm: khả năngthanh toán các khoản phải chi trả cho hoạt động chi thường xuyên và nợ tới hạnkhông còn; tài sản hiện hữu thấp hơn dư nợ; tình trạng sản xuất, kinh doanh đình trệkhông sinh lợi nhuận cao hơn hoặc bằng số chi phí và nợ phải trả trong một kỳ vàtình trạng chán nản, tâm lý bỏ mặc của người sở hữu cơ sở sản xuất, kinh doanh

- Xác lập quan điểm cho rằng phá sản là một hoạt động rút lui trong trật tự củachủ thể tham gia sản xuất, kinh doanh Và để đảm bảo sự trật tự đó, hoạt động phá sảnphải được ghi nhận và bảo đảm bởi nhà nước Như vậy, các nghiên cứu đều đồng quyrằng, thủ tục phá sản được đảm bảo đó là một cuộc đòi nợ chung nhân văn

Ba nội dung đã được các nghiên cứu đề cập này dù được chỉ rõ ở các nghiêncứu hiện đại hay rất lâu trong quá khứ đều bao trùm được các vấn đề lý luận mang

Trang 6

tính nhận diện vấn đề phá sản và được thừa nhận, sử dụng cho đến ngày nay Cácnghiên cứu tiêu biểu cho nội dung này có thể kể tới như: tác giả Jon P Nelson (1999)

với nghiên cứu ―Consumer Bankruptcy And Chapter Choice: State Panel Evidence‖ (tạm dịch: Phá sản của người tiêu dùng và vấn đề lựa chọn: bằng chứng từ hội đồng cấp bang); nhóm tác giả Wang, Hung-Jen & White, Michelle J (2000) với nghiên cứu ―An

Optimal Personal Bankruptcy Procedure and Proposed Reforms‖ (tạm dịch: Một thủ

tục phá sản cá nhân ưu việt và những ý tưởng được đề xuất); tác giả Couwenberg,

Oscar (2001) với nghiên cứu ―Survival rates in bankruptcy systems: overlooking the

evidence” (tạm dịch: Tỷ lệ phục hồi của các thủ tục phá sản: xem xét các bằng chứng);

nhóm tác giả Julian Franks & Oren Sussman (2005) với nghiên cứu "Financial Distress

and Bank Restructuring of Small to Medium Size UK Companies" (tạm dịch: Khó khăn

tài chính và tái cấu trúc ngân hàng của các công ty vừa và nhỏ ở Vương quốc Anh); nhóm tác giả Stijn Claessens & Leora F Klapper (2005) với nghiên cứu "Bankruptcy

around the World: Explanations of Its Relative Use" (tạm dịch: Vấn đề phá sản trên thế

giới: Giải thích mang tính tương đối); các tác giả Couwenberg, O & de Jong, A (2007) với nghiên cứu ―Costs and Recovery Rates in the Dutch Liquidation-Based

Bankruptcy System‖ (tạm dịch: Chi phí và Tỷ lệ thu hồi trong Hệ thống phá sản dựa trên

thanh lý của Hà Lan) và tác giả Chien-An Wang (2012) với nghiên cứu

―Determinants of the Choice of Formal Bankruptcy Procedure: An International

Comparison of Reorganization and Liquidation‖ (tạm dịch: Các yếu tố quyết định việc

lựa chọn thủ tục phá sản chính thức: So sánh quốc tế giữa việc tổ chức lại và thanh lý)

b Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của QTV

Nghiên cứu về địa vị pháp lý của QTV với từ dùng chính xác là tình trạngpháp lý (Legal status) của QTV (Liquidator) đã được nhiều nghiên cứu nước ngoài

đề cập Các nghiên cứu này chủ yếu được triển khai tại các quốc gia Phương Tây(Châu Âu và Mỹ) – đây cũng chính là khu vực có nền kinh tế thương mại thịnhvượng nhất thế giới cho đến ngày nay Những nội dung đã được đề cập trong phầnnghiên cứu các vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của QTV ở phạm vi này bao gồm:

Thứ nhất, nghiên cứu khái niệm địa vị pháp lý của QTV Đây là nội dung

nghiên cứu phổ biến nhất, mang tính đồng nhất nhất và thành công nhất của cáccông trình nước ngoài ở các cấp độ khác nhau Theo đó, các nghiên cứu bằng

Trang 7

phương pháp phân tích – tổng hợp đã làm rõ nội hàm khái niệm của địa vị pháp lý;QTV và địa vị pháp lý của QTV Cụ thể:

- Đối với khái niệm địa vị pháp lý, các nghiên cứu sau đây: tác giả David C

ParkeKyle (2000) với nghiên cứu ―An Empirical Analysis of Personal Bankruptcy

and Delinquency‖ (tạm dịch: Phân tích thực nghiệm về phá sản cá nhân và vi phạm

pháp luật); nhóm tác giả Bliss, Robert R & Kaufman, George G (2006) với nghiên

cứu "Derivatives and systemic risk: Netting, collateral, and closeout” (tạm dịch:

Các công cụ phái sinh và rủi ro hệ thống: mạng lưới, tài sản thế chấp và khóa sổ);nhóm tác giả Ricardo J Caballero & Mohamad L Hammour (1998) với nghiên cứu

"The Macroeconomics of Specificity" (tạm dịch: Kinh tế học vĩ mô về tính cụ thể)

và tác giả Henderson, Vicky (2012) với nghiên cứu ―Prospect theory, liquidation,

and the disposition effect‖ (tạm dịch: Lý thuyết triển vọng, thanh lý và hiệu ứng định

đoạt) cho rằng địa vị pháp lý chính là tình trạng ghi nhận của pháp luật về một vấn

đề nào đó Cách tiếp cận này rất rộng, theo đó, địa vị pháp lý sẽ được hiểu như quyđịnh của pháp luật về một thứ gì đó Đây chính là cách tiếp cận dựa trên bản chấtpháp lý của vấn đề Tiếp cận hẹp hơn, các nghiên cứu của: tác giả Prescott, Edward

C (1986) với nghiên cứu "Theory ahead of business-cycle measurement" (tạm dịch:

Lý thuyết đi trước đo lường chu kỳ kinh doanh); nhóm tác giả Ricardo J Caballero

& Mohamad L Hammour (2005) với nghiên cứu ―The Cost of Recessions

Revisited: A Reverse-Liquidationist View" (tạm dịch: Chi phí của kỳ thu hồi được

xem xét lại: Một quan điểm ngược lại người thanh lý); nhóm tác giả Matthew

Rognlie & Andrei Shleifer & Alp Simsek (2018) với nghiên cứu "Investment

Hangover and the Great Recession" (tạm dịch: Sự cố gắng đầu tư và sự suy thoái vĩ

đại)… lại cho rằng địa vị pháp lý là sự ghi nhận của pháp luật về vị trí, vai trò vàmối quan hệ của chủ thể nào đó với các chủ thể khác Cách tiếp cận này đáng giá ởchỗ đã cho thấy được địa vị pháp lý là để phân biệt bản chất pháp lý của một chủ thểnày với các chủ thể khác, từ đó vừa nhận diện chủ thể, nhưng đồng thời cũng thiếtlập các mối quan hệ pháp lý giữa chủ thể đó với các chủ thể khác liên quan Chođến nay, trong kinh tế học và các ngành liên quan đến tài chính, kinh tế, DN vẫndùng cách tiếp cận thứ nhất này của các học giới Trong khi đó, dưới góc nhìn củapháp lý, cách tiếp cận thứ hai được thừa nhận rộng rãi hơn

- Đối với khái niệm QTV, các nghiên cứu xuất phát từ các quốc gia khác nhau

sử dụng tên gọi khác nhau cho chế định này Ví dụ như: quản lý tài sản; nhân viên

Trang 8

phân phối nợ; nhân viên hỗ trợ tài chính hay nhân viên hỗ trợ quản lý tài sản khi phásản Kết quả nghiên cứu của các công trình nước ngoài cũng có những cách thứcxác lập định nghĩa khác nhau về vấn đề này vì phụ thuộc rất lớn vào quan điểmpháp lý của từng quốc gia Quan điểm chung nhất được đưa ra cho rằng, QTV làngười giúp quản lý tài sản của chủ thể phá sản trong suốt quá trình giải quyết phásản và được đề cập trong các nghiên cứu của tác giả B.H McPherson (2001) với

nghiên cứu ―The Law of Company Liquidation" (tạm dịch: Luật thanh lý công ty); các tác giả Sabrina Pellerin & John R Walter (2012) với nghiên cứu "Orderly

liquidation authority as an alternative to bankruptcy" (tạm dịch: Cơ quan thanh lý

có trật tự như một giải pháp thay thế cho phá sản); các tác giả Marcello Estevão &

Tiago Severo (2014) với nghiên cứu "Shocks, financial dependence and efficiency:

Evidence from U.S and Canadian industries‖ (tạm dịch: Những cú sốc, sự phụ

thuộc vào tài chính và hiệu quả: Bằng chứng từ các ngành công nghiệp của Hoa Kỳ

và Canada) và rất nhiều nghiên cứu khác

Tuy nhiên, như đã trình bày, một số nghiên cứu bám sát quan điểm pháp lý củatừng quốc gia khác nhau lại đưa ra những luận giải cặn kẽ hơn về khái niệm QTV.Theo đó, các tác giả như: tác giả Free Huizinga & Peter Broer (2004) với nghiên

cứu "Wage moderation and labour productivity" (tạm dịch: Kiểm duyệt tiền lương

và năng suất lao động); các tác giả Sabrina Pellerin & John R Walter (2012) với

nghiên cứu "Orderly liquidation authority as an alternative to bankruptcy" (tạm

dịch: Cơ quan thanh lý có trật tự như một giải pháp thay thế cho phá sản); tác giả

Henderson, Vicky (2012) với nghiên cứu ―Prospect theory, liquidation, and the

disposition effect‖ (tạm dịch: Lý thuyết triển vọng, thanh lý và hiệu ứng định đoạt);

tác giả Ben S Bernanke (2013) với nghiên cứu "A Century of US Central Banking:

Goals, Frameworks, Accountability" (tạm dịch: Một thế kỷ của Ngân hàng Trung

ương Hoa Kỳ: Mục tiêu, Khuôn khổ, Trách nhiệm giải trình)… cho rằng QTV làmột người được uỷ thác pháp lý thay mặt toà án hoặc các thiết chế phân xử trongthủ tục phá sản tiến hành quản lý, thanh lý tài sản của chủ thể phá sản nhằm mụcđích chi trả nợ cho tất cả các chủ nợ theo một cách thức luật định Cách tiếp cận nàycho thấy vai trò và mối liên hệ giữa QTV với các chủ thể pháp lý khác Cho đếnnay, nhiều nghiên cứu thừa nhận khái niệm này

- Đối với khái niệm địa vị pháp lý của QTV, như những phân tích cấu thànhcủa khái niệm này kể trên ở các nghiên cứu tiêu biểu, có thể thấy các công trình có

Trang 9

những tiếp cận khác nhau đưa ra những khái niệm khác nhau về địa vị pháp lý củaQTV Theo đó, nhóm các nghiên cứu của nhóm tác giả Kydland, Finn E & Prescott,

Edward C (1982) "Time to Build and Aggregate Fluctuations" (tạm dịch: Thời gian

để xây dựng và tổng hợp biến động); tác giả Matthew Rognlie & Andrei Shleifer &

Alp Simsek (2018) với nghiên cứu "Investment Hangover and the Great Recession‖

(tạm dịch: Sự cố đầu tư và cuộc suy thoái lớn); tác giả Sabrina Pellerin & John R

Walter (2012) với nghiên cứu "Orderly liquidation authority as an alternative to

bankruptcy‖ (tạm dịch: Cơ quan thanh lý có trật tự như một giải pháp thay thế cho

phá sản)… bằng phương pháp phân tích đối chiếu cho rằng địa vị pháp lý của QTV

là những thứ được pháp luật quy định để phân biệt nó với những thứ khác trong mộtmối quan hệ phá sản Cách tiếp cận này đã làm rõ bản chất của địa vị pháp lý chính

là cơ sở để phân biệt chủ thể pháp luật này với các chủ thể pháp luật khác Chi tiết

hơn, các nghiên cứu của tác giả Ben S Bernanke (2013) với nghiên cứu "A Century

of US Central Banking: Goals, Frameworks, Accountability" (tạm dịch: Một thế kỷ

của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ: Mục tiêu, Khuôn khổ, Trách nhiệm giải trình)

và tác giả Carlos Carreira & Paulino Teixeira (2008) ―Internal and external

restructuring over the cycle: a firm-based analysis of gross flows and productivity growth in Portugal‖ (tạm dịch: Tái cấu trúc bên trong và bên ngoài theo chu kỳ:

phân tích dựa trên cơ sở công ty về tổng dòng chảy và tăng trưởng năng suất ở BồĐào Nha)… xây dựng một khái niệm địa vị pháp lý của QTV cặn kẽ hơn với nhữngnội dung cấu thành như: (1) vị trí pháp lý của QTV trong thủ tục phá sản; (2) vai tròcủa QTV trong thủ tục phá sản; (3) mối quan hệ giữa QTV và các chủ thể khác và(4) những trách nhiệm pháp lý bất lợi mà QTV phải gánh chịu khi thực hiện cáchành vi trái với pháp luật Khái niệm này của các nghiên cứu kể trên là tương đốiđầy đủ và là cơ sở khoa học quan trọng cho các nghiên cứu kế thừa

Thứ hai, nghiên cứu về bản chất pháp lý của QTV Đây là nội dung nghiên cứu

được rất nhiều công trình ở những cấp độ khác nhau ở phạm vi nước ngoài nghiêncứu, đề cập Theo đó, hầu hết các nghiên cứu của tác giả Prescott, Edward C

(1986) với nghiên cứu ― Theory ahead of business-cycle measurement‖ (tạm dịch:

Lý thuyết về đo lường chu kỳ kinh doanh); tác giả Sergei Belyakov (2019) với

nghiên cứu ―Liquidator: The Chernobyl Story‖ (tạm dịch: Người thanh lý: Câu

chuyện Chernobyl); các tác giả Matthew Rognlie & Andrei Shleifer & Alp Simsek

(2018) với nghiên cứu "Investment Hangover and the Great Recession" (tạm dịch:

Trang 10

Sự cố đầu tư và cuộc suy thoái lớn); nhóm tác giả Stijn Claessens & Leora F.

Klapper (2005) với nghiên cứu "Bankruptcy around the World: Explanations of Its

Relative Use" (tạm dịch: Vấn đề phá sản trên thế giới: Giải thích về cách sử dụngtương đối của nó)… đều có điểm đồng quy khi cho rằng QTV có bản chất là mộtthụ uỷ viên pháp lý (được một tổ chức có địa vị pháp lý công quyền uỷ quyền thựchiện một số hoạt động) trong giải quyết thủ tục phá sản Đây là một khẳng địnhmang tính bao quát rất lớn khi khẳng định bản chất địa vị pháp lý của QTV khôngphải là một pháp nhân công quyền mà chỉ là một thụ uỷ pháp lý

Ở cách tiếp cận cụ thể hơn, các nghiên cứu của: tác giả Ben S Bernanke

(2013) với nghiên cứu "A Century of US Central Banking: Goals, Frameworks,

Accountability" (tạm dịch: Một thế kỷ của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ: Mục

tiêu, Khuôn khổ, Trách nhiệm giải trình); tác giả B.H McPherson (2001) với nghiên

cứu ―The Law of Company Liquidation‖ (tạm dịch: Luật thanh lý công ty); tác giả Free Huizinga & Peter Broer (2004) với nghiên cứu "Wage moderation and labour

productivity" (tạm dịch: Kiểm duyệt tiền lương và năng suất lao động); nhóm tác giả

Kydland, Finn E & Prescott, Edward C (1982) với nghiên cứu "Time to Build and

Aggregate Fluctuations" (tạm dịch: Thời gian để xây dựng và tổng hợp biến động)

… đã chỉ ra bản chất pháp lý của QTV là một điều phối viên trong việc thanh toán

nợ chung nhằm giúp cho hoạt động phá sản được diễn ra trong trật tự và không aiphải chịu thiệt hơn phần người khác trong các chủ nợ Đây là quan điểm dựa vàovấn đề phá sản một cách chặt chẽ Bản chất của QTV xuất phát từ bản chất của thủtục phá sản

Hiện nay, cả hai kết quả nghiên cứu của nhóm này đều được nhiều nghiên cứu

kế thừa, sử dụng

Thứ ba, nghiên cứu về cấu thành địa vị pháp lý của QTV Đây là nội dung

nghiên cứu trọng tâm của rất nhiều công trình nước ngoài Phương pháp nghiên cứuchủ yếu được lựa chọn sử dụng cho nội dung này ở hầu hết các nghiên cứu là phântích quan điểm pháp lý và đối chiếu lịch sử quan điểm đó về địa vị pháp lý củaQTV Có 03 nhóm nghiên cứu đưa ra ba kết quả khác nhau cho nội dung này, gồm:

- Nhóm nghiên cứu thứ nhất cho rằng cấu thành của địa vị pháp lý QTV chính

là quyền và nghĩa vụ của chủ thể này Cụ thể, các nghiên cứu nhóm này đều chorằng, bản chất hay cốt yếu của địa vị pháp lý chính là giới hạn quyền và nghĩa vụcủa một chủ thể pháp luật Chính vì thế, giới hạn quyền và nghĩa vụ của QTV chính

Trang 11

là địa vị pháp lý của định chế này Hướng tiếp cận này có ưu điểm là chỉ ra đượctrọng tâm của địa vị pháp lý là quyền và nghĩa vụ Song lại thiếu đầy đủ khi bỏ quacác yếu tố khác nhằm xác định cụ thể vị trí, vai trò của QTV trong hoạt động phásản Đại diện của nhóm này gồm: nhóm tác giả Dong He, Stefan Ingves, and Steven

A Seelig (2006) với nghiên cứu ―Issues in the Establishment of Asset Management

Companies‖ (tạm dịch: Các vấn đề trong việc thành lập các công ty quản lý tài sản); tác

giả B.H McPherson (2001) với nghiên cứu ―The Law of Company Liquidation‖ (tạm

dịch: Luật thanh lý công ty); tác giả Sergei Belyakov (2019) với nghiên cứu

―Liquidator: The Chernobyl Story‖ (tạm dịch: Người thanh lý: Câu chuyện

Chernobyl)…

- Nhóm nghiên cứu thứ hai đi theo hướng tiếp cận sự hiện diện của QTV trongmột tổng thể quan hệ pháp luật phá sản Kết quả nghiên cứu của nhóm này chỉ rarằng: địa vị pháp lý của QTV được cấu thành bởi vị trí; vai trò và mối quan hệ củaQTV với các chủ thể khác trong tổng thể quan hệ pháp luật phá sản Như vậy, ưuđiểm của kết quả này là xác định rõ tính nhận diện vị trí pháp lý của QTV là vấn đềtrọng tâm của địa vị pháp lý QTV – cũng như những địa vị pháp lý khác Tuy nhiên,cách tiếp cận này lại làm hạn chế những cấu thành về quyền và nghĩa vụ – thứ vốn

là trung tâm khi thực thi địa vị pháp lý của QTV trên thực tế Nhóm nghiên cứu này

được đại diện bởi: tác giả David C ParkeKyle (2000) với nghiên cứu ―An

Empirical Analysis of Personal Bankruptcy and Delinquency‖ (tạm dịch: Phân tích

thực nghiệm về phá sản cá nhân và vi phạm pháp luật); tác giả Free Huizinga & Peter Broer (2004) với nghiên cứu "Wage moderation and labour productivity" (tạm

dịch: Kiểm duyệt tiền lương và năng suất lao động) và nhóm tác giả Wang,

Hung-Jen & White, Michelle J (2000) "An Optimal Personal Bankruptcy Procedure and

Proposed Reforms" (tạm dịch: "Một thủ tục phá sản cá nhân tối ưu và những cải

cách được đề xuất)

- Nhóm nghiên cứu thứ ba có cách tiếp cận tương đối bao quát hơn với những

công trình của: tác giả Donald P Morgan (2002) với nghiên cứu "Rating Banks:

Risk and Uncertainty in an Opaque Industry" (tạm dịch: Xếp hạng ngân hàng: Rủi

ro và sự không chắc chắn trong một ngành công nghiệp không rõ ràng); tác giả

Chien-An Wang (2012) với nghiên cứu ―Determinants of the Choice of Formal

Bankruptcy Procedure: An International Comparison of Reorganization and Liquidation‖ (tạm dịch: Các yếu tố quyết định việc lựa chọn thủ tục phá sản chính

Trang 12

thức: So sánh quốc tế về tái tổ chức và thanh lý); nhóm tác giả Wenli Li &

Pierre-Daniel G Sarte (2003) với nghiên cứu "The macroeconomics of U.S consumer

bankruptcy choice: Chapter 7 or Chapter 13?" (tạm dịch: "Kinh tế vĩ mô về sự lựa

chọn phá sản của người tiêu dùng Hoa Kỳ: Chương 7 hay Chương 13?"); nhómnghiên cứu Igor Livshits & James MacGee & Michèle Tertilt (2007) với đề tài

"Consumer Bankruptcy: A Fresh Start" (tạm dịch: Phá sản người tiêu dùng: Một

khởi đầu mới)… Kết quả nghiên cứu cho thấy, địa vị pháp lý của QTV phải đượccấu thành bởi: điều kiện hành nghề; nội dung hành nghề; bổn phận; mối quan hệ vàcác đe doạ của chế tài Nhìn chung các cấu thành này đã bao quát được hầu hếtnhững vấn đề quan trọng về địa vị pháp lý của QTV, hay suy rộng ra là địa vị pháp

lý của các chủ thể pháp lý khác cần phải có Đây cũng là những nội dung được sửdụng hầu hết trong các nghiên cứu sau này

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề thực tiễn liên quan đến đề tài luận án

Nghiên cứu về thực tiễn địa vị pháp lý của QTV ở nước ngoài được cấu thànhbởi hai nội dung lớn: thực tiễn quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện phápluật Nội dung nghiên cứu này hoàn toàn phụ thuộc vào phạm vi nghiên cứu (khônggian và thời gian) Do đó, rất khó để có được sự nhóm chung các kết quả của cácnghiên cứu khác nhau về quốc gia (phạm vi không gian nghiên cứu) Do đó, cáchnhóm dễ thấy được sự trùng hợp nhất chính là theo địa bàn nghiên cứu

Thứ nhất, tình hình nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật về địa vị pháp lý của QTV Các nghiên cứu ở phạm vi nước ngoài khi xem xét thực trạng địa vị pháp

lý của QTV đều có những thống kê và đánh giá khác nhau Kết quả nghiên cứu nàynhư đã đề cập ở trên, phụ thuộc hoàn toàn vào địa bàn nghiên cứu Theo đó, có hainhóm quốc gia cơ bản được đề cập nhiều nhất:

- Nhóm các nghiên cứu thực trạng pháp luật về QTV ở các quốc gia châu Âu

và Mỹ La tinh Nhóm các nghiên cứu này phản ánh, thống kê và phân tích thànhcông các quy định của pháp luật trong lịch sử và hiện tại về chế định QTV tại cácquốc gia theo hệ thống Common law Theo đó, kết quả nghiên cứu cho thấy chếđịnh này xuất hiện rất sớm tại các quốc gia tư sản và gắn liền với cơ chế thị trường

tự do Các quy định này theo thời gian có sự biến đổi và hoàn thiện nhằm đáp ứngyêu cầu của thực tiễn Kết quả nghiên cứu cho thấy xu hướng hoàn thiện này chủyếu tập trung vào vấn đề quyền và nghĩa vụ của QTV trong thủ tục phá sản Các tác

Trang 13

giả tiêu biểu cho nhóm này gồm: tác giả David B Gross (2002) với nghiên cứu ―An

Empirical Analysis of Personal Bankruptcy and Delinquency" (tạm dịch: Phân tích thực

nghiệm về phá sản cá nhân và vi phạm pháp luật); các tác giả Scott Fay & Erik Hurst &

Michelle J White (2002) với nghiên cứu ―The Household Bankruptcy Decision" (tạm dịch: Quyết định Phá sản Hộ gia đình); nhóm tác giả Wenli Li & Pierre-Daniel G Sarte (2003) với nghiên cứu "The macroeconomics of U.S consumer bankruptcy choice:

Chapter 7 or Chapter 13?" (tạm dịch: "Kinh tế vĩ mô về sự lựa chọn phá sản của người

tiêu dùng Hoa Kỳ: Chương 7 hay Chương 13?"; nhóm tác giả Julian Franks & Oren

Sussman (2005) với nghiên cứu "Financial Distress and Bank Restructuring of Small

to Medium Size UK Companies" (tạm dịch: Khó khăn tài chính và tái cấu trúc ngân

hàng của các công ty vừa và nhỏ ở Vương quốc Anh); nhóm tác giả Stijn Claessens &

Leora F Klapper (2005) với nghiên cứu "Bankruptcy around the World: Explanations

of Its Relative Use" (tạm dịch: Vấn đề phá sản trên thế giới: Giải thích về cách sử dụngtương đối của nó); hai tác giả Bliss, Robert R & Kaufman, George G (2006) với

nghiên cứu "Derivatives and systemic risk: Netting, collateral, and closeout” (tạm dịch: Các công cụ phái sinh và rủi ro hệ thống: mạng lưới, tài sản thế chấp và khóa sổ)

… Điểm đạt được của các nghiên cứu này chính là tính khái quát của các quốc gia tiêubiểu theo hệ thống thông luật về quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của QTV.Trong đó, đã chứng minh được nội dung của địa vị pháp lý này gắn liền chặt chẽ vớithăng trầm của lịch sử tư bản Tuy nhiên, hạn chế là chỉ bó hẹp về không gian đó màchưa có sự đối chiếu với các quốc gia theo hệ thống khác Bên cạnh đó, nhiều nghiêncứu cũng tỏ ra khá chủ quan khi nhận định địa vị pháp lý của QTV là một sản phẩmsáng tạo của hệ thống thông luật và luôn thuộc về hệ thống thông luật

Trung Quốc Nhóm này gồm các tác giả như: nhóm tác giả Wang, Hung-Jen & White,

Michelle J (2000) "An Optimal Personal Bankruptcy Procedure and Proposed

Reforms" (tạm dịch: "Một thủ tục phá sản cá nhân tối ưu và những cải cách được đề

xuất); tác giả Chien-An Wang (2012) với nghiên cứu ―Determinants of the Choice of

Formal Bankruptcy Procedure: An International Comparison of Reorganization and Liquidation‖ (tạm dịch: "Các yếu tố quyết định việc lựa chọn thủ tục phá sản chính

thức: So sánh quốc tế giữa việc tổ chức lại và thanh lý); nhóm tác giả Dong He, Stefan

Ingves, and Steven A Seelig (2006) với nghiên cứu ―Issues

Trang 14

in the Establishment of Asset Management Companies‖ (tạm dịch: Các vấn đề trong

việc thành lập các công ty quản lý tài sản)… Các nghiên cứu này chủ yếu sử dụngphương pháp quan sát khoa học và lịch sử để cho thấy được lịch sử hình thành quanđiểm pháp lý về QTV tại các quốc gia châu Á Kết quả cho thấy, ở những quốc giatiếp cận nền tư bản sớm hơn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Philippine vàThái Lan, QTV được hình thành sớm hơn và mang nhiều đặc trưng giống với chếđịnh QTV của các nước phương Tây Ở chiều hướng khác, các quốc gia có quá trìnhchuyển đổi muộn hơn với tiêu biểu là Trung Quốc lại ghi nhận về chế định QTVchậm hơn và có nhiều yếu tố khác biệt với phương Tây Theo đó, QTV ở các quốcgia này thực ra là một luật sư hoặc một kế toán kiêm nhiệm việc quản lý tài sản phásản trong lúc làm thủ tục Trước đó nữa, QTV được đảm nhiệm bởi một nhóm đượcthành lập nên bởi đại diện các bên Đây cũng là một dạng thường thấy dưới mô hình

tổ chức xã hội của Chủ nghĩa xã hội

Nhìn chung, cả hai nhóm nghiên cứu đều cung cấp những cái nhìn sinh động

về ghi nhận của pháp luật về địa vị pháp lý của QTV Từ kết quả nghiên cứu này,học giới có thể tìm kiếm các tài liệu thứ cấp có giá trị về lịch sử hình thành và biếnđổi của QTV trên thế giới Đồng thời, dựa vào đó để có những đối chiếu thú vị về

sự giống nhau và khác biệt giữa địa vị pháp lý của QTV ở các quốc gia và các khuvực trên thế giới

Thứ hai, tình hình nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về QTV Đây cũng là

nội dung quan trọng thứ hai trong phần nghiên cứu thực trạng, bên cạnh thực trạng quyđịnh của pháp luật được nghiên cứu bởi các công trình ở phạm vi nước ngoài Cácnghiên cứu chủ yếu được thực hiện ở một số quốc gia như: Anh, Pháp, Mỹ, Đức, NhậtBản, Trung Quốc, Thái Lan và tập trung chủ yếu trong khoảng 20 năm trở lại đây Cácnghiên cứu này cho thấy rằng, sự hiện diện của QTV trong thủ tục phá sản là tất yếu.Rất nhiều quốc gia thậm chí còn áp dụng định chế này ở cuối thế kỷ 18 và mang lạinhững kết quả rất tích cực đối với việc giải quyết phá sản cho các chủ thể

Đỉnh điểm về nghiên cứu thực tiễn thực hiện địa vị pháp lý của QTV đượcthực hiện vào giai đoạn những năm từ 2008 đến 2011 – đây là giai đoạn của khủnghoảng kinh tế trầm trọng diễn ra ở hầu hết các châu lục và gây ra thiệt hại lớn đốivới nền kinh tế thế giới Chính vì thế, thời điểm này số lượng DN, cá nhân kinhdoanh lâm vào tình trạng phá sản lớn, vượt trội hơn so với tất cả các giai đoạn trước.Chính vì thế, sự hiện diện của QTV phổ biến hơn

Trang 15

Các nghiên cứu cũng đã phân tích các những hạn chế khi thực thi địa vị pháp lýcủa QTV Trong đó có 03 vấn đề chính được đưa ra gồm: QTV ở một số quốc giakhông được coi trọng do thủ tục phá sản không được coi trọng – đây là vấn đề mànhiều nghiên cứu, đặc biệt là các nghiên cứu về châu Á chỉ ra Theo đó, tâm lý xã hộikhông coi trọng thủ tục phá sản khiến cho hoạt động này trên thực tế ít được lựa chọn.Khi đó, tất yếu QTV sẽ không có nhiều sự hiện diện Tiêu biểu cho luận điểm này là

các nghiên cứu của: tác giả David C ParkeKyle (2000) với nghiên cứu ―An Empirical

Analysis of Personal Bankruptcy and Delinquency‖ (tạm dịch: Phân tích thực nghiệm

về phá sản cá nhân và vi phạm pháp luật); tác giả Free Huizinga & Peter Broer (2004)

với nghiên cứu "Wage moderation and labour productivity" (tạm dịch: Kiểm duyệt tiền

lương và năng suất lao động); tác giả Henderson, Vicky (2012) với nghiên cứu

―Prospect theory, liquidation, and the disposition effect‖ (tạm dịch: Lý thuyết triển

vọng, thanh lý và hiệu ứng định đoạt); tác giả Ben S Bernanke (2013) với nghiên cứu

"A Century of US Central Banking: Goals, Frameworks, Accountability" (tạm dịch:

Một thế kỷ của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ: Mục tiêu, Khuôn khổ, Trách nhiệm

giải trình); tác giả Donald P Morgan (2002) với nghiên cứu "Rating Banks: Risk and

Uncertainty in an Opaque Industry" (tạm dịch: Xếp hạng ngân hàng: Rủi ro và sự

không chắc chắn trong một ngành công nghiệp không rõ ràng) và tác giả Chien-An

Wang (2012) với nghiên cứu ―Determinants of the Choice of Formal Bankruptcy

Procedure: An International Comparison of Reorganization and Liquidation‖ (tạm

dịch: Các yếu tố quyết định việc lựa chọn thủ tục phá sản chính thức: So sánh quốc tếgiữa việc tổ chức lại và thanh lý)

Cơ sở pháp lý thiếu đầy đủ khiến cho việc thực hiện địa vị pháp lý của QTVtrên thực tế gặp rất nhiều khó khăn Đây là lý do được chỉ ra khi nghiên cứu các địabàn là những quốc gia mới có ghi nhận về địa vị pháp lý của QTV Các nghiên cứu

của tác giả Prescott, Edward C (1986) với nghiên cứu ―Theory ahead of

business-cycle measurement‖ (tạm dịch: Lý thuyết về đo lường chu kỳ kinh doanh); nhóm tác

giả Ricardo J Caballero & Mohamad L Hammour (2005) với nghiên cứu ―The

Cost of Recessions Revisited: A Reverse-Liquidationist View" (tạm dịch: Chi phí của

kỳ thu hồi được xem xét lại: Một quan điểm ngược lại người thanh lý); các tác giảMatthew Rognlie & Andrei Shleifer & Alp Simsek (2018) với nghiên cứu

"Investment Hangover and the Great Recession" (tạm dịch: Sự cố đầu tư và cuộc suy thoái lớn); tác giả David C ParkeKyle (2000) với nghiên cứu ―An Empirical

Trang 16

Analysis of Personal Bankruptcy and Delinquency‖ (tạm dịch: Phân tích thực

nghiệm về phá sản cá nhân và vi phạm pháp luật); tác giả Free Huizinga & Peter

Broer (2004) với nghiên cứu "Wage moderation and labour productivity" (tạm dịch:

Kiểm duyệt tiền lương và năng suất lao động)… đã chỉ ra rằng, chính sự thiếu hụt

cơ chế hoàn thiện pháp lý về QTV như tiêu chuẩn hành nghề, quyền và nghĩa vụ vàcác cơ chế đảm bảo hành nghề đã khiến cho QTV gặp khó khăn trên thực tế

Cuối cùng, vấn đề số ba được chỉ ra là hầu hết các quốc gia đều chưa có tínhđồng nhất về định chế này nên sự liên kết kinh tế toàn cầu gặp những vấn đề rắc rốimang tính đặc thù Các nghiên cứu đã chỉ ra vấn đề này được công bố bởi: tác giả

Prescott, Edward C (1986) với nghiên cứu ―Theory ahead of business-cycle

measurement‖ (tạm dịch: Lý thuyết về đo lường chu kỳ kinh doanh); nhóm tác giả

Ricardo J Caballero & Mohamad L Hammour (2005) với nghiên cứu ―The Cost

of Recessions Revisited: A Reverse-Liquidationist View" (tạm dịch: Chi phí của kỳ

thu hồi được xem xét lại: Một quan điểm ngược lại người thanh lý); các tác giả

Matthew Rognlie & Andrei Shleifer & Alp Simsek (2018) với nghiên cứu

"Investment Hangover and the Great Recession" (tạm dịch: Sự cố đầu tư và cuộc

suy thoái lớn)… Cụ thể, mỗi quốc gia có một quy định khác nhau về QTV và thậmchí tên gọi cũng không giống nhau Điều này đã khiến cho việc thực hiện phá sảncủa các DN đa quốc gia tại các quốc gia khác nhau là khác nhau

Nhìn chung, các nghiên cứu đã chỉ ra được thực trạng pháp luật, thực trạngthực hiện pháp luật của các quốc gia là địa bàn nghiên cứu của từng công trình.Điều này mặc dù không mang lại giá trị đồng nhất, song lại đem đến một bức tranhhết sức sinh động về thực tiễn địa vị pháp lý của QTV trên thực tế Hầu hết cácnghiên cứu sau này đều kế thừa các giá trị nghiên cứu thực tiễn này

1.1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề kiến nghị, giải pháp liên quan đến đề tài luận án

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tiễn đã nêu ở trên, các nghiên cứu khoa học

ởphạm vi ngoài nước cũng đã nghiên cứu đề xuất các kiến nghị, giải pháp liên quanđến địa vị pháp lý của QTV

Theo đó, có hai nhóm kiến nghị, đề xuất chủ yếu được đưa ra gồm:

- Nhóm các kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTVđược nghiên cứu bởi các tác giả như: tác giả Prescott, Edward C (1986) với nghiên

cứu ―Theory ahead of business-cycle measurement‖ (tạm dịch: Lý thuyết về đo

Trang 17

lường chu kỳ kinh doanh); nhóm tác giả Ricardo J Caballero & Mohamad L.

Hammour (2005) với nghiên cứu ―The Cost of Recessions Revisited: A

Reverse-Liquidationist View" (tạm dịch: Chi phí của kỳ thu hồi được xem xét lại: Một quan

điểm ngược lại người thanh lý); các tác giả Matthew Rognlie & Andrei Shleifer &

Alp Simsek (2018) với nghiên cứu "Investment Hangover and the Great Recession"

(tạm dịch: Sự cố đầu tư và cuộc suy thoái lớn); tác giả David C ParkeKyle (2000)

với nghiên cứu ―An Empirical Analysis of Personal Bankruptcy and Delinquency‖

(tạm dịch: Phân tích thực nghiệm về phá sản cá nhân và vi phạm pháp luật); tác giả

Free Huizinga & Peter Broer (2004) với nghiên cứu "Wage moderation and labour

productivity" (tạm dịch: Kiểm duyệt tiền lương và năng suất lao động) Các nghiên

cứu này đề xuất chủ yếu những giải pháp như: hoàn thiện quy định của pháp luậtphá sản nâng địa vị pháp lý của QTV lên cao hơn mức thụ uỷ pháp lý hoặc ở dạngthụ uỷ pháp lý toàn quyền – khi này QTV có quyền tự quyết định áp dụng các biệnpháp khẩn cấp; quy định các chế tài về từ chối thủ tục về phá sản của các chủ thểthương mại; quy định mở rộng về quyền và nghĩa vụ của QTV; quy định chặt chẽ vềchế tài và các cơ chế đảm bảo thực hiện địa vị pháp lý của QTV

- Nhóm các kiến nghị, đề xuất đảm bảo thực thi địa vị pháp lý của QTV được

đề xuất riêng ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ Nhưng tựu chung lại, có sự đồng nhất

một số giải pháp sau: tác giả Prescott, Edward C (1986) với nghiên cứu ―Theory

ahead of business-cycle measurement‖ (tạm dịch: Lý thuyết về đo lường chu kỳ kinh

doanh); nhóm tác giả Ricardo J Caballero & Mohamad L Hammour (2005) với nghiên

cứu ―The Cost of Recessions Revisited: A Reverse-Liquidationist View" (tạm dịch: Chi

phí của kỳ thu hồi được xem xét lại: Một quan điểm ngược lại người thanh lý); tác giả

Couwenberg, Oscar (2001) với nghiên cứu ―Survival rates in bankruptcy systems:

overlooking the evidence” (tạm dịch: Tỷ lệ phục hồi của các thủ tục phá sản: xem xét

các bằng chứng); các tác giả Matthew Rognlie & Andrei Shleifer & Alp Simsek (2018)

với nghiên cứu "Investment Hangover and the Great Recession" (tạm dịch: Sự cố đầu

tư và cuộc suy thoái lớn); nhóm tác giả Julian Franks & Oren Sussman (2005) với nghiên cứu "Financial Distress and Bank Restructuring of Small to Medium Size UK

Companies" (tạm dịch: Khó khăn tài chính và tái cấu trúc ngân hàng của các công ty

vừa và nhỏ ở Vương quốc Anh)… Các nghiên cứu đề xuất các giải pháp như: đảm bảo

sự trao quyền cho QTV ở mức hợp lý; duy trì hệ thống thông tin chung của các bêntham gia phá sản; có sự liên hệ giữa các quốc gia để duy trì

Trang 18

hệ thống các quy tắc chung về QTV; đào tạo QTV bài bản; cải thiện chi phí choQTV và gia tăng sự cạnh tranh ngành nghề đối với QTV…

Các giải pháp, kiến nghị được những nghiên cứu kể trên đề xuất không baohàm ý nghĩa cho tất cả các quốc gia Tuy nhiên, giá trị tham khảo của nó rất lớn đốivới nghiên cứu ứng dụng ở từng điều kiện quốc gia cụ thể Đối với luận án, phạm vinghiên cứu là Việt Nam, việc nghiên cứu tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứunày giúp cho quá trình xây dựng luận án có được nhiều thuận lợi hơn

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở phạm vi trong nước

Ở phạm vi nghiên cứu trong nước, số lượng các công trình ít hơn so với ngoàinước Điều này hoàn toàn đến từ nguyên nhân khách quan của chế định QTV Theo

đó, mặc dù pháp luật về phá sản ở Việt Nam đã hiện diện trong hơn ba thập kỷ,nhưng QTV chỉ được chính thức ghi nhận từ năm 2014 và có hiệu lực từ năm 2015.Nghĩa là cho đến nay, chỉ mới hơn 6 năm địa vị pháp lý của QTV được thực thi trênthực tiễn Bên cạnh đó, với đặc trưng nhận thức về vấn đề phá sản còn hạn chế, rấtnhiều DN, HTX khi lâm vào tình trạng phá sản thay vì tiếp cận thủ tục phá sản theoquy định của pháp luật thì thường lựa chọn phương án tự đóng cửa hoạt động sảnxuất, kinh doanh Chính vì thế, trên thực tế số lượng vụ việc phá sản giải quyết bằngthủ tục phá sản không lớn, sự hiện diện của QTV cũng vì thế mà tương đối hạn chế

Do đó, các nghiên cứu về vấn đề này có số lượng ít và thiếu tính đa dạng

1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến

đề tài luận án

Nghiên cứu về những vấn đề lý luận liên quan đến địa vị pháp lý của QTVđược một số công trình – chủ yếu ở cấp độ luận văn thạc sĩ và bài báo khoa họcđăng tải trên một số tạp chí chuyên ngành luật học và kinh tế ở trong nước như: tác

giả Nguyễn Thị Thanh Mai (2014) với nghiên cứu ―Thủ t c thanh l t i sản, các

khoản nợ của doanh nghiệp lâm v o t nh trạng phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam‖; tác giả Vũ Huy Hoàng (2015) với nghiên cứu ―Thủ t c phá sản theo Luật Phá sản năm 2014‖; tác giả Quách Thị Thu Hương (2015) với nghiên cứu

―Luật Phá sản năm 2014 - ư c phát tri n của pháp luật phá sản Việt Nam‖; tác giả Dương Kim Thế Nguyên (2016) với nghiên cứu ―Khái niệm phá sản, thủ t c phá

sản v những liên hệ đ n Luật Phá sản năm 2014‖; tác giả Đào Hải Lâm (2015) với

nghiên cứu ―Quản l t i sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ theo

pháp luật phá sản hiện h nh‖; tác giả Trần Danh Phú (2017) với ghiên cứu ―Sự

Trang 19

tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải quy t phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014”; Nguyễn Thị ích Tuyền (2015)

với nghiên cứu ―So sánh những đi m m i của Luật Phá sản năm 2014 v i Luật phá

sản trư c đó‖, ….

Các nghiên cứu kể trên bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp và phântích, tổng hợp đã tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến địa vị pháp lýcủa QTV như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về phá sản và thủ t c phá sản Đây

là kết quả nghiên cứu lớn nhất và có tính toàn vẹn nhất Theo đó, các tác giả đãphân tích làm rõ được nội hàm khái niệm phá sản và bản chất của hoạt động phásản Đồng thời, những vấn đề thuộc về nguồn gốc, quan điểm và sự khác biệt trongghi nhận về những nội dung điều chỉnh của pháp luật về phá sản cũng được cácnghiên cứu làm rõ Trong đó, đặc biệt bốn tác giả: Dương Kim Thế Nguyên (2016)

với nghiên cứu ―Khái niệm phá sản, thủ t c phá sản v những liên hệ đ n Luật Phá

sản năm 2014‖; Đào Hải Lâm (2015) với nghiên cứu ―Quản l t i sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ theo pháp luật phá sản hiện h nh‖; Trần Danh

Phú (2017) với nghiên cứu ―Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải

quy t phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014‖

và Nguyễn Thị ích Tuyền (2015) với nghiên cứu ―So sánh những đi m m i của

Luật Phá sản năm 2014 v i Luật phá sản trư c đó‖, với góc độ tiếp cận luật thực

định đã tiến hành xây dựng khái niệm, bản chất, các nội dung điều chỉnh của phápluật về phá sản trong Luật Phá sản năm 2014 – văn bản pháp lý hiện hành về phásản Các kết quả nghiên cứu này cơ bản đã bao trùm hầu hết các vấn đề lý luận vềphá sản và thủ tục phá sản Do đó, đây là những công trình có giá trị nghiên cứumang tính nền tảng khi nghiên cứu luận án

Thứ hai, nghiên cứu khái niệm địa vị pháp lý của QTV Các nghiên cứu của các

tác giả: Dương Kim Thế Nguyên (2016) với nghiên cứu ―Khái niệm phá sản, thủ t

c phá sản v những liên hệ đ n Luật Phá sản năm 2014‖; Đào Hải Lâm (2015) với

nghiên cứu ―Quản l t i sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ theo

pháp luật phá sản hiện h nh‖; Trần Danh Phú (2017) với ghiên cứu ―Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải quy t phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014‖; Nguyễn Thị ích Tuyền (2015) với nghiên

cứu ―So sánh những đi m m i của Luật Phá sản năm 2014 v i Luật phá

Trang 20

sản trư c đó‖; Cao Đăng Vinh (2014) với nghiên cứu ― ảo to n t i sản doanh nghiệp trong quá tr nh giải quy t thủ t c phá sản - m t số t n tại c n kh c ph c‖… đã làm rõ

những vấn đề lý luận của QTV như:

- Nghiên cứu khái niệm của QTV Đây là kết quả nghiên cứu được xác lập phổbiến nhất trong các công trình kể trên Khái niệm QTV chủ yếu được xây dựng dựatrên cơ sở của luật thực định Điều này hoàn toàn hợp lý với góc độ nghiên cứupháp lý của Việt Nam Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng đã viện dẫn và phântích khái niệm QTV ở một số quốc gia trên thế giới để cho thấy tính đa dạng trongquan niệm về vấn đề pháp lý này Khái niệm QTV vì thế được nghiên cứu tương đốiđầy đủ, còn rất ít khoảng trống nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, khái niệm địa

vị pháp lý của QTV lại chưa được các nghiên cứu đề cập tới Vì hầu hết các nghiêncứu kể trên đều tiếp cận QTV thông qua các quy định của pháp luật – quy định pháp

lý về QTV vốn chỉ có một phần nhỏ nội hàm trùng với địa vị pháp lý của QTV.Chính vì thế, các kết quả nghiên cứu không xây dựng khái niệm địa vị pháp lý vàđịa vị pháp lý của QTV Đây là khoảng trống nghiên cứu lớn, mang tính cơ bản khi nghiên cứu về lý luận địa vị pháp lý của QTV

- Nghiên cứu đặc trưng địa vị pháp lý của QTV Chính vì các nghiên cứu hiệnnay không nghiên cứu trực tiếp địa vị pháp lý của QTV mà chỉ nghiên cứu các quyđịnh của pháp luật phá sản về QTV, do đó, hầu hết các đặc trưng được chỉ ra trongcác nghiên cứu trên là đặc trưng của QTV Theo đó, các đặc trưng này gồm: là mộtthực thể độc lập; thực hiện hoạt động quản lý và thanh lý tài sản; được chi trả thùlao cho hoạt động nghề nghiệp… Các đặc trưng này đóng vai trò quan trọng khi là

cơ sở để nhận diện QTV Tuy nhiên, những đặc trưng của địa vị pháp lý của QTV lạimang bản chất là để phân biệt địa vị pháp lý của QTV với địa vị pháp lý của các chủthể pháp lý khác thì chưa được các nghiên cứu làm rõ Điều này hoàn toàn vì lý dogóc độ tiếp cận Chính vì thế, có thể thấy đặc trưng địa vị pháp lý của QTV cũng làmột khoảng trống nghiên cứu lý luận quan trọng của luận án

- Nghiên cứu mục đích, ý nghĩa quy định pháp luật về địa vị pháp lý của QTV

Cũng vì góc độ tiếp cận của các nghiên cứu như phân tích ở trên, nên mục đích, ýnghĩa của quy định pháp luật về địa vị pháp lý của QTV chủ yếu được nghiên cứudưới dạng vai trò của QTV Theo đó, các vai trò của QTV như: thay mặt các bênquản lý sản nghiệp phá sản; tham gia Hội nghị chủ nợ; tham gia đấu giá tài sản; đềnghị áp dụng các biện pháp khẩn cấp để bảo toàn sản nghiệp phá sản… Các kết quả

Trang 21

nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ vai trò, ý nghĩa của QTVtrong thủ tục phá sản DN, HTX Tuy nhiên, khi đặt dưới góc độ tiếp cận của luận án

là địa vị pháp lý của QTV thì vai trò của QTV không có sự trùng khớp với mục đích

và ý nghĩa quy định pháp luật về địa vị pháp lý của QTV Do đó, tác giả xác địnhđây là nội dung quan trọng số ba trong phần nghiên cứu về lý luận mà luận án phảilàm rõ

- Nghiên cứu các cấu thành địa vị pháp lý của QTV Đây là nội dung chỉ xuấthiện trong các nghiên cứu về địa vị pháp lý của QTV Tuy nhiên, các nghiên cứutrong nước hiện nay chưa có công trình nào tiếp cận dưới góc độ này Do đó, chủyếu các kết quả chỉ ra những quyền và nghĩa vụ của QTV trong thủ tục phá sản.Những quyền và nghĩa vụ này gắn liền với bản chất và vai trò của QTV, do đó gópphần làm sáng tỏ những đặc trưng pháp lý của chế định này Tuy nhiên, một lần nữa,cách tiếp cận này không có sự trùng khớp với địa vị pháp lý của QTV Do đó, cấuthành địa vị pháp lý của QTV là khoảng trống nghiên cứu thứ tư và cũng là nộidung quan trọng nhất trong phần nghiên cứu về lý luận của luận án

1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề thực tiễn liên quan đến đề tài luận án

Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến thực tiễn địa vị pháp lý của QTV baogồm các tác giả tiêu biểu như: tác giả Dương Kim Thế Nguyên (2016) với nghiên

cứu ―Khái niệm phá sản, thủ t c phá sản v những liên hệ đ n Luật Phá sản năm

2014‖; tác giả Đào Hải Lâm (2015) với nghiên cứu ―Quản l t i sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ theo pháp luật phá sản hiện h nh‖; tác giả Trần

Danh Phú (2017) với nghiên cứu ―Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình

giải quy t phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014‖; tác giả Nguyễn Thị ích Tuyền (2015) với nghiên cứu ―So sánh những đi m

m i của Luật Phá sản năm 2014 v i Luật phá sản trư c đó‖; tác giả Cao Đăng Vinh

(2014) với nghiên cứu ― ảo to n t i sản doanh nghiệp trong quá tr nh giải quy t thủ

t c phá sản - m t số t n tại c n kh c ph c‖; tác giả Vũ Huy Hoàng (2015) với nghiên

cứu ―Thủ t c phá sản theo Luật Phá sản năm 2014‖; Hoàng Thị Kim Anh (2014) với nghiên cứu ―Luật Phá sản 2004 - Những hạn ch , bất cập v giải pháp ho n

thiện‖; tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai (2014) với nghiên cứu ―Thủ t c

thanh l t i sản, các khoản nợ của doanh nghiệp lâm v o t nh trạng phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam‖; tác giả Quản Văn Minh (2016) với

Trang 22

nghiên cứu ―Thực tiễn v những vư ng m c của Quản t i viên trong quá tr nh h nh

nghề‖; Trương Thị Quỳnh Trâm (2019) với nghiên cứu ―Hoàn thiện các quy định của Luật Phá sản năm 2014‖; và tác giả Khúc Thị Phương Nhung (2020) với nghiên

cứu ―Ch định quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản theo pháp luật

phá sản Việt Nam hiện hành – M t số hạn ch , bất cập và ki n nghị hoàn thiện pháp luật‖ Các nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp

và quan sát khoa học đã làm rõ một số những nội dung quan trọng sau đây liên quanđến thực tiễn địa vị pháp lý của QTV:

Thứ nhất, nghiên cứu thực tiễn pháp luật về địa vị pháp lý QTV ở m t số quốc gia trên th gi i Một số nghiên cứu tập trung vào nội dung này như: tác giả Phan Thị

Thu Hà (2010) với nghiên cứu ―T m hi u pháp luật phá sản trên th gi i‖; tác giả Vũ Thị Hòa Như, Lê Ngọc Anh (2013) với nghiên cứu ―Pháp luật phá sản của m t số

quốc gia trên th gi i‖… Các nghiên cứu trên tập trung làm rõ các quy định của pháp

luật thực định về QTV ở một số quốc gia trên thế giới như: Anh; Hoa Kỳ;Singapore; Nhật Bản; Thái Lan… Kết quả nghiên cứu cho thấy, không có sự đồngnhất trong quy định về chế định QTV ở các quốc gia trên thế giới Tuỳ vào lịch sử,chính trị, quan điểm pháp lý… mà quy định của pháp luật các quốc gia về QTV làkhác nhau Sự khác nhau này bao gồm từ tên gọi, bản chất, quyền và nghĩa vụ, điềukiện hành nghề cho tới kinh phí được chi trả và các hậu quả pháp lý phải gánh chịu.Nội dung nghiên cứu này cơ bản đã được các công trình kể trên làm rõ, trở thànhnhững giá trị tham khảo lớn khi tìm hiểu, đánh giá quy định của pháp luật về QTV ởmột số quốc gia trên thế giới

Thứ hai, nghiên cứu thực tiễn pháp luật về địa vị pháp lý của QTV Đây là nội

dung nghiên cứu phổ biến nhất trong các nghiên cứu được liệt kê ở trên Với mụctiêu đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về QTV nói riêng và luật phá sản nóichung, các nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích các quy định pháp luật thực định

về QTV để chỉ ra những nội dung đã được pháp định, những nội dung chưa phápđịnh hoặc còn chồng chéo hoặc khó thực thi trên thực tế Theo đó, những nội dungđược các nghiên cứu làm rõ thực tiễn pháp luật quy định về QTV như sau:

- Điều kiện hành nghề QTV Đây là nội dung được khá nhiều nghiên cứu đềcập tới Bằng cách tiếp cận các quy định của pháp luật thực định về các điều kiệnhành nghề QTV, các nghiên cứu đã phân tích, đối chiếu và bình luận về các điềukiện này Theo đó, có một tranh luận xảy ra xung quanh việc ghi nhận điều kiện

Trang 23

hành nghề mang tính ―kiêm nhiệm‖ của QTV trong Luật Phá sản năm 2014 khiếnđịnh chế này thiết lập nên một nghề hay không phải là một nghề độc lập Đây là nộidung rất thú vị mà các nghiên cứu đã đặt ra, lý giải nhưng chưa có sự thống nhất.

- Quyền và nghĩa vụ của QTV Nội dung này đã được làm rõ ở các nghiên cứubằng cách phân tích từng quyền và nghĩa vụ của QTV Theo đó, các quyền và nghĩa

vụ cơ bản của QTV được chỉ ra gồm: quản lý tài sản; thanh lý tài sản; tổ chức Hộinghị chủ nợ; tham gia xây dựng phương án phục hồi DN, HTX… Mỗi quyền vànghĩa vụ này được đánh giá để cho thấy được sự đầy đủ hay thiếu sót của pháp luậthiện hành Các kết quả nghiên cứu này mặc dù chưa có sự toàn vẹn do góc độ tiếpcận khác nhau, tuy nhiên cũng đóng vai trò rất quan trọng khi cung cấp những giátrị học thuật mang tính tham khảo rất lớn cho luận án

- Mối quan hệ giữa QTV và các chủ thể pháp luật khác trong thủ tục phá sản.Hai nghiên cứu tiêu biểu cho nội dung này đến từ hai tác giả: Trần Danh Phú (2017)

với nghiên cứu ―Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải quy t phá sản

doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014‖ và tác giả

Đặng Văn Huy (2020) với nghiên cứu ―Đặc đi m pháp lý và các mối liên hệ cơ bản

của quản tài viên‖ Hai tác giả kể trên cùng với nghiên cứu của mình đã làm rõ mối liên

hệ giữa QTV với: toà án; chủ nợ; con nợ và sản nghiệp phá sản Các mối quan hệ này

đã được phân tích dựa trên sự ghi nhận của pháp luật về phá sản hiện hành Theo đó,mối quan hệ giữa QTV với toà án là mối quan hệ uỷ quyền – toà án uỷ quyền còn QTVnhận quyền; giữa chủ nợ với QTV là mối quan hệ đại diện – QTV đại diện các chủ nợ;giữa con nợ với QTV là mối quan hệ đại diện; giữa sản nghiệp

phá sản với QTV1 là mối quan hệ quản lý Kết quả nghiên cứu này cơ bản đã chothấy vị trí pháp lý của QTV so với các chủ thể pháp luật khác Tuy nhiên, vì góc tiếpcận đơn thuần là quy định của pháp luật về định chế này mà không phải phân tíchvới tư cách là một cấu thành quan trọng của địa vị pháp lý của QTV Đây cũng làmột trong những nội dung trọng tâm khi nghiên cứu thực tiễn quy định pháp luật vềđịa vị pháp lý của QTV trong luận án

- Trách nhiệm pháp lý của QTV Nội dung này xuất hiện trong các nghiên cứu

kể trên với một tiểu mục nhỏ hoặc một nội dung phụ khi phân tích quy định củapháp luật về QTV Do đó, việc phân tích chuyên sâu và có sự lý giải còn hạn chế

1Tác giả cho rằng đây không phải là mối quan hệ giữa quản tài viên với một chủ thể pháp luật Tuy nhiên, tác giả tôn

Trang 24

Chính vì thế, có thể xác định đây là một ―khoảng trống‖ nghiên cứu mà luận án cầnlàm rõ.

Thứ hai, nghiên cứu thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về QTV Đây là

nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung tại các luận văn thạc sĩ luật học của các tác giả

như: tác giả Đào Hải Lâm (2015) với nghiên cứu ―Quản l t i sản của doanh nghiệp

mất khả năng thanh toán nợ theo pháp luật phá sản hiện h nh‖; tác giả Trần Danh Phú

(2017) với ghiên cứu ―Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải quy t phá

sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014‖ và tác giả

Quách Thị Thu Hương (2015) với nghiên cứu ―Luật Phá sản năm 2014

-ư c phát tri n của pháp luật phá sản Việt Nam‖ ên cạnh đó còn được đề cập ở một

số báo cáo chuyên môn của Viện Kiểm sát về tổng kết giai đoạn 2015-2020 về thựchiện Luật Phá sản và của Bộ Tư pháp về quản lý nhà nước đối với QTV Theo

đó, những nội dung sau đây đã được làm rõ:

- Vấn đề thực tiễn đăng ký hành nghề của QTV đã được thống kê và phân tíchđược các kết quả này Nghiên cứu cho thấy số lượng QTV có tăng theo từng nămnhưng không đáng kể Các nghiên cứu cũng đã phân tích được nguyên nhân củahiện tượng này

- Vấn đề thực tiễn thực hiện trách nhiệm của QTV trong thủ tục phá sản Nộidung này chưa được các nghiên cứu kể trên chú trọng phân tích Do đó, các nghiêncứu chỉ mới làm rõ vấn đề ghi nhận của pháp luật về các hậu quả pháp lý mà QTVphải gánh chịu khi vi phạm pháp luật nên quá trình thực hiện trên thực tiễn gặpnhiều khó khăn

Như vậy, kết quả nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị pháp lýcủa QTV tuy được một số công trình đề cập, nhưng nhìn chung ở phạm vi trongnước số lượng nghiên cứu về vấn đề này còn chưa nhiều và chưa trực tiếp nghiêncứu vấn đề thực tiễn địa vị pháp lý của QTV Tác giả xác định đây là nội dung –

―khoảng trống‖ trọng tâm trong phần nghiên cứu thực trạng của luận án

1.2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề kiến nghị, giải pháp liên quan đến đề tài luận án

Song song với việc nghiên cứu thực trạng của QTV tại Việt Nam, các tác giảđược liệt kê ở trên cũng dành một phần lớn nội dung để nghiên cứu đề xuất giảipháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật về

Trang 25

QTV trong thủ tục phá sản ở Việt Nam Các nghiên cứu đã đề xuất được hai nhómgiải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV Các tác giả tiêu biểu cho nội dung này bao gồm: tác giả Dương Kim Thế

Nguyên (2016) với nghiên cứu ―Khái niệm phá sản, thủ t c phá sản v những liên

hệ đ n Luật Phá sản năm 2014‖; tác giả Nguyễn Thị ích Tuyền (2015) với nghiên

cứu ―So sánh những đi m m i của Luật Phá sản năm 2014 v i Luật phá sản trư c

đó‖; tác giả Cao Đăng Vinh (2014) với nghiên cứu ― ảo to n t i sản doanh nghiệp trong quá tr nh giải quy t thủ t c phá sản - m t số t n tại c n kh c ph c ‖; tác giả Vũ

Huy Hoàng (2015) với nghiên cứu ―Thủ t c phá sản theo Luật Phá sản năm 2014‖; tác giả Hoàng Thị Kim Anh (2014) với nghiên cứu ―Luật Phá sản 2004 - Những

hạn ch , bất cập v giải pháp ho n thiện”; tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai (2014) với

nghiên cứu ―Thủ t c thanh l t i sản, các khoản nợ của doanh nghiệp lâm v o t nh

trạng phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam‖; tác giả Quản Văn

Minh (2016) với nghiên cứu ―Thực tiễn v những vư ng m c của Quản

t i viên trong quá tr nh h nh nghề‖; tác giả Trương Thị Quỳnh Trâm (2019) với

nghiên cứu ―Hoàn thiện các quy định của Luật Phá sản năm 2014‖; tác giả Khúc Thị Phương Nhung (2020) với nghiên cứu ―Ch định quản tài viên, doanh nghiệp

quản lý, thanh lý tài sản theo pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành – M t số hạn ch , bất cập và ki n nghị hoàn thiện pháp luật‖… Đặc biệt, nghiên cứu sâu sắc nội dung

này có ba tác giả tiêu biểu sau: tác giả Đào Hải Lâm (2015) với nghiên cứu

―Quản l t i sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ theo pháp luật phá

sản hiện h nh‖; tác giả Trần Danh Phú (2017) với ghiên cứu ―Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải quy t phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014‖ và tác giả Quách Thị Thu Hương (2015) với

nghiên cứu ―Luật Phá sản năm 2014 - ư c phát tri n của pháp luật phá sản Việt

Nam‖ Các tác giả và nghiên cứu kể trên đã chỉ ra một số giải pháp hoàn thiện pháp

luật về QTV đáng chú ý sau:

- Hoàn thiện pháp luật về tiêu chuẩn hành nghề QTV Hầu hết các tác giả kểtrên đều đề xuất giải pháp này nhằm tạo ra một cơ chế chắc chắn hơn để xác lậpQTV là một nghề độc lập Rất nhiều ý tưởng được đề xuất như: xây dựng bộ tiêuchuẩn cụ thể cho người hành nghề QTV; xem nghề QTV là một nghề độc lập màkhông cần phải có điều kiện đang thực hiện các nghề nghiệp khác; bổ sung tiêu

Trang 26

chuẩn về đạo đức nghề nghiệp và đặc biệt là đề xuất hoàn thiện quy định về công bốthông tin của QTV.

- Hoàn thiện pháp luật về quy trình làm việc của QTV Các nghiên cứu cũng

đề xuất giải pháp về quy trình thực hiện công việc của QTV từ khi được chỉ địnhcho đến khi kết thúc thủ tục phá sản Quy trình này bao gồm quy định chi tiết quyền

và nghĩa vụ và thủ tục thực hiện quyền và nghĩa vụ đó Đáng chú ý, ở một số nghiêncứu cũng đã đề xuất giải pháp xây dựng cơ chế trao quyền nhiều hơn – tăng tính tựquyết cho QTV

-Hoàn thiện pháp luật về các tiêu chuẩn đánh giá QTV và cơ chế chỉ địnhQTV Đây là hai nội dung được một số bài viết đề cập tới để khắc phục tình trạngmâu thuẫn trong việc chỉ định QTV chưa được giải quyết Đồng thời để tạo cơ sởcho việc chỉ định QTV, cần có kết quả đánh giá QTV dựa trên một bảng tham chiếukhoa học

- Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của QTV Nội dung cuối cùngnày mặc dù không được phổ biến như ba nội dung còn lại, song cũng được đề xuấthoàn thiện nhằm làm cơ sở xem xét quy trách nhiệm cho QTV trong trường hợp chủthể này vi phạm pháp luật

Nhìn chung các giải pháp đề xuất hoàn thiện pháp luật về QTV mà các tác giả

kể trên đề xuất đã bao trùm cơ bản những vấn đề cần phải sửa đổi, hoàn thiện củapháp luật phá sản hiện hành về QTV Tuy nhiên, do cách thức tiếp cận của cácnghiên cứu trên không trực tiếp vào vấn đề địa vị pháp lý của QTV, do đó, các giảipháp hoàn thiện pháp luật không đi sâu và theo trình tự các cấu thành địa vị pháp lýcủa QTV

Thứ hai, nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của QTV Các tác giả tiêu biểu cho nội dung này gồm: tác giả

Đào Hải Lâm (2015) với nghiên cứu ―Quản l t i sản của doanh nghiệp mất khả năng

thanh toán nợ theo pháp luật phá sản hiện h nh‖; tác giả Trần Danh Phú (2017) với

ghiên cứu ―Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải quy t phá sản doanh

nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014‖ và tác giả

Quách Thị Thu Hương (2015) với nghiên cứu ―Luật Phá sản năm 2014 - ư c phát

tri n của pháp luật phá sản Việt Nam‖ Đây là ba tác giả với ba luận văn thạc sĩ

nghiên cứu về QTV Vì dưới quy mô của một luận văn, do đó, các tác giả có nhiềukhông gian học thuật hơn để trình bày về giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy

Trang 27

định của pháp luật phá sản hiện hành về QTV – thứ được ít nhắc tới hơn trong cácbài viết khoa học của các tác giả liệt kê ở phần đề xuất giải pháp hoàn thiện phápluật Trong ba nghiên cứu kể trên, tác giả Trần Danh Phú có những phân tích sâu sắcnhất về các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật phá sảnhiện hành về QTV Theo đó, các tác giả đã đề xuất được một số giải pháp sau:

- Đề xuất giải pháp phổ biến chính sách pháp luật về QTV Giải pháp nàyđược các tác giả đề xuất trên cơ sở cho rằng trên thực tiễn định chế QTV nói riêng

và pháp luật về phá sản nói chung không được xã hội biết đến nhiều Việc phổ biếnthông tin pháp lý về hai nội dung trên sẽ giúp nâng cao dân trí về pháp lý nói chung

và nâng cao nhận thức cũng như sự đón nhận của xã hội về QTV nói riêng

- Đề xuất giải pháp đảm bảo tiền thù lao cho QTV Đây là giải pháp phổ biếnnhất nhằm giải quyết vấn đề vướng mắc trong chi trả thù lao cho QTV Theo đó, đa

số đồng ý giải pháp ngay khi thanh lý tài sản để đảm bảo kinh phí thực hiện thủ tụcphá sản, QTV có quyền ước tính toàn bộ kinh phí cho mình khi giải quyết xong thủtục phá sản và cộng khoản kinh phí này vào trong tổng chi phí dự kiến cho thủ tụcphá sản để tiến hành bán đấu giá tài sản của DN Đây là một giải pháp tối ưu nhấthiện nay

- Đề xuất giải pháp phân công lại thẩm quyền của các bên tham gia thủ tục phásản theo hướng QTV được tự do chủ động áp dụng biện pháp khẩn cấp để bảo vệ tàisản khi thấy cần thiết

Tựu chung lại, các kết quả nghiên cứu kể trên đã làm sáng tỏ rất nhiều vấn đề

về giải pháp khắc phục các vướng mắc trong thực tiễn quy định pháp luật và thựchiện pháp luật về QTV Những kết quả đó ở nhiều khía cạnh khác nhau đóng vai trò

là tài liệu tham khảo có giá trị lớn đối với luận án Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đềliên quan đến giải pháp cần được tập trung nghiên cứu làm rõ

1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

1.3.1 Những kết quả nghiên cứu đã đạt được

Các nghiên cứu được thống kê ở trên cả phạm vi trong và ngoài nước đã đạtđược những kết quả sau:

Thứ nhất, các nghiên cứu đã l m rõ được những vấn đề lý luận về QTV dư i các góc đ ti p cận khác nhau Kết quả phân tích tình hình nghiên cứu cho thấy, các

công trình ở những cấp độ khác nhau trong và ngoài nước (đặc biệt là ngoài nước)

đã làm rõ những vấn đề lý luận quan trọng của QTV gồm: khái niệm, bản chất pháp

Trang 28

lý và cấu thành quyền và nghĩa vụ Các vấn đề lý luận này mặc dù không đồng nhất

do góc độ tiếp cận nghiên cứu khác nhau (chủ yếu dựa trên góc độ tiếp cận nghiêncứu luật thực định, mà mỗi quốc gia lại có sự ghi nhận khác nhau về QTV), songnhững kết quả nghiên cứu này đã làm sinh động, đa dạng nội dung lý luận về chếđịnh QTV

Thứ hai, các nghiên cứu đã l m rõ được những quy định của pháp lý hiện hành về QTV Theo đó, các nghiên cứu tuỳ vào phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu đã

làm rõ được các cơ sở pháp lý thực định về QTV ở dưới các góc độ nội dung: chỉ dẫnpháp lý; tên gọi; nội dung được điều chỉnh bởi pháp luật thực định của QTV (vấn đềtiêu chuẩn; quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm bất lợi) Mặc dù các nghiên cứu về thựctiễn pháp lý này có nội dung phụ thuộc chặt chẽ vào phạm vi thời gian và không giannghiên cứu nên thiếu tính đồng nhất trong kết quả công bố, tuy nhiên chính đặc điểmnày lại cung cấp những giá trị so sánh luật học hết sức quan trọng để cho thấy đượcquan điểm trong lập pháp của các quốc gia về vấn đề QTV

Thứ ba, các nghiên cứu đã phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về QTV Ở cả các nghiên cứu trong và ngoài nước kết quả đều

hướng tới việc phân tích và đánh giá thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật vềQTV Đây là kết quả đi liền sau sự phân tích quy định của pháp luật thực định vềchế định này Kết quả của các nghiên cứu cũng phụ thuộc hoàn toàn vào phạm vikhông gian và thời gian của nghiên cứu nên đã cung cấp một bức tranh sinh động vềcách thức thực hiện và kết quả thực hiện quy định của pháp luật về QTV ở các quốcgia và các thời kỳ khác nhau Kết quả đạt được giá trị nhất của vấn đề nghiên cứunày là những phân tích, đánh giá về ưu và nhược điểm, những mặt tích cực và tiêucực của thực trạng thực hiện pháp luật về QTV ở các quốc gia, các thời kỳ Kết quảnày cung cấp một bài học kinh nghiệm quý giá cho học giới về vấn đề QTV

Thứ tư, các nghiên cứu cũng đã đề xuất được các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về QTV Dựa trên kết quả nghiên cứu

thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về QTV, các nghiên cứu cũng đã đưa ranhững đề xuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật vềQTV ở những phạm vi lãnh thổ nhất định Các giải pháp này đều có giá trị áp dụng

ở những mức độ nhất định ở không gian nghiên cứu của các đề tài, đồng thời có ýnghĩa tham khảo quan trọng trong việc nghiên cứu giải pháp áp dụng cho các địabàn nghiên cứu khác

Trang 29

1.3.2 Những vấn đề đặt ra cần được luận án tiếp tục nghiên cứu

Bên cạnh các kết quả nghiên cứu đã đạt được như phân tích ở trên, tình hìnhnghiên cứu của đề tài ở cả phạm vi trong và ngoài nước còn có nhiều khoảng trốngnghiên cứu – đây được xác định là những nội diện nghiên cứu chính của Luận án.Trên cơ sở đó, có thể khẳng định những vấn đề đặt ra cần được luận án tiếp tụcnghiên cứu gồm:

Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của QTV trong điều kiện Việt Nam Các nghiên cứu được phân tích kể trên tiếp cận về QTV

dưới góc độ tư duy pháp lý thực định của mỗi quốc gia, do đó vấn đề lý luận vềQTV trong môi trường pháp lý Việt Nam chưa được xem xét một cách thấu đáo.Đặc biệt, địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật còn gắn liền chặt chẽ với tư duylập pháp của một quốc gia, việc xem xét những vấn đề lý luận về QTV trong điềukiện Việt Nam lại là vấn đề then chốt trong nghiên cứu của Luận án Theo đó, cácvấn đề lý luận cần được luận án tiếp tục làm rõ bao gồm:

- Xác lập khái niệm địa vị pháp lý của QTV với hai nội dung cơ bản: làm rõ

nội hàm khái niệm ―địa vị pháp lý‖ và khái niệm ―Quản tài viên‖ dưới góc độ tư

duy pháp lý của Việt Nam hiện hành

- Phân tích đặc điểm địa vị pháp lý của QTV thông qua việc chỉ ra những điểmkhác biệt mang tính nhận diện địa vị pháp lý của QTV so với các định chế mangtính pháp lý khác

- Làm rõ mục đích, ý nghĩa sự ghi nhận của pháp luật về địa vị pháp lý củaQTV Nội dung này cho thấy được tính tất yếu của ghi nhận pháp luật về địa vị pháp

lý của QTV

- Xây dựng và phân tích sâu sắc các cấu thành địa vị pháp lý của QTV Đây làphần nội dung nghiên cứu quan trọng nhất trong phần nghiên cứu những vấn đề lýluận về QTV mà đề tài luận án phải làm rõ Các cấu thành này sẽ giúp nhận diện vịtrí và vai trò pháp lý của QTV trong hệ thống pháp luật quốc gia

Thứ hai, nghiên cứu m t số trường hợp địa vị pháp lý của QTV ở các quốc gia trên th gi i v rút ra được những bài học, giá trị kinh nghiệm Nội dung này nhằm

cung cấp một góc nhìn so sánh luật học về địa vị pháp lý của QTV ở một số quốcgia trên thế giới Các quốc gia được luận án phân tích vừa có điều kiện tương đồng,nhưng cũng vừa hàm chứa những vấn đề khác biệt với Việt Nam nhằm góp phần đadạng góc nhìn về địa vị pháp lý của QTV Trên cơ sở phân tích các thực tiễn điển

Trang 30

hình đó, luận án sẽ chỉ ra được những giá trị mang tính tham khảo có thể có những ýnghĩa nhất định đối với Việt Nam.

Thứ ba, thống kê v phân tích quy định của pháp luật hiện hành về địa vị pháp

lý của QTV Luận án sẽ làm rõ những quy định của pháp luật hiện hành (bao gồm

Luật Phá sản và các văn bản liên quan) về địa vị pháp lý của QTV dựa trên cấuthành của nó đã được phân tích tại phần lý luận Đây là một trong hai nội dungtrọng điểm khi phân tích thực tiễn địa vị pháp lý của QTV Nội dung phân tích làm

rõ bao gồm khái lược bối cảnh hình thành và các nội dung được điều chỉnh bởi phápluật hiện hành về địa vị pháp lý của QTV Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp bức tranhthực tiễn pháp luật thực định về địa vị pháp lý của QTV ở Việt Nam hiện nay

Thứ tư, phân tích v đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về địa

vị pháp lý của QTV ở Việt Nam từ năm 2015 đ n năm 2020 Đây là nội dung nghiên

cứu trọng tâm thứ hai của phần thực trạng Phần nghiên cứu này cần được thực hiệndưới cả hai góc độ: xét về mặt tổng thể và xét các trường hợp chi tiết Trong đó, vềmặt tổng thể phải nghiên cứu bức tranh chung về sự hiện diện của QTV trong giảiquyết thủ tục phá sản của các DN, HTX ở Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2020.Xét các trường hợp chi tiết bằng cách dẫn chiếu và phân tích các trường hợp điểnhình thực hiện thủ tục phá sản có sự hiện diện của QTV Kết quả nghiên cứu chỉ rõđược những đánh giá về các kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc vànguyên nhân của nó

Thứ năm, nghiên cứu bối cảnh, đề xuất quan đi m và các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV ở Việt Nam Theo đó, nội dung này đặt ra ba vấn đề nghiên cứu lớn: phân tích bối

cảnh đề xuất giải pháp là làm rõ các vấn đề thuộc về bối cảnh trong và ngoài nướchiện nay; đề xuất các quan điểm về việc xây dựng các giải pháp Hiểu một cách đơngiản thì nội dung nghiên cứu này chính là làm rõ các nguyên tắc khi xây dựngnhững giải pháp; xây dựng và đề xuất các giải pháp nhằm vừa hoàn thiện pháp luậtvừa nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV ở Việt Namhiện nay

1.4 Lý thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên

cứu a Lý thuy t nghiên cứu

Tác giả xác định lý thuyết nghiên cứu của luận án là thuyết về sự uỷ quyền Theo

đó, xu hướng thu hẹp phạm vi quản lý của nhà nước để xác lập ―một nhà nước

Trang 31

gầy‖ và gia tăng sự tham gia của xã hội để xác lập ―một xã hội béo‖ đã được ra đờitại phương Tây từ những năm đầu thứ kỷ 19 và trở nên phổ biến trên phạm vi thếgiới hiện nay Cơ sở để xác định phạm vi quản lý nhà nước được dựa trên ba trụcnội dung sau:

Thứ nhất, nhà nước chỉ làm những gì xã hội không làm được Theo đó, những

gì nằm trong khả năng của xã hội thì nhà nước không nhất thiết phải tiến hành hoạtđộng quản lý mà để cho xã hội tự do điều tiết dựa trên những cơ chế tự nhiên và tựquản của nó

Thứ hai, nhà nước chỉ làm những gì xã hội không được làm Trên cơ sở liệt kê

những hoạt động tư nhân không thể làm nhằm tránh nguy cơ xâm hại đến trật tự và

an toàn của chính xã hội, nhà nước sẽ đảm nhiệm những công việc này

Thứ ba, nhà nước chỉ làm những gì xã hội không muốn làm Mặc dù được làm và

làm được, song những hoạt động không mang đến lợi ích cho họ thì xã hội sẽ khôngmuốn làm Nhà nước sẽ đảm nhận những việc này vì lợi ích chung của xã hội

Trên cơ sở ba trục nội dung xác định phạm vi hoạt động đó của nhà nước, cơchế được lựa chọn phổ biến để xác lập sự phân chia này chính là sự uỷ quyền Theo

đó, nhà nước sẽ sử dụng cơ chế uỷ quyền để uỷ thác cho xã hội thực hiện các hoạtđộng nằm ngoài ba trục nội dung kể trên, qua đó gia tăng sự tham gia của xã hội.Nghiên cứu về địa vị pháp lý của QTV dựa trên lý thuyết uỷ quyền sẽ cho thấybản chất của chế định này chính là một sản phẩm của cơ chế uỷ quyền QTV khôngthuộc về nhà nước, song được nhà nước (Toà án) uỷ quyền thực hiện các chức năng

về quản lý và thanh lý tài sản – vốn là một trong những nhiệm vụ của Toà án trongthủ tục phá sản DN, HTX

Bên cạnh đó, lý thuyết tự do trong kinh doanh; lý thuyết về bảo vệ chủ nợ và

lý thuyết về bảo vệ trật tự kinh tế, bảo vệ xã hội, … cũng được vận dụng vào nghiêncứu nhằm làm rõ các khía cạnh khác nhau về chủ đề của luận án Cụ thể:

- Lý thuyết bảo vệ chủ nợ: lý thuyết bảo vệ chủ nợ xoay quanh vấn đề bảo vệquyền của các chủ nợ Theo đó, chủ nợ là người cho một cá nhân, tổ chức khác vaymột món nợ bằng tiền hay hiện vật Chủ nợ là người có quyền trong quan hệ nghĩa

vụ dân sự, cụ thể là hợp đồng vay Khi đến kỳ hạn, chủ nợ có quyền đòi con nợ phảihoàn trả khoản tiền vay hoặc hiện vật vay, kèm theo lãi Đồng thời, khi con nợ lâmvào tình trạng mất khả năng thanh toán, chủ nợ phải được quyền thu hồi lại tài sản

đã cho nợ Dựa trên nguyên tắc ―chủ nợ nó quyền thu hồi tài sản; con nợ có nghĩa

Trang 32

vụ chi trả khoản nợ‖, luận án dựa trên lý thuyết nghiên cứu này nhằm cho thấy địa vịpháp lý của QTV với tư cách là một đại diện cho chủ nợ thực hiện các quyền trongthủ tục phá sản của các con nợ Do đó, bản chất địa vị pháp lý cũng như các nhiệm

vụ của QTV đều phản ánh sự đại diện nhằm mục tiêu bảo vệ quyền này của chủ nợ

- Lý thuyết bảo vệ trật tự kinh tế, bảo vệ xã hội: lý thuyết bảo vệ trật tự kinh

tế, bảo vệ xã hội hướng tới việc giải quyết các khoản nợ trong kinh doanh một cáchhợp lý và ổn thoả nhằm tránh mâu thuẫn dẫn đến đổ vỡ trong các mối quan hệ kinhdoanh Theo đó, việc giải quyết nợ giữa chủ nợ và con nợ - đang lâm vào tình trạngphá sản là một trong những nguyên cơ chủ đạo dẫn đến mâu thuẫn và tranh chấpgiữa các bên Số nợ càng lớn, số chủ nợ càng nhiều, mâu thuẫn càng phức tạp vàcàng gay gắt Để thu hồi được nợ, các chủ nợ luôn cố gắng đòi nợ theo nhiều biệnpháp khác nhau và luôn cố gắng để là người đòi được nợ trước các chủ nợ còn lại.Chính vì thế, nếu không được điều hoà, hoạt động thu hồi nợ của các chủ nợ sẽ xảy

ra tự phát, từ đó gây ra những xáo trộn, làm mất đi tính trật tự của kinh tế - xã hội,nhiều hành vi vi phạm pháp luật phát sinh và nhiều quan hệ pháp luật kéo theo bịxâm hại Trên cơ sở đó, lý thuyết này xác lập một cơ chế điều phối việc giải quyết

nợ chung của các chủ thể phá sản nhằm đảm bảo được trật tự kinh tế, bảo vệ xã hội.QTV là một trong những cơ chế của lý thuyết này

- Lý thuyết tự do trong kinh doanh: luận án tiếp cận nghiên cứu dựa trênthuyết tự do kinh doanh xoay quanh quyền được thành lập và chấm dứt hoạt độngcủa một chủ thể kinh doanh Theo đó, quyền tự do kinh doanh cho phép các chủ thểđược phép lựa chọn lĩnh vực, quy mô và các yếu tố khác để bắt đầu hoạt động kinhdoanh, sản xuất, đồng thời cũng cấp cho các chủ thể đó quyền được chấm dứt hoạtđộng kinh doanh, sản xuất theo đúng quy định của pháp luật Lý thuyết này là cơ sởcho lập luận của quyền phá sản - được pháp luật tuyên chấm dứt hoạt động sản xuất,kinh doanh, nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến phá sản, trong đó có vấn đềgiải quyết nợ chung

b Câu hỏi nghiên cứu và giả thuy t nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài luận án, tác giả đã đặt ra 03 câu hỏi nghiên cứu lớn với

07 câu hỏi nghiên cứu thành phần như sau:

Câu 1: Địa vị pháp lý của QTV là gì?

Các câu hỏi cụ thể cho câu hỏi nghiên cứu số 01 bao gồm:

Trang 33

Câu 1.1: QTV l g ? Địa vị pháp lý của QTV là gì?

Câu 1.2: Địa vị pháp lý của QTV được cấu thành bởi bao nhiêu n i dung?

Giả thuyết nghiên cứu cho các câu hỏi này là:

Địa vị pháp lý của QTV là tổng thể các đặc điểm về vị trí, vai trò; quyền vànghĩa vụ; trách nhiệm pháp lý và mối quan hệ giữa QTV với các chủ thể khác đượcpháp luật về phá sản ghi nhận và đảm bảo thực hiện trên thực tiễn Địa vị pháp lýcủa QTV bao gồm 04 thành phần: vị trí, vai trò; quyền và nghĩa vụ; trách nhiệmpháp lý và mối quan hệ giữa QTV với các chủ thể khác

Câu 2: Địa vị pháp lý của QTV được pháp luật phá sản Việt Nam quy định như thế nào và thể hiện ra sao trên thực tiễn?

Các câu hỏi cụ thể cho câu hỏi nghiên cứu số 02 bao gồm:

Câu 2.1: Địa vị pháp lý của QTV được quy định như th nào trong pháp luật phá sản Việt Nam?

Câu 2.2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV ở Việt Nam được thực hiện như th nào?

Giả thuyết nghiên cứu cho các câu hỏi này là:

Trên thực tế, pháp luật Việt Nam đã có ghi nhận tương đối chi tiết về địa vịpháp lý của QTV cũng như có những cơ chế đảm bảo thực thi địa vị pháp lý củaQTV Tuy nhiên, vì thực tiễn phá sản hết sức phức tạp, có nhiều sự kiện pháp lý diễn

ra khiến cho việc thực hiện địa vị pháp lý của QTV trên thực tế không được đảmbảo QTV còn rất khó khăn trong việc thực thi nhiệm vụ một cách suôn sẻ cũng nhưchưa có cơ chế giám sát cần thiết khi trao quyền cho QTV

Câu 3: Làm thế nào để nâng cao địa vị pháp lý của QTV trong thủ tục phá sản ở Việt Nam hiện nay?

Các câu hỏi cụ thể cho câu hỏi nghiên cứu số 03 bao gồm:

Câu 3.1: Bối cảnh đề xuất giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của QTV trong thủ t c phá sản ở Việt Nam như th nào?

Câu 3.2: Các nguyên t c xây dựng giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của QTV trong thủ t c phá sản ở Việt Nam là gì?

Câu 3.3: Các giải pháp c th nhằm nâng cao địa vị pháp lý của QTV trong thủ t

c phá sản ở Việt Nam là gì?

Trang 34

Giả thuyết nghiên cứu cho các câu hỏi này là:

Trên cơ sở giả thuyết về thực tiễn đó, tác giả đặt ra thêm giả thuyết rằng, muốnnâng cao địa vị pháp lý của QTV trên thực tiễn tất yếu phải rà soát và hoàn thiệnnhững quy định của pháp luật về phá sản nói chung và về QTV nói riêng Bên cạnh

đó, trên thực tiễn thực hiện cũng cần phải có sự chuẩn bị về tâm lý, nhận thức và kỹnăng của QTV cũng như các bên tham gia vào thủ tục phá sản

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Kết quả nghiên cứu Chương 1 cho thấy, vấn đề QTV là một chủ đề nghiên cứutương đối phổ biến trong khoa học pháp lý và kinh tế ở phạm vi nước ngoài Minhchứng cho điều đó là có một số lượng lớn các công trình khoa học về vấn đề này.Các nghiên cứu đã làm rõ rất nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn và giải pháp về QTV –

đó cũng là những giá trị kế thừa quý giá cho luận án Tuy nhiên, vì QTV là một chếđịnh pháp lý, do đó phụ thuộc hoàn toàn vào tư duy lập pháp của từng quốc gia Cácnghiên cứu được thực hiện ở những phạm vi nghiên cứu khác nhau cho ra nhữngsản phẩm nghiên cứu có tính khác biệt lớn Chính vì thế, sự đa dạng trong cách tiếpcận cung cấp phong phú những kiến thức cho tác giả khi thực hiện luận án, nhưnglại thiếu sự thống nhất về quan điểm Ngược lại, ở phạm vi trong nước, số lượng cácnghiên cứu về QTV chưa nhiều, vì định chế này mới chỉ được ghi nhận trong phápluật Việt Nam khoảng hơn 06 năm trước Bên cạnh đó, việc trực tiếp nghiên cứu địa

vị pháp lý của QTV chưa được các công trình tiếp cận mà chủ yếu xem xét quy địnhpháp luật thực định về QTV cũng đã dẫn tới xuất hiện nhiều ―khoảng trống‖nghiên cứu cho đề tài luận án Tác giả xác định, tất cả những kết quả nghiên cứu kểtrên, đặc biệt là các nghiên cứu ở phạm vi trong nước đều là nền tảng, đóng vai tròtham khảo rất quan trọng cho luận án Luận án sẽ tiếp tục kế thừa, phát huy nhữnggiá trị đã được đề xuất, tìm kiếm những giá trị khoa học mới để làm sáng tỏ thêmnhững vấn đề còn đang nhiều tranh cãi hoặc chưa được đề cập

Trang 35

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA QUẢN TÀI VIÊN

THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN

2.1 Khái niệm và đặc điểm địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản

2.1.1 Khái niệm địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản

Để làm rõ nội hàm khái niệm địa vị pháp lý của QTV theo pháp luật phá sản,trước hết cần phải thao tác hoá các khái niệm liên quan sau đây:

a Khái niệm địa vị pháp lý

Có rất nhiều cách quan niệm về địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật Theonghĩa hẹp nhất, địa vị pháp lý được xem là quyền và nghĩa vụ của một chủ thể pháp

lý được pháp luật ghi nhận Theo cách hiểu này, địa vị pháp lý được cấu thành bởihai vấn đề, gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của một chủ thể nào đó Mục đích củaviệc xác lập quyền và nghĩa vụ pháp lý của một chủ thể nhằm trả lời cho câu hỏichủ thể đó: được làm gì? không được làm gì? và phải làm gì?

Ở nghĩa hiểu rộng hơn, nhưng đồng thời cũng tường minh hơn, địa vị pháp lý

được hiểu là vị thế pháp lý của một chủ thể được pháp luật ghi nhận Vị thế nàykhông chỉ bao gồm: quyền, nghĩa vụ pháp lý mà còn cả trách nhiệm gánh chịu hậuquả của hành vi và mối quan hệ của nó với những chủ thể chung quanh trong mộttổng thể quan hệ pháp luật xác định Như vậy, ngoài trả lời cho ba câu hỏi như đốivới cách hiểu theo nghĩa hẹp, với cách tiếp cận này, các câu trả lời được sáng tỏthêm gồm: chủ thể là gì? chủ thể đó có mối quan hệ như thế nào với các chủ thểpháp luật khác và chủ thể đó phải gánh chịu những trách nhiệm pháp lý ra sao?

Hiểu theo nghĩa hẹp, hay nghĩa rộng tuỳ thuộc vào góc độ và mục đích tiếp cậncủa từng nghiên cứu Mỗi cách thức đều chứa đựng những giá trị luận giải nội hàm địa

vị pháp lý khác nhau Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý ngày nay, phổ biến nhất trongcác nghiên cứu, địa vị pháp lý được hiểu theo định nghĩa của Từ điển Luật học [4; tr.244] Theo đó, địa vị pháp lý được luận giải nguyên văn như sau:

“Địa vị pháp lý là vị trí của chủ th pháp luật trong mối quan hệ v i những chủ

th pháp luật khác trên cơ sở các quy định pháp luật.

Địa vị pháp lý của chủ th pháp luật th hiện thành m t tổng th các quyền và nghĩa v pháp lý của chủ th , qua đó xác lập cũng như gi i hạn khả năng của chủ th trong các hoạt đ ng của mình Ví d : địa vị pháp l cơ bản của công dân được

Trang 36

pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật.”

Từ định nghĩa này, có thể thấy nội hàm địa vị pháp lý của một chủ thể pháp

luật bao gồm các vấn đề sau:

Thứ nhất, địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật trước hết thể hiện vị trí và

vai trò của chủ thể đó trong các quan hệ pháp luật trước các chủ thể khác Bằng

những ghi nhận của pháp luật, địa vị pháp lý của một chủ thể trước hết cung cấp

tính nhận diện về chủ thể đó trong các mối quan hệ pháp luật xác định Khả năng

nhận diện này được cấu thành bởi hai vấn đề: chủ thể đó nằm ở đâu trong quan hệ

pháp luật và chủ thể đó đóng vai trò gì trong quan hệ pháp luật Điều này không chỉ

giúp nhận biết được bản thân vị trí và vai trò pháp lý của chủ thể mà còn là cơ sở để

phân biệt chủ thể này với các chủ thể khác

Thứ hai, địa vị pháp lý thể hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của một chủ thể

pháp luật Nếu như vị trí và vai trò của chủ thể pháp luật là biểu hiện bên ngoài của

địa vị pháp lý của một chủ thể thì quyền và nghĩa vụ pháp lý là nội dung địa vị pháp

lý của chủ thể đó Nói cách khác, quyền và nghĩa vụ giúp giới hạn phạm vi hoạt

động của chủ thể trong các mối quan hệ pháp luật xác định Quyền được xác định là

những khả năng thực hiện các hành vi pháp lý của chủ thể, từ đó có thể làm phát

sinh các nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể khác Ngược lại, nghĩa vụ là những bổn

phận của chủ thể phải thực hiện, từ đó có thể là cơ sở để đảm bảo quyền của các chủ

thể khác

Thứ ba, địa vị pháp lý thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể đó với các chủ thể

khác trong một quan hệ pháp luật Đây là một vấn đề được đảm bảo bởi hai vấn đề

trên Theo đó, vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ của chủ thể được thể hiện ra trong

một quan hệ pháp luật nhất định sẽ cho thấy mối quan hệ của chủ thể đó với các chủ

thể còn lại để cấu thành nên nội dung của quan hệ pháp luật đó Nói cách khác, địa

vị pháp lý của một chủ thể không chỉ cho thấy được vị trí, vai trò của chủ thể đó mà

còn cho thấy được mối quan hệ của chủ thể đó với các chủ thể còn lại

Trang 37

Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án, NCS thừa nhận khái niệm vềđịa vị pháp lý được trích dẫn từ Từ điển Luật học ở trên Theo đó, khái niệm địa vịpháp lý được NCS khái quát hoá trong luận án như sau:

Địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật là tổng thể các quyền - nghĩa vụ pháp lý thể hiện vị trí và vai trò pháp lý của một chủ thể trong các quan hệ pháp luật Từ đó làm cơ sở để nhận diện, phân biệt chủ thể pháp luật này với các chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng là cơ sở xác định giới hạn để chủ thể pháp luật đó thực hiện các hành vi pháp lý của mình.

b Khái niệm QTV

Trong hoạt động sản xuất, thương mại các chủ thể (cá nhân và tổ chức) cũngtuân theo quy luật thị trường Theo đó, hầu hết các chủ thể sản xuất, kinh doanhcũng có quá trình hình thành, phát triển và suy thoái Khi quá trình suy thoái đạt tớitrạng thái không thể chi trả các khoản chi phí và khoản vay đến hạn, chủ thể đó sẽhướng tới kết quả phải giải quyết các khoản nợ và chấm dứt sự tồn tại của mình Kếtquả này được gọi là phá sản

Bản chất của phá sản là hoạt động giải quyết nợ chung của con nợ - là chủ thểđang trong tình trạng phá sản Do đó, thủ tục phá sản ở hầu hết các quốc gia trên thếgiới được thực hiện thông qua con đường tố tụng tư pháp Theo đó, toà án sẽ đóngvai trò là trung gian phân phối khoản nợ chung phải trả dựa trên thanh lý số lượngtài sản còn lại của chủ thể đang lâm vào tình trạng phá sản Trong quá trình giảiquyết phá sản đó, Toà án sẽ uỷ quyền cho một chủ thể pháp lý đại diện quản lý vàthanh lý tài sản, đồng thời là trung gian thanh toán nợ chung cho các chủ nợ của con

nợ - chủ thể đang lâm vào tình trạng phá sản Chủ thể pháp lý đó có thể là tổ chứchoặc cá nhân với những tên gọi khác nhau tuỳ thuộc vào quy định pháp luật của cácquốc gia, như: là tổ chức có các tên gọi: Công ty quản lý nợ (Trung Quốc)[12];Công ty quản lý tài sản phá sản (Hàn Quốc)[12]; Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tàisản (Việt Nam); hoặc là cá nhân có các tên gọi: Quản trị viên (Trung Quốc, NhậtBản)[16]; Người quản lý tài sản (Hàn Quốc); Quản tài viên (Việt Nam)… Trongphạm vi nghiên cứu của luận án, chủ thể này là cá nhân và được sử dụng thống nhấtvới tên gọi Quản tài viên

QTV là một thiết chế pháp lý, chính vì thế địa vị pháp lý của QTV hoàn toànphụ thuộc vào sự ghi nhận của từng quốc gia khác nhau Đặc điểm này đã khiến choQTV không có những tên gọi và tính chất pháp lý thống nhất trên thế giới Tuy

Trang 38

nhiên, khi nghiên cứu về QTV nói chung có thể thấy dù ở nền pháp lý nào QTV vẫntồn tại một số vấn đề mang tính đồng quy như sau:

Thứ nhất, QTV là m t cá nhân Hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có

Việt Nam, chủ thể hành nghề này có cả thể nhân và pháp nhân Trong đó, khác vớiQTV là một cá nhân, pháp nhân hành nghề này ở các quốc gia khác nhau có nhữngtên gọi khác nhau Ở Việt Nam được gọi là Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.Điểm khác biệt lớn nhất giữa QTV và Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản chính

là tính chất pháp lý của hai chủ thể này Theo đó, QTV là một cá nhân tham giahành nghề quản lý, thanh lý tài sản nên không phải chịu sự chi phối của các điềukiện pháp lý về thành lập và hoạt động của một doanh nghiệp Bên cạnh đó, QTVkhi thực hiện nhiệm vụ chỉ nhân danh cá nhân người đó, do vậy trách nhiệm pháp lý

sẽ mang tính trực tiếp và tập trung Ngược lại, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tàisản có bản chất là một tổ chức kinh tế Do đó, sự thành lập và hoạt động của doanhnghiệp quản lý, thanh lý tài sản chịu sự điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệpbên cạnh sự điều chỉnh của luật phá sản và các văn bản pháp lý liên quan đến hoạtđộng quản lý, thanh lý tài sản

Pháp luật một số quốc gia có ghi nhận sự hiện diện của cả QTV và doanh nghiệpquản lý, thanh lý tài sản đều có những quy định để xác định trường hợp nào lựa chọnQTV và trường hợp nào chọn doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tham gia vào giảiquyết thủ tục phá sản Ví dụ ở trường hợp của Trung Quốc, Tòa án, dựa trên các điềukiện thực tế của một con nợ và sau khi tham khảo ý kiến của cơ quan trung gian có liênquan, sẽ chỉ định người có kiến thức chuyên môn cần thiết và có được trình độ hànhnghề để làm quản trị viên[16] Hoặc ở Hàn Quốc cũng có quy định về tiêu chuẩn quy

mô và tính chất phức tạp của vụ việc phá sản để quyết định chọn cá nhân hay tổ chứchành nghề quản lý tài sản[12] Tuy nhiên, trong môi trường pháp lý Việt Nam chưa quyđịnh chi tiết điều này, do đó quyền tự quyết trao về cho người có thẩm quyền chỉ địnhQTV – Toà án Đặc điểm này có thể thấy, giữa QTV và doanh nghiệp quản lý, thanh lýtài sản có thể thay thế cho nhau thực hiện thủ tục phá sản

Một số ít quốc gia ghi nhận nghề quản lý, thanh lý sản nghiệp phá sản bắt buộcphải là một thể nhân, ví dụ như ở Singapore QTV chỉ hành nghề với tư cách cá nhân

và do ACRA – cơ quan quản lý doanh nghiệp và kế toán phê duyệt [16]

Trong luận án này, từ ―viên‖ trong QTV là từ dùng để chỉ một cá nhân Từ nàycũng có hàm ý như trong các từ ―giáo viên‖; ―sinh viên‖; ―hoà giải viên‖; ―chấp

Trang 39

hành viên‖… Cá nhân này có thể là một cá nhân độc lập, nhưng cũng có thể là một

cá nhân thuộc một pháp nhân hành nghề quản lý, thanh lý sản nghiệp phá sản Trongphạm vi luận án, QTV được nhắc đến là các cá nhân, bao gồm cả hành nghề độc lậphay thuộc một pháp nhân cụ thể Về cơ bản, hai nhóm này không có sự khác nhau rõrệt về địa vị pháp lý trong thủ tục phá sản

Thứ hai, QTV hành nghề quản lý và thanh lý tài sản Bản thân từ ―quản‖ và

từ ―tài‖ trong tên gọi của chế định này là hai từ viết tắt của: ―quản lý‖ và ―tàisản‖ Từ đó có thể suy luận ra rằng, nghề nghiệp của QTV chính là quản lý tài sản.Tuy nhiên, tài sản được quản lý bởi QTV không phải là tài sản ở trạng thái bìnhthường (như quản lý tài sản gia đình hay quản lý tài sản tín thác) mà tài sản đượcquản lý bởi QTV là tài sản của con nợ - những cá nhân, tổ chức đang lâm vào tìnhtrạng phá sản và việc quản lý tài sản này nhằm phục vụ vào mục đích trả nợ cho cácchủ nợ Như vậy, đặc điểm thứ nhất không chỉ cho thấy QTV thực hiện nghề quản

lý tài sản mà còn cho thấy phạm vi hoạt động nghề nghiệp đó của QTV

Bên cạnh việc quản lý tài sản là sản nghiệp phá sản, QTV còn thực hiện cảhoạt động bán tài sản đó theo sự uỷ quyền của con nợ và sự cho phép của Toà án.Như đã trình bày ở trên, tài sản được QTV quản lý là sản nghiệp phá sản của con

nợ, mục tiêu cuối cùng của hoạt động quản lý chính là bảo vệ tính nguyên trạngthông qua việc ngăn chặn các hành vi tẩu tán và các biện pháp bảo vệ khác để tránhhao mòn hay sự tác động của tự nhiên Và nếu có thể, hoạt động quản lý tài sảncũng góp phần gia tăng giá trị tài sản trong quá trình thực hiện thủ tục phá sản.Trong khi đó, mục đích của sự quản lý này chính là giải quyết nợ chung một cách

ôn hoà và công bằng theo quy định của pháp luật cho các chủ nợ Để đạt được mụcđích đó, tài sản phải được hoá giá - quy về một giá trị nào đó mà thông thường làtiền, bằng hoạt động bán tài sản đó để tiến hành phân bổ nợ Chính vì thế, có thểnói, QTV thực hiện nghề quản lý tài sản và cả thanh lý tài sản là sản nghiệp phá sảncủa con nợ - chủ thể đang lâm vào tình trạng phá sản để thực hiện nghĩa vụ chi trả

nợ chung cho con nợ đó - đồng thời cũng là thu hồi nợ cho các chủ nợ

Thứ ba, QTV là m t thi t ch trung gian, có tính đ c lập tương đối QTV không

thực hiện nhiệm vụ mang tính tự thân Điều này dựa trên: (1) việc tham gia thủ tụcphá sản không xuất phát từ lợi ích của QTV; (2) khách thể quản lý – tài sản khôngphải là tài sản của chính QTV; (3) kết quả hoạt động nghề nghiệp không mang tínhthụ hưởng trực tiếp của QTV (1) cho thấy việc tham gia vào thủ tục phá

Trang 40

sản của QTV với tư cách là một trung gian – không có lợi ích trực tiếp đến hoạtđộng phá sản (2) cho thấy QTV là một thụ uỷ pháp lý được uỷ quyền thực hiệnquản lý, thanh lý tài sản của người khác Quyền và nghĩa vụ quản lý, thanh lý này vịthế là một quyền và nghĩa vụ được uỷ thác và có tính tạm thời (3) cho thấy QTVđược trả thù lao cho kết quả làm việc mà không phải thụ hưởng trực tiếp các kết quả

từ hoạt động phá sản

Với vai trò này, QTV tham gia vào hoạt động phá sản với hai nội dung nhiệm

vụ chính: (1) quản lý tài sản phá sản và (2) thanh lý tài sản phá sản Theo đó, (1)QTV sẽ được uỷ quyền thay mặt Toá án quản lý khối tài sản phá sản hiện có khi tiếnhành mở thủ tục phá sản cho con nợ Các tài sản này bao gồm cả tài sản hữu hình vàtài sản vô hình (tài sản hiện hữu và các phần tài sản bị chiếm dụng) Nhiệm vụ nàynhằm bảo toàn tài sản phá sản và có thể làm tăng trưởng tài sản này trong thời gianthực hiện thủ tục phá sản (2) QTV được thay mặt các chủ nợ thực hiện đấu giáthanh lý tài sản phá sản để có nguồn kinh phí giải quyết phá sản con nợ đồng thờitạo nguồn chi trả nợ chung cho các chủ nợ Bên cạnh đó, ngoài 02 nhiệm vụ nhưtrên, trên thực tế ở nhiều quốc gia, QTV còn thay mặt con nợ điều hành và vạch rađịnh hướng khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh của con nợ trong trường hợplựa chọn phục hồi thay vì tuyên bố phá sản (3) Từ những phân tích kể trên có thểthấy rằng, QTV hoàn toàn tham gia vào thủ tục phá sản với tư cách vừa đại diện choToà án, vừa đại diện cho chủ nợ và ở khía cạnh nào đó cũng là đại diện cho cả con

nợ QTV thực hiện các nhiệm vụ quản lý và thanh lý tài sản nhằm phục vụ phânphối nợ chung và giải quyết thủ tục phá sản một cách ôn hoà, đúng quy định củapháp luật và nhận tiền công cho nhiệm vụ đó Từ đó có thể kết luận rằng, QTV làmột thiết chế mang tính trung gian

Tuy nhiên, tính trung gian đó của QTV không được hiểu là một thiết chế hoàntoàn độc lập, càng không thể được hiểu là một ―người phán xử‖, mà cần được hiểuchính xác là một ―thụ uỷ pháp lý‖ - một người được pháp luật uỷ quyền nhằm thựchiện nhiệm vụ quản lý và thanh lý sản nghiệp phá sản Chính vì thế, trong quá trìnhhoạt động, QTV phải chịu sự giám sát và có nghĩa vụ báo cáo với các chủ thể thamgia thủ tục phá sản đó Cụ thể, trước hết QTV chịu sự giám sát và báo cáo Toà án -người đã lựa chọn, chỉ định một QTV tham gia vào một vụ việc phá sản cụ thể.Đồng thời, QTV cũng phải chịu trách nhiệm báo cáo trước các chủ thể giám sát từphía nhà nước liên quan đến hoạt động thanh lý sản nghiệp phá sản Tiếp theo, QTV

Ngày đăng: 25/03/2022, 07:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w